Bản án số 29/2026/HNGĐ-ST ngày 27/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 29/2026/HNGĐ-ST ngày 27/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 29/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/03/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – VĨNH LONG
Bản án số: 29/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 27-03-2026
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trang Thị Cẩm Nhuần.
Ông Thạch Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Huỳnh Thị Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 Vĩnh Long tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Vĩnh
Long xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 327/2025/TLST-HNGĐ,
ngày 11 tháng 12 năm 2025, về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm
2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Ngọc Yến, sinh năm 1989; (có đơn xin xét xử
vắng mặt)
Số căn cước: 084189012611; Nơi thường trú: Ấp 3, Tân Hòa, tỉnh Vĩnh
Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Trẳn, sinh năm 1988; (vắng mặt).
Nơi thường trú: Ấp Trà Mẹt, xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2025 trong quá trình tham gia tố tụng
nguyên đơn chị Trịnh Thị Ngọc Yến trình bày có nội dung:
2
Vào năm 2015, chị Yến xác lập quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Văn
Trn, có đăng ký kết hôn tại Uban nhân dân xã Thông Hòa, huyện Cầu Kè, tỉnh
Trà Vinh (nay là xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long) o ngày 23/10/2015.
Trong quá trình chung sống có một con chung là Nguyễn Huy Hoàng, sinh
ngày 06/9/2016, hiện đang sống chung với chị Yến. Khi ly hôn chị yêu cầu được
quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Huy Hoàng không
yêu cầu anh Trn cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng sống chung với nhau không hạnh
phúc, không tiếng nói chung, trong cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu
thuẫn, không thể nào giải quyết cũng như hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng
thường hay cự cãi, sống chung với nhau không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống
ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh Trẳn
nên yêu cầu được ly hôn.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn Trẳn vắng mặt không có lời trình bày.
Đối với bị đơn anh Trẳn đã được Tòa án thông báo về việc thụ vụ án;
triệu tập hợp lệ nhưng anh Trẳn không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, ng khai chứng cứ hòa giải; không tham dự phiên tòa xét xử, nên
Tòa án không lấy lời khai của bị đơn được và bị đơn cũng không nộp cho Tòa án
các tài liệu, chứng cứ để phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị
Yến.
- Cháu Nguyễn Huy Hoàng có bản tự khai trình bày ý kiến: hiện nay cháu
đang sống chung với mẹ là chị Trịnh Thị Ngọc Yến, sau khi cha mẹ ly hôn cháu
có nguyện vọng được sống với mẹ Trịnh Thị Ngọc Yến.
vậy Tòa án không kết luận được những vấn đề các đương sđã thống
nhất và không thống nhất.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử
và T đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định
của Bluật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện
đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự,
riêng bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩmm nay.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị Ngọc Yến được ly hôn
với anh Nguyễn Văn Trẳn; V con chung: Giao con chung Nguyễn Huy Hoàng,
sinh ngày 06/9/2016 cho chị Yến tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn;
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Yến không yêu cầu anh Trẳn phải cấp dưỡng nuôi
con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; Về tài sản
chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem
3
xét, giải quyết. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trịnh Thị Ngọc Yến đơn yêu cầu giải
quyết, xét xử vắng mặt đúng theo quy định, bị đơn anh Nguyễn Văn Trẳn đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng
xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Yến xác lập quan hệ hôn nhân với anh Trẳn
đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thông Hòa, huyện Cầu Kè, tỉnh
Trà Vinh (nay Ủy ban nhân dân xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long) o ngày
23/10/2015 đúng theo quy định của pháp luật, cho nên hôn nhân của anh, chị
hợp pháp.
[3] Theo chị Yến trình bày thì trong thời gian sinh sống vợ chồng phát sinh
mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng sống chung với nhau không hạnh
phúc, không tiếng nói chung, trong cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu
thuẫn, vợ chồng thường hay cự cãi, sống chung với nhau không còn hạnh phúc.
Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ
chồng không còn quan tâm, lo lắng đến nhau. Chị và anh Trẳn đã sống ly thân từ
năm 2022 cho đến nay mỗi người sống một nơi mạnh ai nấy sống không ai quan
tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Trẳn đến giải quyết vụ án nhưng anh
Trẳn cố tình vắng mặt không có lý do, đáng lẽ ra anh muốn hàn gắn tình cảm với
chị Yến thì khi Tòa án triệu tập thì anh phải có mặt để trình bày nguyện vọng của
mình để Tòa án xem xét, nhưng ngược lại anh bỏ mặc, không quan tâm đến việc
giải quyết vụ án thể hiện ý chí của anh xem thường, không chấp hành yêu cầu của
Tòa án cũng như không quan tâm đến việc hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này với
chị Yến. Do đó Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định hôn nhân của chị Yến, anh
Trẳn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Yến yêu cầu giải quyết cho chị
được ly hôn là căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Cháu Nguyễn Huy Hoàng, sinh ngày 06/9/2016 hiện do
chị Yến đang nuôi dưỡng. Để đảm bảo cháu Huy Hoàng tiếp tục phát triển vmọi
mặt cũng không m xáo trộn cuộc sống của cháu Huy Hoàng, Hội đồng xét
xử nghĩ nên giao cháu Huy Hoàng cho chị Yến được quyền trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc cũng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Huy Hoàng.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Yến là người trực tiếp nuôi con nhưng
không yêu cầu anh Trẳn cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra
xem xét giải quyết. Khi nào chị Yến yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án
khác.
4
[6] Về tài sản chung: Chị Yến khai không , đối với anh Trẳn thì không
có ý kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về nợ chung: Chị Yến khai không có, đối với anh Trẳn thì không có ý
kiến gì phản đối, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp có căn cứ, nên Hội đồng
xét xử chấp nhận toàn bộ.
[9] Về án phí: Chị Yến phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật. Anh Trẳn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 273 và 280 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 84 của Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bsung một số điều của Bluật
tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật pháp người chưa thành niên, luật
phá sản luật hgiải, đối thoại tại Toà án. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày
16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 27
của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trịnh Thị Ngọc Yến.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị Ngọc Yến được ly hôn với anh
Nguyễn Văn Trẳn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huy Hoàng, sinh ngày 06/9/2016 cho
chị Trịnh Thị Ngọc Yến được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly
hôn.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con quyền, Trẳn vụ thăm nom
con không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc
thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các
thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc
thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trịnh Thị Ngọc Yến không có yêu cầu, nên
Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị Ngọc Yến khai không có, nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5
5. Về nợ chung: Chị Trịnh Thị Ngọc Yến khai không có, nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét giải quyết.
6. Về án phí: Chị Trnh Th Ngc Yến phải chịu 300.000 đồng án phí hôn
nhân gia đình thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011847, ngày 11/12/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Vĩnh Long; chị Yến đã nộp đủ án phí.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
ngày bản án được niêm yết công khai để xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 12 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 12 – Vĩnh Long;
- Ủy ban nhân dân Tam Ngãi (chứng
nhận kết hôn ngày 23/10/2015);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sơn Thị Hoa Lan
Tải về
Bản án số 29/2026/HNGĐ-ST Bản án số 29/2026/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 29/2026/HNGĐ-ST Bản án số 29/2026/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất