Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 16/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 16/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 23/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị H yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KV8-HP
Bn án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày 16/9/2025
“Tranh chấp chia tài sn, n chung
sau khi ly hôn”
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KV8-HP
- Thành phn hội đồng xét x sơ thẩm gm có:
Thm phán -Ch to phiên toà: Bà Vũ Thị H;
Các Hi thm nhân dân: Ông Đinh Ngọc P và bà Lê Th Thanh V.
- Thư phiên toà: Triu Th L - Thư Toà án nhân dân khu vực
8- thành ph Hi Phòng.
- Đại din Vin kim sát nhân dân khu vc 8, thành ph Hi Phòng
tham gia phiên toà: Bà Phm Th D- Kim sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân (viết tắt TAND)
KV8, thành phố HP, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý
số 178/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/3/2025 về “Tranh chấp chia tài sản chung,
nợ chung sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
16/2025/QĐXXST-KDTM ngày 07/8/2025, Thông báo về việc thay đổi thời
gian xét xử vụ án ngày 15/8/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị H, sinh năm 1990; CCCD số:
034190000472. i ĐKHKTT: A Q, phường H, thành phố Hải Phòng; Chỗ
hiện nay: 8 C, phường T, thành phố Hải Phòng (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Hồng S, sinh
năm 1984; CCCD số: 001084033047. Địa chỉ: Số B ngõ G H, phường T, Hà Nội
(có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1985; CCCD số:
030085010525. i ĐKHKTT: A Q, phường H, thành phố Hải Phòng; Chỗ
hiện nay: L, khu đô thị P cầu P, phường H, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chu Thanh N, sinh năm 1969; CCCD
số: 030069012170. Địa chỉ: Thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (V1); Địa chỉ: Số A T, phường
H, thành phố Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T-
2
Chủ tịch HĐQT; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Anh T1- Giám đốc V1
chi nhánh H2 (Theo Giấy ủy quyền số 1750/UQ-VCB-PC ngày 26/11/2024 của
Chủ tịch HĐQT); Người đại diện theo ủy quyền lại: Tiêu Thị Thanh C-
Trưởng phòng V1 ( Theo Giấy ủy quyền số 291/UQ-HDU-THĐ ngày 04/7/2024
của Giám đốc V1 chi nhánh H2); Địa chỉ: Phòng G chi nhánh H2; Số G đường
T, phường H, thành phố Hải Phòng (có mặt);
3.2. Ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1956; CCCD số: 030056001428. Nơi
trú: Thôn U, xã T, thành phố Hải Phòng. Chỗ hiện nay: Thôn V, N,
thành phố Hải Phòng (vắng mặt);
3.3. Nguyễn Thị C1, sinh năm 1963; CCCD số: 030163000208. Nơi
cư trú: Đường H kéo dài, khu A, phường T, thành phố Hải Phòng (vắng mặt);
3.4. Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1988; CCCD số: 042188019187. Nơi
cư trú: Thôn U, xã T, thành phố Hải Phòng (có mặt);
3.5. Tăng Thị T3, sinh năm 1962; CCCD số: 030162020836. Nơi
ĐKHKTT: Số B T, phường L, thành phố Hải Phòng; Chỗ hiện nay: L, khu đô
thị P cầu P, phường H, thành phố Hải Phòng (có mặt);
3.6. ChNguyễn Phương T4, sinh năm 1997; CCCD số: 030197002380.
Nơi trú: Số B T, phường L, thành phố Hải Phòng; Chỗ hiện nay: Số A N,
phường P, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Tăng Thị T3, sinh năm 1962. Nơi
ĐKHKTT: Số B T, phường L, thành phố Hải Png; Chỗ hiện nay: L, khu đô
thị P cầu P, phường H, thành phố Hải Phòng (có mặt).
3.7. Phạm Thị V, sinh năm 1961; CCCD: 034161001315..Nơi trú:
Thôn X, xã T, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Vũ Thị H- nguyên đơn (có mặt).
NI DUNG V ÁN:
* Theo đơn khởi kin, bn t khai của nguyên đơn ngƣời đại din
trình bày:
Ch H và anh Nguyn Việt Đ trước đây v chồng, đăng kết hôn vào
ngày 18/9/2014 sau đó ly hôn theo Quyết định công nhn thun tình ly hôn và s
tha thun của các đương sự vào ngày 25/7/2023. Trong thi k hôn nhân, ch H
anh Đ tài sn chung là thửa đất LK 01-04- KĐT phía Tây, cu P (nay
s A ngõ B đường D), khu C, phường N, thành ph H, din tích 85,3m
2
đưc
cấp GCNQSD đất mang tên ch H và anh Đ. Ngun gc tài sn này là ch H, anh
Đ nhn chuyển nhượng vào năm 2015 với giá 853.000.000đ, ngay sau đó xây
nhà 02 tầng 01 tum, đến đầu năm 2017 thì hoàn thiện xong, vi chi phí
1.130.000.000đ. Quá trình mua đt, xây nhà, Tăng Thị T3 (m đẻ anh Đ)
người đứng ra tìm mua đt, thuê th, mua vt liu xây nhà giúp ch H anh Đ.
3
Ngun tiền mua đất, xây nhà như sau: Ông Nguyn Kim B (bác rut anh Đ) cho
tặng 400.000.000đ gồm 300.000.000đ mua đất 100.000.000đ xây nhà.
Nguyn Th C1 (cô rut anh Đ) cho vay 500.000.000đ mua đt, không lãi
không giy vay. T3 đưa cho 500.000.000đ đ xây nV (m đẻ ch
H) cho vay 80.000.000đ hoàn thin nhà, không lãi tng cho 50.000.000đ
mng nhà mi. Còn li v chng b 53.000.000đ t tiền cưới đ mua đất, tin
tiết kim t thu nhập vay ngân hàng đ xây nhà. Đến nay, mi tr cho bà C1
được 50.000.000đ. Ông B đã cho tiền nhưng nay đòi li nên ch đồng ý tr
400.000.000đ.
Năm 2018, ch H anh Đ vay ca Ngân hàng TMCP B2 500.000.000đ
để đưa số tin này cho T3 s dụng, sau đó một mình ch H tr toàn b n.
Thời điểm y anh Đ không đi làm (02 năm), không thu nhập để cùng ch H
tr n. Ngun tin tr ngân hàng ch H vay bn và ca b m ch H, đến
nay đã trả hết n.
Ngoài ra, ch H và anh Đ có vay ca ch T2 100.000.000đ, thỏa thun thi
hạn vay 01 năm, nh t ngày 09/5/2022, lãi sut 5,5%/năm, đã trả đưc
5.500.000đ tiền lãi, còn tin gốc và lãi phát sinh chưa thanh toán, số tin vay này
ch đưa cho T3 s dng.
Năm 2022, chị H anh Đ vay ca ngân hàng V1 chi nhánh H2 s tin
700.000.000đ thế chấp nhà đất đứng tên của hai người. Ch H đã s dng s
tiền vay để chi phí sinh hoạt trong gia đình, tr tin sa cha nâng cấp nhà, đưa
cho anh Đ 100.000.000đ chơi tiền ảo đưa cho T3 s dụng 200.000.000đ.
Đến nay, khoản vay đã quá hạn, nợ tại ngân hàng tính đến ngày 31/7/2025 là
752.447.037đ (trong đó n gốc 695.734.123đ, lãi trong hạn 38.904.500đ, lãi
quá hạn: 17.808.414đ).
Nay, 300.000.000đ T3 vn quản lý, chưa trả nên ch H yêu cu bà T3
phi tr s tin này cho ch và anh Đ, tin lãi không yêu cu.
Ngoài ra, ch H anh Đ không còn n ai. Ch H không vay ca ch
Nguyễn Phương T4 (em gái anh Đ) s tiền 130.000.000đ nên không đng ý
cùng anh Đ tr n.
T3 công sức 02 năm trông nom khi xây nhà nên đng ý tr công
sc cho T3, theo mức lương tối thiu vùng ti thời điểm đó
3.980.000đ/tháng.
không thng nht chia tài sn n nên ch H đ ngh Tòa án gii
quyết: Xác định nhà, đất s A ngõ B đường D tài sn chung ca ch H
anh Đ. Đề ngh chia cho mỗi người ½ giá tr nhà, đất. Yêu cu bà T3 tr cho ch
H và anh Đ, mỗi người 150 triệu đồng. V n, ch H và anh Đ mỗi người có mt
na trách nhim, tr n cho Ngân hàng ngoại thương 748.158.267đ (trong đó n
4
gốc 695.734.123đ, lãi trong hạn 36.045.319đ, lãi quá hạn: 16.378.825đ), trả
cho C1 450.000.000đ, ông B 400.000.000đ, V 80.000.000đ, chị T2
100.000.000đ lãi. Do nhà đt anh Đ đang quản nên đ ngh giao toàn b
nhà đất cho anh Đ đưc qun s dng. Anh Đtrách nhim thanh toán toàn
b các khon n trên, tr công sc cho T3 tr cho ch H s tin mt là
1.072.000.000đ. Nếu anh Đ không đồng ý thì ch H xin nhn toàn b nhà đất, tr
toàn b n, công sc và tr cho anh Đ s tiền 1.072.000.000đ.
*Ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Việt Đ:
Khi kết hôn tháng 9/2024, anh và chị H thuê nhà trọ sống cùng với mẹ T3
và em gái Nguyễn Phương T4. Đến tháng 7/2015, anh nhận chuyển nhượng thửa
đất số A ngõ B đường D, khu C, phường N, thành phố H của ông Quang
N1 với giá 853.000.000đ. Sau đó xây dựng ngôi nhà 02 tầng 01 tum cho đến
đầu năm 2017 thì hoàn thiện xong, tổng chi phí xây dựng, hoàn thiện nhà là
1.130.000.000đ. Toàn bộ qtrình mua đất và xây nhà, anh T3 thực hiện,
chị H không tham gia. Vợ chồng không tiền tích lũy. Nguồn tiền mua đất
xây nhà, sửa nhà đều là của anh vay họ hàng bên gia đình anh, cụ thể:
- Vay của bác ruột ông Nguyễn Kim B 550.000.000đ vào ngày 13/7/2015
để mua đất, xây nhà; vay có lãi theo như giấy biên nhận vay tiền, anh ký giấy và
nhận tiền;
- Vay của cô ruột Nguyễn Kim C2 tổng 560.000.000đ, cụ thể ngày
13/7/2015 vay 500.000.000đ đmua đất; ngày 01/9/2019 vay 40.000.000đ để
mua sơn; ngày 01/8/2024 vay 20.000.000đ để sửa nhà; các khoản vay này đều
vay có lãi theo như các hợp đồng, anh ký giấy và nhận tiền;
- Vay của mT3 500.000.000đ để xây nhà;
- Vay của em ruột Nguyễn Phương T4 130.000.000đ trong đó
100.000.000đ đxây nhà, 30.000.000đ chí phí làm thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; vay có lãi theo như giấy biên nhận vay, anh giấy
nhận tiền;
- Vay của chị Hoàng Thị T2- con dâu của bác B stiền 100.000.000đ
vào ngày 09/5/2022, lãi theo như giấy biên nhận vay tiền, anh giấy chị
H nhận tiền.
- Vay của mđẻ chị H Phạm Thị V stiền 80.000.000đ để hoàn
thiện nhà, không có giấy vay và bà V cho tặng 50.000.000đ về nhà mới.
Tất cả các khoản vay trên đến nay đã trả cho chị T2 được 5.000.000đ tiền
lãi và trả cho bà T3 500.000.000đ tiền xây nhà, còn lại là vẫn đang nợ mọi người
thanh toán. Hiện anh vẫn còn nợ tiền điện nước 10.000.000đ, mái tôn
25.000.000đ khi nhà xuống cấp, chị H không ở cùng.
5
Đối vi khon n V1 mà ngân hàng đang yêu cu tr n, anh tha nhn
s dụng 200.000.000đ để đưa cho T3 tr n. Ch H đưa cho anh
100.000.000đ đ chơi tiền ảo nhưng không biết phi ngun tin t vay ngân
hàng không. Anh yêu cu ch H chng minh vic s dng s tin vay ngân hàng,
nếu dùng vào việc chung gia đình khi còn chung sng thì anh trách nhim,
còn nếu dùng vic riêng ca ch H thì mình Huế có trách nhim tr n.
Chị H yêu cầu bà T3 trả 300.000.000đ, quan điểm của anh T3
nhận 200.000.000đ nguồn tiền từ vay ngân hàng, còn 100 triệu đồng vay của chị
T2, anh không nhớ chị H đưa cho T3 sử dụng hay không nên đề nghị giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Nay, anh đề ngh xác định nhà đt không phi tài sn chung ca anh và
ch H, vì toàn b tiền mua đất xây nhà ca anh do vay của gia đình. Lý do ch
H đứng tên cùng trong giy chng nhn quyn s dụng đất là khi đó chị H là v.
Giao nhà đất cho anh qun s dng anh trách nhim tr toàn b n, tr
công sc cho T3 theo như bà T3 yêu cu và tr cho ch H s tin mt 300
triệu đồng coi như công sức ch H đóng góp nhà đất.
* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Tăng Thị T3 đồng thời người đại diện cho chị Nguyễn Phương
T4- người quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu cầu độc lập trình bày:
mđẻ của anh Nguyễn Việt Đ. Chị H anh Đ kết hôn chung sống với
nhau từ ngày 18/9/2014. Khi đó, gia đình khó khăn, bố anh Đ mất sớm, không
chỗ ở, thuê trọ nên được anh em ruột bên chồng hỗ trợ cho vay tiền để mua
đất, xây nhà cho bà, chị T4 vợ chồng Huế Đ1 chỗ ở. cùng Nguyễn
Thị C1 đi tìm mua được thửa đất ở LK 01-04- KĐT phía Tây, cầu P, nay là số A
ngõ B đường D, phường H, thành phố Hải Phòng, diện tích 85,3m
2
của ông
Quang N1, với giá là 853.000.000đ. Số tiền mua đất, Huế Đ không đóng góp mà
là vay của ông Nguyễn Kim B 300.000.000đ, vay của bà Nguyễn Thị C1
500.000.000đ bỏ ra 53.000.000đ. Vì Huế Đ1 vợ chồng nên gia đình để
cho chị H đứng tên cùng với anh Đ1 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ). Sau khi mua được đất, gia đình xây dựng nhà 02 tầng sửa
sang cải tạo đến năm 2017 mới xong. Toàn bộ quá trình xây dựng, lúc đó chị H
đang mang bầu và sinh con nên và anh Đ1 đứng ra xây dựng chi trả chi
phí. Tổng chi pxây dựng ngôi nhà là khoảng 01 tỷ đồng. Nguồn tiền xây nhà
bỏ ra 500.000.000đ vay của ông B 250.000.000đ, C1 60.000.000đ,
chị T4 130.000.000đ, bà V cho 50.000.000đ. Năm 2023, chị H không sống
cùng, ngôi nhà xuống cấp, anh Đ1 còn bỏ tiền ra để sửa sang lại đường điện
sửa chữa mái tôn. Sau khi ly hôn, chị H dọn chỗ khác, hiện nhà đất anh
Đ1 đang quản lý, sử dụng.
6
Năm 2018, do cần trả khoản vay nợ của Ngân hàng TMCP B2, nên
Huế Đ1 đã đứng ra vay số tiền 500.000.000đ đưa lại cho bà đtrả nợ. Đến
nay, khoản vay ngân hàng này, Huế Đ đã trả xong. Còn các khoản vay của
C1, ông B, chị T2, chị T4 là chưa trả.
Riêng khoản vay 130.000.000đ của chị T4, Huế Đ vay lần đầu
100.000.000đ vào ngày 13/7/2015 30.000.000đ vào ngày 30/11/2017, vay
lãi và anh Đ1 giấy vay. Nay, Huế Đ chưa trả nên chị T4 đơn yêu cầu giải
quyết đòi nợ ủy quyền cho tham gia tố tụng để giải quyế. Đề nghị Tòa án
buộc chị H, anh Đ1 trả tổng số tiền nợ 275.111.000đ, trong đó nợ gốc
130.000.000đ, còn lại là nợ lãi.
Nay, chị H khởi kiện yêu cầu chia đôi giá trị nhà đất, bà không đồng ý. Vì
không có bà và cô bác chị em ruột, họ của anh Đ1 cho vay tiền thì không có nhà
đất như hiện nay. Nếu là tài sản chung của Huế Đ thì Huế Đ1 phải cùng có trách
nhiệm trả toàn bộ c khoản nợ cho C1, ông B, chị T2 chị T4. Đối với số
tiền 500.000.000đ bà bỏ ra xây nhà thì coi như Huế Đ đã trả. Đối với stiền
53.000.000đ, đóng góp để mua đất, đề nghị Toà án xem xét công sức theo tỷ
lệ số tiền đóng góp, đồng thời trả tiền công sức trông nom xây dựng ngôi
nhà 2 năm, tương ứng với số tiền 240 triệu đồng (10 triệu đồng/tháng).
đồng ý trả 200.000.000đ cho Huế Đ1, còn 100.000.000đ vay của chị T2 đưa cho
bà là không đúng nên không có trách nhiệm.
2. Ch Nguyễn Phương T4 yêu cầu độc lp (em rut ca anh Đ1): Ch
đồng ý với quan điểm ca T3. S tin ch cho ch H anh Đ1 vay tng
130.000.000đ và giy vay. B ch anh Đ1 mt sm, tháng 7/2015, ch đỗ
Hc vin N4 nên được các chú bác, anh ch em trong gia đình nội ngoi
hai bên mng tiền để 1 khon tiết kim riêng cho chị, trong đó ông B đã
thưng cho ch 100.000.000đ trước s chng kiến ca c gia đình. Thấy ch H
anh Đ1 mua đt xây nhà không tin ch sng cùng anh ch nên đã s
dng s tiền 100.000.000đ ông B cho để cho ch H, anh Đ1 vay vào ngày
13/7/2015, sau đó đến ngày 30/11/2017 cho vay tiếp 30.000.000đ để làm th tc
cấp GCNQSDĐ. Nên chị làm đơn yêu cu ch H anh Đ1 trách nhim tr
toàn b gốc và lãi theo như giấy vay. Ngày 28/8/2025, ch thay đổi quan đim
yêu cu tr s tin gốc 130.000.000đ triệu đng, còn tin lãi không yêu cu, tính
vào công sc cho anh Đ1 để anh Đ1 được hưởng giá tr tài sản nhà đt nhiu
hơn.
3. Bà Nguyễn Thị C1 có yêu cầu độc lập (cô ruột của anh Đ1): Hoàn cảnh
gia đình của anh Đ1 như bà T3 trình bày. cho Huế Đ1 vay tổng số tiền
560.000.000đ để mua đất và hoàn thiện nhà. Cụ thể: hợp đồng vay tiền ngày
13/07/2015, vay 500.000.000đ để Huế Đ mua đất; hợp đồng vay tiền ngày
7
01/9/2019 vay 40.000.000đ đHuế Đ1 mua sơn nhà; hợp đồng vay tiền ngày
01/8/2023 vay 20.000.000đ để Huế Đ1 làm cửa nhà và lát vỉa hè. Hợp đồng vay
thỏa thuận thời hạn vay lãi suất cthể. Do Huế Đ1 vợ chồng nên chỉ
cần anh Đ1 giấy nhận tiền. Số tiền cho vay là tiền của bà, chồng ông
Phạm Văn T5 không biết và không liên quan. Nay chị H có yêu cầu chia nhà đất
khoản ncủa bà chưa trả nên khởi kiện yêu cầu chị H, anh Đ1 trả toàn bộ
tiền gốc 560.000.000đ tiền lãi theo hợp đồng. Ngày 06/8/2025, bà thay đổi
yêu cầu, chỉ yêu cầu trả tiền gốc, còn tiền lãi không yêu cầu nhưng tính vào công
sức đóng góp nhà đất cho anh Đ1.
4. Ông Nguyễn Kim B yêu cầu độc lập (là bác ruột của anh Đ1): Anh
Đ1, chị H chung sống nhà cửa không có, không nơi thờ cúng cho em trai
ông- tức bố đẻ anh Đ1. Nên ông cho Huế Đ1 vay 300.000.000đ để mua đất
250.000.000đ đlàm nhà, tổng 550.000.000đ theo như giấy biên nhận vay
tiền đề ngày 13/7/2015, vay có lãi. Vì chị H anh Đ1 là vợ chồng nên chỉ cần anh
Đ1 ký giấy và nhận tiền. Có sự việc ông cho chị T4 100.000.000đ khi đỗ đại học
sau đó chT4 đã cho chị H anh Đ1 vay stiền này. Chị H ngoại tình nên ly
hôn, nay lại khởi kiện chia nhà đất bản thân không ng sức đóng góp. Ông
khởi kiện yêu cầu chị H anh Đ1 trả số tiền gốc 550.000.000đ và tiền lãi theo hợp
đồng. Ngày 06/8/2025, ông thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu trả tiền gốc, còn tiền
lãi không yêu cầu nhưng nh vào công sức đóng góp nhà đất cho anh Đ1. Tiền
cho vay là tiền của ông, vợ ông thời điểm đó là bà Vũ Thị N2 không liên quan.
5. Chị Hoàng Thị T2 yêu cầu độc lập (chị dâu họ của anh Đ1): Vào
ngày 09/05/2022, anh Đ1, chị H vay của chị số tiền 100.000.000đ, thời hạn vay
01 năm, từ ngày 09/05/2022 đến ngày 09/05/2023, với lãi suất 5,5%/năm,
quá hạn phải trả lãi 15%/năm. Chị H người trực tiếp nhận tiền, còn giấy
biên nhận vay tiền thì anh Đ1 nhận. Khi vay, chị H bảo vay để trả nợ cho
Nguyễn Thị C1 ruột của Đ1. Nay, chị H mới trả được 5.500.000đ tiền lãi;
tiền gốc lãi còn lại chưa trả. Số tiền cho vay tiền riêng của chị, chồng
anh Nguyễn Kim B1 không biết và không liên quan. Nay, chị yêu cầu anh Đ1,
chị H phải trả tiền gốc là 100.000.000đ và tiền lãi quá hạn.
6. Bà Phạm Thị V (mẹ đẻ chị H): Vào năm 2015, Huế Đ xây nhà 2 tầng để
ở. Tháng 2/2016, Huế Đ về nhà mới, mừng số tiền 50.000.00đưa
tiền cho Tăng Thị T3. Do phần nội thất trong nhà chưa hoàn thiện thiếu
tiền nên khoảng tháng 4 năm 2016, cho chị H, anh Đ1 vay số tiền
80.000.000đ, không lãi khi nào tiền thì trả. Nay, chị H yêu cầu anh Đ1
cùng phải có trách nhiệm phải stiền 80.000.000đ, mỗi người một nửa, bà
đồng ý. Số tiền mừng nhà mới công sức bà phụ giúp 5 năm trông con, dọn
dẹp nhà cửa và làm nhà cho Huế Đ1, bà không yêu cầu.
8
7. Ngân hàng thương mại cổ phần N3 (V1) yêu cầu độc lập: Chị H
anh Đ1 vay vốn hạn mức và thế chấp tài sản nhà đất với V1 từ tháng 4/2022 cho
đến nay. Các bên không tranh chấp về hợp đồng vay hợp đồng thế chấp.
Khoản vay đã qhạn nên Ngân hàng yêu cầu chị H, anh Đ1 trả số tiền còn nợ
đến ngày 07/7/2025 tổng 748.158.267đ, trong đó nợ gốc 695.734.123đ, lãi
trong hạn 36.045.319đ, lãi quá hạn 16.378.824đ tiếp tục trả lãi phát sinh cho
đến khi trả hết nợ. Nếu không trả được nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu
quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là nhà đất ở địa chỉ số A ngõ B đường D,
khu C, phường H, thành phố Hải Phòng để thu hồi nợ.
Ti phiên tòa ngày 28/8/2025 tm ngng phiên tòa do nguyên đơn có yêu
cầu giám đnh tui mc ca các hợp đồng vay tin giy biên nhn tin ca
ông B, bà C1, ch T4 nhưng sau đó đã rút yêu cầu.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 16/9/2025:
- Nguyên đơn đi din của nguyên đơn xác nhận thời điểm mua đất
xây nhà, ngun tin chính t gia đình anh Đ1 đóng góp cho vay. Các
chng c hợp đng vay tin giy biên nhn vay tin do C1, ông B, ch
T4, ch T2 cung cp là chng c anh Đ1 cùng mọi người hp thc hóa v sau, vì
thc tế không có hợp đồng và giy biên nhn. Nay, ch H đề nghị, xác định nhà
đất là tài sn chung ca ch và anh Đ1, giao toàn b nhà đất cho anh Đ1 s dng,
anh Đ1 tr toàn b các khon n nhân ngân hàng, tr công sc cho T3
tr cho ch s tin mặt 1.088.326.481đ hoặc ngược li ch H nhn nhà đất và
tr n, tr ng sc, tr cho anh Đ1 s tin mặt 1.088.326.481đ. Yêu cầu T3
tr cho ch anh Đ1 mỗi người 150.000.000đ. Không chấp nhn khon n ca
ch T4;
- Đại din ca b đơn: Vẫn gi nguyên các ý kiến, quan điểm đã trình bày.
Không đồng ý vi yêu cu khi kin ca ngân hàng ch H, giy nhn n
(gii ngân) thời điểm ch H anh Đ1 đã ly hôn nên khon n hin nay ti
ngân hàng là n riêng ca ch H.
- Người quyn lợi nghĩa vụ liên quan ch T4, bà T3, ch T2 vn gi
nguyên yêu cu và các ý kiến đã trình bày. S tiền 100.000.000đ ông B tng cho
ch T4. Ch T4 cho anh Đ1 ch H vay là bác B giao tin cho anh Đ1 nhưng được
s đồng ý ca ch, nên ông B ký trong giy biên nhn vay tin với tư cách người
làm chng.
- Người quyn lợi nghĩa vụ liên quan V1 trình bày: Chị H anh Đ1
vay vốn theo hợp đồng tín dụng hạn mức. Quá trình thực hiện hợp đồng, chH
anh Đ1 cùng trả nợ, nhưng từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2024 anh Đ1
người trả tiền lãi. Đây khoản nợ chung của hai người nên ngân hàng yêu cầu
chị H anh Đ2 trả nợ, tạm tính đến ngày 16/9/2025 tổng n là:
9
760.509.930đ, trong đó nợ gốc 695.734.123đ, lãi trong hạn 3.287.671đ, lãi quá
hạn 61.488.136đ tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ, yêu cầu xử
lý tài sản thế chấp nếu khách hàng không trả được nợ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KV8-HPphát biểu quan điểm về việc
tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) các đương sự. Ý kiến về
giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Xác định nhà đất là tài sản chung của chị H và
anh Đ1 cùng với số tiền 300.000.000đ cho T3 vay. Xác định nợ chung gồm:
ông B 550.000.000đ, bà C1 560.000.000đ, chị T4 130.000.000đ, V
80.000.000đ, chị T2 gốc 100.000.000đ lãi, ngân hàng gốc lãi
760.509.930đ, chị H và anh Đ1 mỗi người ½ nghĩa vụ trả nợ. Trả công sức đóng
góp cho T3 5% giá trị nhà đất. Giao cho anh Đ1 được sử dụng toàn bộ nhà
đất, trả toàn bộ nợ chung và trả công sức cho bà T3. Anh Đ1 trả ½ giá trị nhà đất
cho chị H sau khi trừ đi các khoản nợ chung trả công sức cho T3. T3
trả cho anh Đ1, chị H mỗi người 150.000.000đ. Ngoài ra, đại diện VKS n đề
nghị giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu trong h vụ án, đưc thm tra ti
phiên tòa; căn cứ vào kết qu tranh tng ti phiên tòa, Hội đồng xét x nhn
định:
[1]. V t tng: Nguyên đơn khi kin b đơn về chia tài sn chung nhà
đất n chung sau khi ly hôn. Người quyn lợi nghĩa vụ liên quan (bà C1,
ông B, ch T2, ch T4, V1) yêu cầu độc lp v đòi tiền n phát sinh t hp
đồng vay tiền. Xét nơi trú ca b đơn quan h tranh chp v chia tài sn
chung, n chung sau khi ly hôn thuc thm quyn gii quyết ca TAND thành
ph Hải Dương, tnh Hải Dương (nay TAND khu vc 8, thành ph Hi
Phòng) là đúng quy định ca pháp lut.
Nguyn Th C1 ông Nguyn Kim B vng mt ti phiên tòa
đơn xin xét xử vng mặt nên HĐXX xét xử vng mt bà C1, ông B.
[2]. V yêu cu khi kin của nguyên đơn yêu cầu độc lập của
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2.1. Ch H Đ1 trước đây vợ chồng, đăng kết hôn vào ngày
18/9/2014 sau đó đã ly hôn theo Quyết định s 339/2023/QĐST-HNGĐ ngày
25/7/2023 công nhn thun tình ly hôn s tha thun của các đương s ca
Tòa án nhân dân thành ph Hải Dương. Nay, các đương sự tranh chp v chia tài
sản chung nhà đất và n chung sau khi ly hôn.
2.2. Xem xét các khoản vay của ông B, bà C1, chị T4 và bà V:
Các đương sự trong vụ án đều xác nhận nguồn gốc thửa đất số 162, tờ bản
10
đồ 64, diện tích 85,3m
2
, địa chỉ ở khu P cầu P, phường N, thành ph H, nay là s
A nB đường D, khu C, phưng H, thành ph Hi Phòng do nhận chuyển
nhượng vào tháng 7/2015 với giá 853.000.000đ, sau đó xây dựng ngôi nhà 02
tầng trên đất cho đến năm 2017 hoàn thiện xong, với chi phí 1.130.000.000đ,
tổng số tiền mua đất và xây nhà là 1.983.000.000đ. Nguồn tiền mua đất xây nhà
vay được tặng cho. Nhưng, các đương sự trình bày về số tiền vay và được
tặng cho để tạo lập nhà đất không phù hợp với nhau và có tranh chấp.
Thời điểm nhận chuyển nhượng đất và thanh toán tiền tháng 7/2015
ngay sau đó làm nhà, khi chị H và anh Đ1 mới kết hôn được gần 01 năm, chính
bản thân chị H cũng thừa nhận không kinh tế, nguồn tiền mua đất xây nhà chủ
yếu là tiền n gia đình anh Đ1 đóng góp cho vay. Tổng số tiền mọi người cho
vay đmua đất xây nhà theo như anh Đ1 trình bày bản phù hợp với tổng số
tiền thực tế mua đất, xây nhà chị H, anh Đ1 khai nhận. Số tiền vay mà anh
Đ1 nhận trong các giấy biên nhận vay tiền hợp đồng vay tiền của ông B,
C1 chị T4 đều phát sinh thời điểm mua đất, xây nhà, trong thời gian ch
H, anh Đ1 vợ chồng thực tế sdụng số tiền này để mua đất, xây nhà.
Nên căn cứ xác đất nhà đất được tạo lập từ số tiền vay của ông B, C1,
chị T4 V. Chị H rằng các hợp đồng cho vay giấy biên nhận tiền do
mình anh Đ1 vay với bà C1, ông B, chị T4 các bên lập nhận sau này
để tạo chứng cứ nhưng không có căn cứ chứng minh.
Thửa đất số 162 được cấp GCNQSDĐ mang tên chị H và anh Đ1. C1,
ông B, chị T4, V đều yêu cầu chị H anh Đ1 trả tiền vay đmua đất
làm nhà nên căn cứ xác định c khoản nợ phát sinh theo giấy vay tiền, hợp
đồng vay của ông B, C1, chị T4 khoản nợ của bà V nợ chung của chị H
anh Đ1. Nay, các đương sự chỉ yêu cầu trả tiền gốc, không yêu cầu trả
tiền lãi nên buộc chị H anh Đ1, mỗi người ½ nghĩa vụ trả nợ, trả cho C1
560.000.000đ, ông B 550.000.000đ, bà V 80.000.000đ, chị T4 130.000.000đ.
2.3. Chị H không xuất trình được căn cứ chứng minh đã trả cho bà C1
50.000.000đ tiền gốc, cũng nkhông xuất trình được tài liệu ông B tặng cho
tiền khi mua đất xây nhà nên không có căn cứ được chấp nhận.
2.4. GCNQSDĐ đứng tên chị H và anh Đ1, T3 cho rằng đã góp số tiền
53 triệu đồng khi mua đất nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh nên
không có căn cứ được chấp nhận.
2.5. Anh Đ1 không xuất trình được tài liệu chứng minh về nợ tiền điện
nước 10.000.000đ, lợp mái tôn 25.000.000đ nên Tòa án không có căn cứ để xem
xét giải quyết.
2.6. Đối với số tiền 500.000.00 T3 đưa cho chị H, anh Đ1 để xây
nhà, nay các đương sự đều xác nhận năm 2018, chị H và anh Đ1 đã trả đủ số
11
tiền này cho bà T3 và không có tranh chấp.
2.7. Như vậy, căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nvà các tài sản khác gắn liền với đất số CM052505, số vào sổ cấp GCN:
CH-00028 do UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 08/02/2018, tên
chủ sử dụng Nguyễn Việt Đ, Thị H nguồn tiền thanh toán tiền nhận
chuyển nhượng đất xây nhà trên đất nên căn cứ xác định thửa đất số 162
ngôi nhà 02 tng gn lin với đất là tài sn chung hp pháp ca ch H anh
Đ được trong thi k hôn nhân. Tài sản này chưa giải quyết khi ly hôn, nay
ch H có yêu cu chia tài sản nhà đất là có căn cứ.
2.8. Đối vi s tin vay ca ch T2, các đương s đều tha nhn vay
100.000.000đ, thi hạn 01 năm kể t ngày 09/05/2022, lãi sut trong hn
5,5%/tháng, lãi sut quá hạn 15%/năm đã trả được 5.500.000đ lãi trong
hn. Hợp đồng ghi lãi suất vay 5%/tháng là không đúng. Nay, gốc và lãi quá hn
chưa thanh toán. Đây là khoản n chung ca ch H, anh Đ nên buc ch H và anh
Đ tr cho ch T2 s tin gc 100.000.000đ tin lãi quá hn (t ngày
10/5/2023 cho đến ngày 16/9/2025/2025 tức 856 ngày x 15%/năm x
100.000.000đ) 35.178.082đ, tổng gốc, lãi 135.178.082đ, mỗi người ½
nghĩa vụ tr n.
2.9. Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng V1 anh Đ, chị H bắt đầu phát
sinh từ ngày 14/4/2022 thể hiện dưới các hợp đồng cho vay theo hạn mức, với
thời hạn duy trì hạn mức cho vay 12 tháng, kể từ ngày hợp đồng thời
hạn cho vay của mỗi lần nhận nợ là 05 tháng, kể từ ngày giải ngân được ghi
trên từng giấy nhận nợ. Anh Đ văn bản ủy quyền ngày 12/4/2022 và ngày
10/7/2023 cho chị H ký các hợp đồng tín dụng hạn mức. Theo đó, Hợp đồng cho
vay theo hạn mức số 22137/THĐ/NHNTHD ngày 14/4/2022 với 08 giấy nhận
nợ Hợp đồng cho vay theo hạn mức s 23222/THĐ/NHNTHD ngày
10/7/2023 với 04 giấy nhận nợ. Hiện chỉ còn nợ gốc là 700 triệu đồng theo 2
giấy nhận nsố 03 ngày 23/4/2024 giấy nhận nợ số 04 ngày 25/4/2024 đều
của hợp đồng tín dụng hạn mức số 23222. Để đảm bảo khoản vay, chH anh Đ
đồng ý thế chấp nhà đất đứng tên mình theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 22137/TC/THĐ/NHNTHD ngày 14/4/2022, được công chứng vào ngày
14/4/2022 tại Phòng công chứng Bùi n H1 và đăng giao dịch bảo đảm với
quan thẩm quyền Văn phòng đăng quyền sử dụng đất thành phố H
ngày 15/4/2022. Các hợp đồng tín dụng, thế chấp trên được các bên giao kết trên
sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên
có hiệu lực pháp luật.
Giấy nhận nợ 03 ngày 23/4/2024 giấy nhận nợ số 04 ngày 25/4/2024
do chị H nhận khi anh Đ và chị H không còn là nợ chồng nhưng đây là khoản
12
nợ phát sinh theo hợp đồng cho vay theo hạn mức số 23222/THĐ/NHNTHD
ngày 10/7/2023, là khoản tái tục của hợp đồng cho vay theo hạn mức số
22137/THĐ/NHNTHD ngày 14/4/2022. Anh Đ biết khoản nợ này, tài sản
chung vẫn đang thế chấp bảo đảm khoản vay và anh Đ vẫn trả lãi hàng tháng sau
khi vợ chồng ly hôn cho đến tháng 9/2024, không ý kiến. Hợp đồng tín dụng
ghi mục đích sử dụng tiền vay là kinh doanh thực phẩm chứng năng nhưng thực
tế khi được giải ngân năm 2022, chị H anh Đ đã sử dng 200 triệu đồng đưa
cho T3 100 triệu đồng anh Đ chơi tiền o (anh Đ đã thừa nhn), s tin
còn lại để hoàn thin, nâng cp, sa cha nhà, mua sm thiết b gia dụng, điện t
trang tri chi phí sinh hoạt gia đình, hiện s tiền này đã chi tiêu hết. Nên
căn cứ xác đnh khon n ti V1 n chung ca ch H anh Đ, mỗi người
trách nhiệm ½ nghĩa v. Nay, khoản vay đã quá hạn, ngân hàng yêu cu ch H
anh Đ ng nghĩa vụ tr n nên căn cứ buộc chH anh Đ nghĩa vụ
trả cho ngân hàng, tính đến ngày 16/9/2025 tổng nợ là: 760.509.930đ, trong
đó nợ gốc 695.734.123đ, lãi trong hạn 3.287.671đ, lãi quá hạn 61.488.136đ
tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ. Nếu không thực hiện được nghĩa
vụ trả nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế
chấp nhà đất để thu hồi nợ là phù hợp với quy định của pháp luật.
2.10. Chị H cho rằng chị vay của chị T2 100.000.000đ vào tháng 5/2022,
đến tháng 7/2022 đã đưa số tiền này cho T3 cùng với 200.000.00vay của
V1 đưa cho bà T3 để trả khoản nợ xấu của T3 ngân hàng B2 do T3
mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị P để thế chấp.
Phù hợp với bản tường trình của P gửi cho Tòa án nội dung xác nhận
T3 nhận 300.000.000đ của chị H để trả nợ ngân hàng. Do đó, căn cứ buộc
T3 trả cho anh Đ chị H, mỗi người số tiền 150.000.000đ. ChH anh Đ
không yêu cầu tiền lãi của số tiền này nên Toà án không xem xét giải quyết.
2.11. V chia tài sn chung, n chung và tr công sức đóng góp:
Nhà đất địa ch s A ngõ B đưng D tài sn chung ca ch H
anh Đ. Kết qu định giá tài sn: Gtr quyn s dụng đất trị giá 85,3m
2
x
37.000.000đ/m
2
= 3.156.100.000đ; nhà 02 tầng trị giá 603.600.000đ, tổng trị
giá nhà và đất là 3.759.700.000đ.
Các đương sự đều thừa nhận, bà T3 là người có công tìm kiếm thửa đất đ
nhận chuyển nhượng, trông nom khi xây nhà trong hai năm (từ tháng 7/2015 đến
tháng 7/2017). Căn cứ giá trị tài sản nhà đất công sức thực tế T3 cần trích
trả công sức cho T3 bằng 6% tổng giá trị đất và nhà, tương ứng với số tiền là
225.582.000đ.
Xét nhà đất được tạo lập chủ yếu từ nguồn tiền gia đình anh Đ cho vay và
nay C1, ông B, chị T4 không yêu cầu tiền lãi, yêu cầu tính vào công sức cho
13
anh Đ. Nên đảm bảo sự công bằng, tính công sức đóng góp của anh Đ nhiều hơn
chị H, theo đó anh Đ hưởng 60%, chị H 40 % trị giá nhà đất sau khi trừ đi các
khoản nợ chung và công sức đóng góp củaT3.
Hiện, nhà đất do anh Đ quản sử dụng cùng với mem gái, đang thế
chấp tại V1, công sức đóng góp để tạo lập nhà đất của anh Đ nhiều hơn chị H
nên cần giao toàn bộ nhà đất cho anh Đ quản lý, sử dụng. Anh Đ trách nhiệm
thanh toán toàn bộ các khoản nợ của ông B, C1, chị T4, V, chị T2 và V1;
trả công sức đóng góp cho T3 trả giá trị tài sản chung bằng tiền cho chị H
tương ứng % chH được hưởng.
[3]. Về án phí và chi phí tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự
thẩm có giá ngạch đối với phần tài sản mình được hưởng, nghĩa vụ trả nợ
và trả công sức. Bà T3 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng số tiền là 7.000.000đ,
nguyên đơn bị đơn mỗi bên chịu số tiền theo tỷ lệ phân chia tài sản chung,
theo đó bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 4.200.000đ.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 33, 37, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 116, 117,
292, 293, 295, 298, 299, 317, 319, 323, 463, 466, 468, 500, 501, 502 Bộ luật dân
sự năm 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147,
Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Ngh quyết s 01/2025/NQ-HĐTP ngày
27/6/2025 ca Hội đồng Thm phán Toà án nhân dân ti cao hướng dn áp dng
mt s quy đnh v tiếp nhn nhim v, thc hin thm quyn ca các Toà án
nhân dân; Ngh quyết s 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 ca U ban
thưng v Quc hi v thành lp Toà án nhân dân cp tnh, Toà án nhân dân khu
vực, quy định phm vi thm quyn theo lãnh th ca Toà án nhân dân cp tnh,
Toà án nhân dân khu vc; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015
của Quốc hội và Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn chị Thị H v chia
tài sn chung n chung. Chp nhn yêu cầu độc lp ca những người
quyn lợi nghĩa v liên quan ông Nguyn Kim B, Nguyn Th C1, ch
Nguyễn Phương T4 ch Hoàng Th T2 v đòi tin vay. Chp nhn yêu cu
độc lp ca Ngân ng thương mại cổ phần N3 v đòi tiền vay x tài sn
thế chp.
[2]. Xác định tài sản chung của chị Thị H anh Nguyễn Việt Đ là:
Thửa đất số 162, tờ bản đồ 64, diện tích 85,3m
2
, địa chỉ khu P cầu P, phưng
14
N, thành ph H( nay s A ngõ B đường D, khu C, phường H, thành ph Hi
Phòng) ngôi nhà 02 tng gn lin với đất, tng tr giá tài sn
3.759.700.00 (Ba tỷ bẩy trăm năm mươi chín triệu bẩy trăm nghìn đồng),
trong đó quyền sử dụng đất trị giá 3.156.100.000đ; nhà 02 tầng trị giá
603.600.000đ.
[3]. Giao cho anh Nguyễn Việt Đ được quyền quản lý, sử dụng và sở hữu
hợp pháp đối với toàn bộ tài sản nhà đất nêu ở mục [2] Quyết định này.
Anh Nguyễn Việt Đ được quyền liên hvới quan Nhà nước thẩm
quyền để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu
nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất.
[4]. Anh Nguyễn Việt Đ trách nhiệm trả toàn bộ nợ chung của chị
Thị H và anh Nguyễn Việt Đ cho những người sau:
- Trả cho chị Hoàng Thị T2 tổng số tiền 135.178.082đ (Một trăm ba mươi
năm triệu, một trăm bẩy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi hai đng), trong
đó 100.000.000đ tiền gốc và 35.178.082đ tiền lãi. Kể từ ngày 17/9/2025 cho đến
khi thi hành án xong, anh Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng vay tiền.
- Tr cho Ngân hàng thương mại cổ phần N3 nợ tính đến hết ngày
16/9/2025 là 760.509.930đ (Bẩy trăm sáu mươi triệu, năm trăm linh chín nghìn,
chín trăm ba mươi đồng), trong đó nợ gốc 695.734.123đ, lãi trong hạn
3.287.671đ, lãi quá hạn 61.488.136đ. Kể từ ngày 17/9/2025 cho đến khi thi hành
án xong, anh Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ.
- Trả cho ông Nguyễn Kim B số tiền 550.000.000đ (Năm trăm năm mươi
triệu đồng);
- Trả cho Nguyễn Thị C1 560.000.000đ (Năm trăm sáu mươi triệu
đồng);
- Trả cho chị Nguyễn Phương T4 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu
đồng);
- Trả cho bà Phạm Thị V 80.000.00(Tám mươi triệu đồng);
Tổng số tiền là: 2.215.688.012đ (Hai tỷ, hai trăm mươi năm triệu, sáu
trăm tám mươi tám nghìn, không trăm mười hai nghìn đồng).
[5]. Tăng Thị T3 trách nhiệm trả cho chị Thị H anh Nguyễn
Việt Đ, mỗi người số tiền là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng)
[6]. Anh Nguyễn Việt Đ trách nhiệm trả công sức đóng góp cho
Tăng Thị T3 số tiền 225.582.000đ (Hai trăm hai mươi năm triệu, năm trăm
tám mươi hai nghìn đồng).
[7]. Sau khi đối trừ nghĩa vụ trả nợ chung và trả công sức đóng góp cho bà
15
Tăng Thị T3, giá trị tài sản n đất chung của chị H anh Đ còn
1.318.429.988. Anh Nguyễn Việt Đ được hưởng 60% giá trị tài sản tương ứng
với stiền 791.057.992đ (Bẩy trăm chín mươi mốt triệu, không trăm năm mươi
bẩy nghìn, chín trăm chín mươi hai nghìn). Chị Thị H được hưởng 40% giá
trị tài sản tương ứng với số tiền 527.371.996đ (Năm trăm hai mươi bẩy triệu, ba
trăm bẩy mươi mốt nghìn, chín trăm chín mươi sáu đồng). Do anh Đ được sử
dụng toàn bộ nhà đất nên anh Đ trách nhiệm trả cho chị H số tiền
527.371.996đ (Năm trăm hai mươi bẩy triệu, ba trăm bẩy mươi mốt nghìn, chín
trăm chín mươi sáu đồng.
[8]. Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án
đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành số tiền trên thì
phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất
phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 357 khoản 2
Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[9]. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Đ không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán toàn bộ số tiền gốc, lãi cho V1 thì V1 quyền yêu cầu quan
Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi
nợ. Tài sản thế chấp là: Thửa đất số 162, tờ bản đồ 64, diện tích 85,3m
2
, địa chỉ
khu P cầu P, phường N, thành ph H (nay s A ngõ B đường D, khu C,
phưng H, thành ph Hi Phòng) và ngôi nhà 02 tng gn lin với đất, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà các tài sản khác gắn liền
với đất số CM052505, số vào sổ cấp GCN: CH-00028 do UBND thành phố H,
tỉnh Hải ơng cấp ngày 08/02/2018, tên chủ sử dụng Nguyễn Việt Đ
Thị H .
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử tài sản bảo đảm sau khi trừ đi c
chi phí hợp cho việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ
trả nợ của anh Đ chị H với V1. Số tiền thu được từ phát mại tài sản bảo đảm
không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bên nghĩa vvẫn phải nghĩa vụ trả
hết khoản nợ cho V1, số tiền còn thừa sẽ được trả lại cho anh Đ.
[10]. V án phí sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định ti ch:
- Ch Thị H phi chu án phí dân s 75.969.749đ, được đối tr vào
s tin np tm ứng án phí 8.950.000đ, 22.062.000đ, 1.000.000đ, 4.130.000đ
lần lượt theo biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa án s 0001222, s 0001223
đều ngày 18/3/2025 s 0001699, s 0001700 đều ngày 17/7/2025 ca Chi
cc Thi hành án dân s thành ph Hải Dương, tỉnh Hải Dương (nay của
Phòng Thi hành án dân s khu vc 8-Hi Phòng). Ch H n phi np s tin
39.827.749đ (Ba mươi chín triệu, tám trăm hai mươi bẩy nghìn, bẩy trăm bốn
mươi chín đồng).
16
- Anh Nguyn Việt Đ phi chu án phí dân s 86.517.00(T6 mươi
sáu triệu, năm trăm mười bẩy nghìn, không trăm linh chín đồng).
- Bà Tăng Thị T3 đưc min án phí dân s sơ thẩm.
- Tr li tin tm ng án phí cho ch Nguyễn Phương T4 s tin
6.877.000đ (sáu triệu, tám trăm bẩy mười bẩy nghìn đồng) tm ng án phí, theo
biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa án s 0003415 ngày 16/6/2025; Tr li
tin tm ng án phí cho ch Hoàng Th T2 s tiền 3.386.000đ (Ba triệu ba trăm
tám mươi sáu nghìn đồng), theo biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa án s
0003378 ngày 03/6/2025; Tr li cho V1 s tiền 16.966.000đ (Mười sáu triu
chín trăm sáu mươi sáu nghìn đng) theo biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa
án s 0000013 ngày 18/7/2025 ca Chi cc Thi hành án dân s thành ph Hi
Dương, tỉnh Hải Dương (nay là ca Phòng Thi hành án dân s khu vc 8-Hi
Phòng).
- Anh Nguyn Việt Đ tr cho ch Thị H chi phí xem xét thẩm định ti
ch và định giá tài sản là 4.200.000đ (Bn triệu hai trăm nghìn đồng).
[11]. V quyền kháng cáo: Nguyên đơn, b đơn, người quyn lợi nghĩa vụ
liên quan đưc quyn kháng cáo bn án trong thi hn 15 ngày k t ngày tuyên
án đối với người mặt, người vng mt k t ngày nhận được bn án hoc
ngày niêm yết bản án theo quy định ca pháp lut.
Trường hp quyết định được thi hành theo quy định tại Điu 2 Lut thi
hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân
s quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi
hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 7A 9
Lut thi hành án dân s; thi hiu yêu cu thi hành án dân s đưc thc hin
theo quy định ti Điều 30 Lut thi hành án dân s./.
Nơi nhận:
- VKSND KV 8, TP. HP;
- Phòng THADS KV 8, TP. HP;
- Các đương sự;
- Lưu VP;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tophiên toà
Vũ Thị H
17
Tải về
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất