Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mỹ Xuyên (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 22/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/03/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊNH MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.
2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên
tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2024/TLST-HNGĐ
ngày 03 tháng 10 năm 2024; về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025;
Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Danh Thị Hng T, sinh ngày 17/01/2006;
Địa chỉ: Số 179/3, đường K, Phường O, thành phU, tỉnh Sóc Trăng. (có
đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Mai Thái B, sinh ngày 21/03/2002;
Địa chỉ: Ấp Q, xã E, huyện W, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG V ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn Danh Thị Hoàng T trình bày: Nguyên năm 2021, chị Danh Thị
Hoàng T với anh Mai Thái B xác lập quan hệ hôn nhân, tổ chức cưới hỏi theo
phong tục tập quán chung sống vợ chồng; đến năm 2024 đăng kết hôn
được UBND Phường O, thành phố U, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết
hôn số 10 ngày 07/02/2024. Trong quá trình chung sống anh chị có 01 con chung
cháu Mai Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022 (theo Giấy khai sinh số 31 ngày
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày 04 - 03 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chp nuôi con.
CỘNGA HI CHNGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
21/02/2024), hiện tại cháu Mai Quỳnh A chung sống với chị Danh Thị Hoàng T,
do chị Danh Thị Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng; chị Danh Thị Hoàng T anh
Mai Thái B không có tài sản chung, không có nợ chung cũng không người
khác nợ vợ chồng. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu
thuẫn, bất hòa trong cuộc sống và thường cải nhau nên đã không còn chung sống
vợ chồng từ năm 2024 cho đến nay.
Nay chị Danh Thị Hoàng T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng,
không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị Hoàng T xin được ly hôn với anh
Mai Thái B.
- Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Mai Quỳnh
A, sinh ngày 13/8/2022 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); chị Danh Thị Hoàng T
yêu cầu anh Mai Thái B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
- Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng: Không nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại Biên bản hoà giải ngày 21/10/2024 và trong quá trình giải quyết b
đơn Mai Thái B trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung, không tài sản
chung, không nợ chung và không có người khác nợ vợ chồng thống nhất như chị
Danh Thị Hoàng T trình bày. Trong thời gian chung sống vợ chồng có mâu thuẫn
nhưng không nhiều nên chị Danh Thị Hoàng T yêu cầu ly hôn thì anh Mai Thái
B không đồng ý; anh Mai Thái B yêu cầu được đoàn tụ với chị Danh Thị Hoàng
T. Vcon chung: Trong trường hợp Tòa án cho ly hôn tanh Mai Thái B yêu
cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu Mai Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022 đến
trưởng thành (tròn 18 tuổi) yêu cầu chị Danh Thị Hoàng T cấp dưỡng 1.000.000
đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng không nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn vắng mặt không ý kiến khác, n
được xem nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ chấp
hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành t
tụng người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn
xét xử thẩm, kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án đúng pháp luật. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính căn cứ
hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu đề
nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về ttụng:
3
[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Danh Thị Hoàng T yêu cầu Tòa án giải
quyết xin được ly hôn với bị đơn Mai Thái B; yêu cầu được tiếp tục nuôi con
chung là Mai Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi), yêu
cầu cấp dưỡng nuôi con. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ
luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Trong vụ án bị đơn Mai Thái B cư trú tại ấp Tắc Giồng, xã E, huyện W,
vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và không đương sự hoặc tài sản
nước ngoài hoạc cần ủy thác pháp. Do vậy, Toà án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc
Trăng thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn Danh Thị Hoàng T đơn đề nghị
xét xử vắng mặt; bị đơn Mai Thái B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
để tham gia phiên tòa sơ thẩm mà vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc
xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và
Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
[1] Nguyên đơn Danh Thị Hoàng T và bị đơn Mai Thái B kết hôn với nhau
là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được UBND Phường O, thành phố U,
tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 07/02/2024, nên quan h
hôn nhân gia chị Danh Thị Hoàng T với anh Mai Thái B hợp pháp. Sau khi
kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc và đã có con chung là Mai Quỳnh A, sinh
ngày 13/8/2022. Theo chị Danh Thị Hoàng T trong thời gian chung sống vợ chồng
phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất hòa trong cuộc sống thường cải nhau nên đã
không còn chung sống vợ chồng từ năm 2024 cho đến nay. Ngược lại, theo anh
Mai Thái B vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không nhiều, không trầm trọng.
[2] Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền
nhân thân trong hôn nhân gia đình nhân quyền kết hôn, ly hôn...;
nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của B
luật này, Luật hôn nhân và gia đình...” và theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014 t Vợ, chồng hoặc cả hai người quyền yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, chị Danh Thị Hoàng T hoặc chị Danh Thị
Hoàng T cùng với anh Mai Thái B quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn,
nên ngày 02/10/2024 chị Danh Thị Hoàng T tự mình gửi đơn khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Mai Thái B phù hợp theo quy định pháp
luật.
[3] Nguyên đơn Danh Thị Hoàng T bị đơn Mai Thái B đều xác nhận
trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất hòa nên đã không
còn chung sống vợ chồng tnăm 2024; theo nguyên đơn Danh Thị Hoàng T phát
sinh nhiều mâu thuẫn, bất hòa trong cuộc sống thường cải nhau đến mc không
còn chung sống vợ chồng; theo bị đơn Mai Thái B mâu thuẫn không nhiều, không
trầm trọng. Xét thấy, thời gian chung sống chị Danh Thị Hoàng T với anh Mai
4
Thái B phát sinh mâu thuẫn, bất hoà anh chị không còn chung sống vợ chồng
từ năm 2024 đến nay, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến mức trầm
trọng, làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, đời sống chung không
thể kéo dài mục đích của hôn nhân cũng không đạt được, tình cảm vợ chồng
thật sự đã hết về tương lai cũng không thể hàn gắn được, nếu duy trì quan hệ
hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các bên và đến việc nuôi
dạy con cái; nay chị Danh Thị Hoàng T cương quyết ly hôn vi anh Mai Thái B.
Do đó, theo chị Danh Thị Hoàng T yêu cầu xin được ly hôn với anh Mai Thái B
là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp.
[4] Về con chung, theo khoản 2 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau
khi ly hôn thì Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền
của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì
Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền li về
mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của
con. Con i 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp
người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”. Chị Danh
Thị Hoàng T anh Mai Thái B đều yêu cầu xin được nuôi con sau ly hôn. Xét
thấy, cháu Mai Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022, nh đến ngày xét xử thẩm dưới
36 tháng tuổi nên theo luật định được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp
người mẹ không đủ điều kiện đtrực tiếp nuôi con hoặc thỏa thuận giao con cho
ai trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Trên thực tế Mai
Quỳnh A từ khi sinh ra, cũng như từ khi ch Danh Thị Hoàng T và anh Mai Thái
B không còn chung sống thì chị Danh Thị Hoàng T là người trực tiếp nuôi dưỡng
cho đến nay, cháu Mai Quỳnh A hiện được chị Danh Thị Hoàng T nuôi dưỡng,
chăm sóc tốt, tình cảm gắn bó với chị Danh Thị Hoàng T, nếu giao con cho anh
Mai Thái B trực tiếp nuôi sẽ làm thay đổi môi trường sống, ảnh hưởng đến thể
chất, tinh thần (đi sống tâm sinh và tình cảm) cuộc sống bình thường của
cháu, hiện tại chị Danh Thị Hoàng T đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, sau khi ly
hôn tiếp tục giao cháu Mai Quỳnh A cho chị Danh Thị Hoàng T trực tiếp nuôi là
hợp tình, hợp lý căn cứ pháp luật. Do vậy, theo chị Danh Thị Hoàng T yêu
cầu xin được trực tiếp nuôi con sau ly hôn là cơ s nên Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con vừa quyền, vừa nghĩa vụ của cha, mẹ đối
với con (chưa thành niên, con đã thành niên không khả năng lao động không
có tài sản để tự nuôi mình); theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định về nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn Cha, mẹ không
trực tiếp nuôi con nghĩa vụ cấp ỡng cho connên chị Danh Thị Hoàng T
yêu cầu anh Mai Thái B sau khi ly hôn nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Mai
Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) là có cơ sở.
[6] Theo đơn khởi kiện, chị Danh Thị Hoàng T yêu cầu anh Mai Thái B cấp
dưỡng cho cháu Mai Quỳnh A mỗi tháng 3.000.000 đồng. Về mức cấp dưỡng,
5
theo khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Mức cấp
dưỡng do người nghĩa vụ cấp dưỡng người được cấp dưỡng hoặc người
giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người
nghĩa vụ cấp ỡng nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không
thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Đồng thời, theo khoản 2 Điều 7
Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng
không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp ỡng đang
trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Xét thấy, về mức cấp dưỡng các
bên không thoả thuận được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào thu nhập, khả năng
thực tế của anh Mai Thái B và nhu cầu thiết yếu của cháu Mai Quỳnh A để quyết
định cho phù hợp nhưng không được thấp n một nửa tháng lương tối thiểu vùng;
mức cấp dưỡng chị Danh Thị Hoàng T yêu cầu mỗi tháng 3.000.000 đồng; tại thời
điểm xét xử sơ thẩm huyện W thuộc vùng IV mức lương tối thiểu vùng theo
Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ mỗi tháng là
3.450.000 đồng. Tuy nhiên, anh Mai Thái B người vùng sâu, vùng dân tộc
thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn, lao động phổ thông, thu nhập thấp;
theo chị Danh Thị Hoàng T yêu cầu anh Mai Thái B cấp dưỡng nuôi con mỗi
tháng 3.000.000 đồng là không cao so với nhu cầu thiết yếu của cháu Mai Quỳnh
A nhưng quá khả năng thực tế của anh Mai Thái B. Do vậy, mức cấp dưỡng cần
buộc anh Mai Thái B trách nhim cấp dưỡng nuôi cháu Mai Quỳnh A mỗi
tháng 1.725.000 đồng (một nửa tháng lương tối thiểu vùng) là phù hợp với thu
nhập, khả năng thực tế của anh Mai Thái B, có tình, có lý và có căn cứ pháp luật.
V thi gian cấp dưỡng, tính t ngày tuyên án cho đến khi con chung đủ 18 tui.
[7] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại, chị Danh Thị Hoàng
T và anh Mai Thái B đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết,
nên Hội đồng xét xử không đặt ra xemt.
[8] Từ những phân tích nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi
kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[9] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là có cơ sở, nên được chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự thẩm, nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí hôn
nhân theo mức án phí không giá ngạch theo quy định tại khoản 3 Điều 147 Bộ
luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm a khoản 5, điểm a khoản
6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lệ phí Tòa án. Anh Mai Thái B phi chu án phí cấp dưỡng nuôi
con theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 132, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5,
điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gim, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Danh Thị Hoàng T.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Danh Thị
Hoàng T và anh Mai Thái B.
- Về con chung: Giao cháu Mai Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022 cho chị
Danh Thị Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Dành
quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Mai Thái B theo quy định pháp
luật, không ai có quyền ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Mai Thái B nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung là cháu Mai Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022 mỗi tháng
1.725.000 đồng; phương thức cấp dưỡng hàng tháng; thời gian cấp dưỡng tính từ
ngày tuyên án cho đến khi con chung là cháu Mai Quỳnh A, sinh ngày 13/8/2022
đủ 18 tuổi. Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng: Tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện W, tỉnh Sóc Trăng.
- Về tài sản chung, nợ chung người khác nợ lại: Không yêu cầu giải
quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
2. Về án phí hôn nhân thẩm: Chị Danh Thị Hoàng T phải chịu 75.000
đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo
Biên lai thu số 0004704 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện
W, tỉnh Sóc Trăng, chị Danh Thị Hoàng T được hoàn lại số tiền 225.000 đồng.
Anh Mai Thái B phải nộp án phí hôn nhân gia đình 75.000 đồng án phí cấp
dưỡng nuôi con 300.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện W,
tỉnh Sóc Trăng.
3. Báo c đương sự biết, án xử thẩm công khai quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên
tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi
cư trú) để xin Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc
thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự (sa đổi, bổ sung năm 2014, 2019 2022) thì người được
thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm
7
2014, 2019 và 2022), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2019 và 2022).
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Hùng Nuôi
Tải về
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất