Bản án số 21/2025/DS- ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2025/DS-

Tên Bản án: Bản án số 21/2025/DS- ngày 18/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 21/2025/DS-
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông N nhận chuyển nhượng từ ông Tr là đất trống, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD), đã thanh toán tiền. Sau khi nhận chuyển nhượng ngày 27-4-2011, ông N, bà T không sử dụng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
Bản án số: 21/2025/DS- ST.
Ngày: 18-9-2025.
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tuyên và ông Nguyễn Đình Liên.
- Thư phiên tòa: Thị Nhàn, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực
8 Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trọng Đạt Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 Lâm Đồng,
xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 196/2019/TLST-DS ngày 29 tháng 7
năm 2019, vviệc: Tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 14/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2025 Quyết định hoãn
phiên tòa số 28/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Huỳnh Công N, sinh năm 1970 – Có mặt.
Đa ch: Ấp D, Tổ M, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh (xã X, huyện H, Thành phố
Hồ Chí Minh ).
Bị đơn: Ông Hồ Công P, sinh năm 1976 Có mặt.
Địa chỉ: Tn N, T, tỉnh Lâm Đng (Tn V, N, huyn Đ, tỉnh Đắk Nông ).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Hng P: Luật sư Nguyễn
Văn U Văn phòng Luật T tỉnh m Đồng Đn Lut tỉnh Lâm Đồng mặt.
Địa chỉ: TDP A, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng (TDP A, phường N, thành phố G,
tỉnh Đắk Nông ).
Ngưi có quyn li, nghĩa vliên quan: Bà Bùi ThL T, sinh năm 1975 Có mt.
Đa ch: Ấp D, Tổ M, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh (xã X, huyện H, Thành phố
Hồ Chí Minh cũ).
Trần Thị Kim D, sinh năm 1979 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Tn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng (Tn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ).
Ông Nguyễn Văn Tr (Nhựt), sinh năm 1966 Vắng mặt.
Địa chỉ: Tn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng (Tn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ).
2
Ông Phạm Hồng T, sinh m 1978 và Phạm Thị L, sinh m 1967.
Địa chỉ: Tn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng (Tn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hồng T Phạm Thị L:
Nguyễn ThThanh H, sinh năm 1995 – Có mặt.
Địa chỉ: TDP B, phường Đ, tỉnh m Đồng (TDP B, phường N, thành phố G,
tỉnh Đắk ng ).
Ông Lê Quang M, sinh năm 1974 và bà Lê Thị Li, sinh năm 1985 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Tn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng (Tn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ).
Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Tn X, xã K, tỉnh Ninh Ninh (Tn X, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết ván, nguyên đơn ông Huỳnh
Công N trình bày:
Thông qua một người bạn giới thiệu, tôi và v Bùi Thị Lệ T biết ông
Nguyễn Văn Tr nhu cầu chuyển nhượng 01 thửa đất tọa lạc tại Thôn V, N,
huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ (Nay là Thôn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng).
Sau khi trao đổi, ông Tr nói cần chuyển nhượng 10m đất mặt đường QL 14
(gần trạm thu phí Đắk Song) với giá 30.000.000 đồng, tứ cận thửa đất như sau:
Phía Tây giáp QL 10 dài 10m;
Phía Đông giáp đất rẫy ông Tr dài 10m;
Phía Bắc đất ông Hồ Công P dài 80m;
Phía Nam giáp đất ông Bốn Từ (ông Nguyễn Thanh Từ, sau chuyển nhượng
cho ông Nhân, ông Nhân chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Nhung) dài 80m.
Ông Tr nói nguồn gốc đất từ nhận chuyển nhượng, không của ai, chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (Sau viết tắt GCNQSD). Chúng tôi đồng
ý nhận chuyển nhượng, thời điểm đó hai bên có cắm mốc ranh giới bằng cọc xi măng,
trên đất không có tài sản. Phía giáp đất ông Bốn Từ có cây sanh to làm ranh giới, hiện
không còn nhưng phía nhà ông Nhung (người nhận chuyển nhượng lại) đã xây nhà.
Ngày 27-4-2011, hai bên kết giấy sang nhượng đất, chúng tôi đã trả đủ tiền
cho ông Tr nhận đất. Ông Bốn Từ giáp ranh phần phía Nam giáp Bốn T
trong Giấy sang nhượng (chỉ ký, không ghi họ tên).
Sau khi nhận chuyển nhượng, năm 2015 2016 chúng tôi làm nhà thưng tôn,
sắt, diện ch (4x7)m nhưng sau này ai tháo dỡ không ; trên đất không trồng cây.
Cng i không m ng rào, có đổ trụ phía giáp đất ông Hồ Công P nng kng còn.
Chúng tôi chưa đăng khai cấp quyền sử dụng đất. Năm 2014-2015,
đoàn đo đạc về, chúng tôi ra chỉ đất, trên bản đồ địa chính đã thể hiện đất ông Huỳnh
Công N. Năm 2016, khi dựng nhà thì phát sinh tranh chấp với ông Hồ Công P. Trong
năm 2016, tiến hành hòa giải 03 lần nhưng không thành. Về thành phần hòa giải
3
cấp xã chưa đảm bảo theo quy định tại Nghị định 88/NĐ-CP và Luật Đất đai, cụ thể là
thiếu đại diện UBMTTQ xã, thôn trưởng người sinh sống lâu năm. Chúng tôi
không hiểu biết pháp luật, cấp xã làm sai thì đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục bổ
sung theo quy định của pháp luật.
Về việc sử dụng đất của ông Hồ Công P: Theo chúng tôi được biết, ông P nhận
chuyển nhượng 26m nhưng đất ông P sử dụng lệch về phía Bắc, do phía Bắc đất
ngắn không vuông vắn (phía sau bị hẹp) nên ông P không sử dụng đúng vị t
lấn sang đất của chúng tôi nhận chuyển nhượng từ ông Tr.
do chúng tôi nhận chuyển nhượng đất khi ông Tr chưa được cấp GCNQSD
do tin tưởng người giới thiệu. Ông Đào Văn T hiện vẫn còn địa phương, chúng
tôi chưa rõ địa chỉ cụ thể, sẽ cung cấp cho Tòa án sau. Ông Nguyễn Văn Tr hiện nay
đâu chúng tôi không biết.
Về việc sử dụng đất của hông Nhung: Chưa ông Nhung lấn đất của
chúng tôi không.
Chúng tôi nhận chuyển nhượng đất, đã trả tiền nhưng không đất để sử
dụng. Nay chúng tôi khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Công P trả
diện tích đất lấn chiếm. Do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Tr 10m
mặt đường QL 14, phía ông Từ nay ông Nhung sử dụng dài hơn 11m (chưa cụ thể,
chúng tôi trừ hao thành 02m), còn buộc ông Hồ Công P trả 8m đất lấn chiếm theo mặt
đường QL14, dài hết đất (do chưa rõ lộ giới).
Ý kiến bổ sung thêm: Qua được xem hồ sơ, chúng tôi thấy khi ông Quang
M nhận chuyển nhượng đất từ ông Tr, ghi phía Nam giáp đất ông Huỳnh Tấn
Đường (ông Đường người nhận chuyển nhượng đất từ ông Tr nhưng đặt cọc xong
không đủ tiền trả n ông Tr lấy lại đất đã chuyển nhượng phần đất ông Đường
cho chúng tôi). Như vậy, ràng từ đất ông P tới đất ông Từ (nay ông Nhung sử
dụng) còn 01 thửa đất đất của chúng tôi, chứ không như hiện tại giữa đất ông P s
dụng tới đất ông Nhung không còn thửa đất nào.
Bị đơn ông Hồ Công P trình bày:
Tôi Trần Thị Kim D là vchồng, đăng kết hôn năm 2007 tại UBND
Bình Long, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Hiện D đang sinh sống tại Thôn
V, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk ng (Nay Thôn 10, Trường Xuân, tỉnh Lâm
Đồng). Tôi và D có 02 con chung, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2009.
Tôi, D ông Huỳnh Công N, Bùi Thị Lệ T, ông Quang M, Thị Li,
ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Văn Tr không quan hthân thích. Tôi sinh sống
tại huyện Đắk Song từ năm 2000, vợ tôi chuyển vào sinh sống tại huyện Đắk Song
khoảng năm 2009-2010.
Nguồn gốc đất tranh chấp với ông Huỳnh Công N như sau:
Ngày 24-4-2007, ông Nguyễn Văn P nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn
Tr thửa đất mặt đường QL 14, diện tích (20x100)m, tọa lạc tại Thôn V, N, huyện
Đ, tỉnh Đắk Nông (gần trạm thu phí Đắk Song) với giá 21.500.000 đồng. Giấy
sang nhượng được viết tay, ông Nguyễn n Tr ký tên, không người làm
4
chứng, không có chứng thực ca chính quyền địa phương. Tứ cận (1):
Phía Đông giáp đất cô Sơn (Bình Định);
Phía Tây giáp QL 14;
Phía Nam giáp đất cô Sơn (Bình Định, đã bị gạch ngang);
Phía Bắc giáp đất cô Sơn (Bình Định);
Ngày 23-3-2008, ông Quang M, vThị Li nhận chuyển nhượng
từ ông Nguyễn Văn Tr thửa đất diện tích (6x80)m với giá 20.000.000 đồng. Giấy sang
nhượng đất ở viết tay, bên bán ông Nguyễn Văn Tr ký tên. Kng người làm chứng,
không có chng thực của chính quyền địa phương, tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn Tr;
Phía Tây giáp QL 14;
Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn P;
Phía Nam giáp đất ông Nguyễn Văn Tr.
Ngày 15-9-2008, ông Nguyễn Văn P chuyển nhượng thửa đất đã nhận chuyển
nhượng từ ông Nguyễn Văn Tr cho ông Quang M với giá 21.500.000 đồng. Thửa
đất diện tích (20x100)m, tứ cận như mục số (1). Giấy sang nhượng đất viết tay,
người bán Nguyễn Văn P tên, không người làm chứng, không xác nhận của
chính quyền địa phương, bản chính đã thất lạc.
Ngày 22-7-2009, ông Quang M vợ Thị Li chuyển nhượng toàn
bộ 02 thửa đất đã nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Văn Tr
cho tôi. Tổng diện tích đất tôi nhận chuyển nhượng từ ông M, Li (26x100)m.
Đất tọa lạc tại Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ, nay Thôn N, T, tỉnh
Lâm Đồng, tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn Tr;
Phía Tây giáp QL 14;
Phía Nam giáp đất ông Huỳnh Tấn Đường;
Phía Bắc giáp đất ông Dương Ngọc Hùng.
Giá tôi nhận chuyển nhượng 78.000.000 đồng. Tôi đã trả đủ tiền cho ông M,
Li nhận đất sử dụng từ ngày 22-7-2009. Giấy sang nhượng đất viết tay, được
các bên tên. Không người làm chứng, không xác nhận của chính quyền địa
phương.
Toàn bộ diện tích đất trên, thời điểm ông P, ông M, Li nhận chuyển nhượng
nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn Tr đang là rừng cảnh quan, chưa tách thửa, người
chuyển nhượng chưa được cấp GCNQSD. Hiện tại theo tôi được biết, một số hộ dân
sử dụng đất gần khu vực này đã được cấp GCNQSDĐ.
Sau khi nhận chuyển nhượng, năm 2009 tôi dựng 01 căn nhà gỗ, diện tích
(6x10)m, năm 2014 ông T đã dỡ n này, hàng năm phát cỏ. Tháng 3 năm 2012,
tôi thuê người đổ đất, tổng cộng 180 xe x 150.000 đồng/xe; san lấp đất 5 giờ, mỗi giờ
600.000 đồng. Bên cung cấp dịch vụ là ông Trịnh Ngọc H, địa chỉ tại Thôn 7, xã Đắk
5
N’Drung, huyện Đắk Song. Tôi đã trả tiền xong. Khi thuê hai bên hợp đồng đổ
đất san lấp mặt bằng. Tôi đổ đất san lấp mặt bằng trên toàn bộ trên diện tích
26m (gồm cả phần đất đang tranh chấp với ông N).
Tứ cận hiện tại thửa đất tôi nhận chuyển nhượng:
Phía Đông giáp ông Nguyễn Văn Tr đã chuyển nhượng cho ai tôi không rõ;
Phía Tây giáp QL 14;
Phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị Toại (lý do thay đổi chủ sử dụng không rõ);
Phía Bc gp đt ai không rõ (t trưc đến nay i chưa gp ông Dương Ngc Hùng).
Năm 2014, tôi ch ranh cho đoàn đo đạc tên vào kết quả đo đạc địa
chính thửa đất. thửa số 47, tờ bản đồ số 31, diện tích 1.688,4m
2
. Theo mặt đường
QL 14 chiều dài 8.57m + 19.83m (tổng cộng 28.4m), do thửa đất không
thẳng, tuy nhiên nếu kéo thước dây theo đường thẳng t02 mốc của thửa đất thì vẫn
dài 26m.
Tôi chưa đăng khai quyền sử dụng đất. Năm 2009, tôi đến xã Nâm
N’Jang nhưng cán bộ địa chính chủ tịch trả lời không thuộc diện được cấp
GCNQSDĐ nên không đăng ký được.
Năm 2014, tôi chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất đã nhận chuyển nhượng từ
ông M, Li cho ông Phạm Hồng T Phạm Thị L với giá 312.000.000 đồng. Do
ông T, bà L chưa trả đủ tiền nên năm 2015 tôi lấy lại 10m đất (phía Nam của thửa đất,
ghi trong giấy mua bán ngày 04-7-2014, chính là toàn bộ diện tích đất đang tranh
chấp với ông Huỳnh Công N). Ông T, L mới trả cho tôi được 170.000.000 đồng.
Tôi nói ông T, L trả lại cho tôi 10m đất vì chưa trả đủ tiền. Tuy nhiên, hiện tại
26m đất ông T, L đang quản lý, sử dụng đất chưa trả cho tôi. L nói khởi
kiện tôi nhưng đơn từ như thế nào tôi không biết.
Khoảng năm 2015, ông Huỳnh Công N làm nhà trên đất, ông T, L báo cho
tôi biết thì hai bên phát sinh tranh chấp. Ngày 21-01-2016, UBND Nâm N’Jang
mời lên làm việc, tháng 9 năm 2016 tiến hành hòa giải nhưng không thành nên ông N
khởi kiện. Sau đó ông N Thành phố Hồ Chí Minh không lên nên Tòa án đình chỉ
giải quyết vụ án. Tiếp đó năm 2019 ông N lại khởi kiện tôi.
Việc đo đạc, giải thửa thửa đất của ông N tôi không rõ.
Quan điểm của tôi đối với yêu cầu khởi kiện: Tôi cho rằng ông N khởi kiện tôi
không đúng, phải khởi kiện ông Tr mới đúng. ông Nguyễn Văn P, ông
Quang M nhận chuyển nhượng đất tông Tr; ông Tr chuyển nhượng cho ông P, ông
M đã hết đất nên năm 2011 ông Nguyễn Văn Tr không đất để chuyển nhượng
cho ông Huỳnh Công N. Theo tôi được biết, ông Tr 80m đất mặt đường đã bán
tổng cộng 90m. Tuy nhiên, tôi chỉ nghe nói không đầy đủ giấy tờ để chứng
minh, một số người nhận chuyển nhượng đã chuyển nhượng cho người khác n
không xác minh được. Ông Nguyễn Văn Tr ở đâu tôi không rõ.
Toàn bộ đất ông N khởi kiện thuộc quyền sử dụng của tôi nằm trong thửa
đất số 47, tờ bản đồ 31. Tôi sẽ làm đơn phản tố về phần đất đã đổ để trong trường hợp
6
Tòa án chấp nhận đơn của ông Huỳnh Công N thì ông N phải hoàn trả chi pđổ đất
cho tôi. Trường hợp đến khi Tòa án mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải tôi chưa nộp đơn phản tố thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L trình bày:
Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1978 là chồng tôi, chúng tôi chung sống với nhau
như vợ chồng từ năm 1998. Chúng tôi với các đương sự trong vụ án này không có
quan hệ thân thích. Năm 2008 gia đình tôi chuyển từ tỉnh Quảng Ngãi vào tỉnh Đắk
Nông sinh sống.
Trước đây, tôi ông T làm thuê cho ông Hồ Công P Trần Thị Kim D.
Năm 2012, ông P D nói 01 thửa đất tọa lạc tại Thôn V, N, huyện Đ, diện
tích 26m ngang mặt đường QL 14 (gần trạm thu phí Đắk Song hiện tại), hỏi chúng tôi
nhu cầu nhận chuyển nhượng không. Sau khi tôi, ông T, ông P D ra chỉ ranh
đất, chúng tôi đồng ý nhận chuyển nhượng với giá 312.000.000 đồng; diện tích
(26x70)m; tứ cận:
Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn Tr;
Phía Tây giáp QL 14;
Phía Nam giáp đất ông Huỳnh Tấn Đường;
Phía Bắc giáp đất ông Dương Ngọc Hùng.
Các bên đã chỉ ranh giới, ông P kéo dây đo, bán trụ bê tông và đóng cọc hai bên
đất. thời điểm đó không ai giáp ranh. Ông Nguyễn Văn Tr thấy chúng tôi sử dụng
đất, không ý kiến (ông Tr nay đâu tôi không rõ). Ông Đường với ông Hùng tôi
chưa gặp, không biết vì sao ông P lại ghi tên ông Đường với ông Hùng trong giấy
sang nhượng. Hiện tại phía Nam giáp đất ông Hùng, Kiều (không nhận chuyển
nhượng từ ai, năm nào, mới làm nhà năm 2023); phía Bắc giáp đất ông Nhung (ông
Chín Nhung nhận chuyển nhượng từ ai, năm nào không rõ, nhưng đã làm nhà
trước năm 2015).
Thời điểm chuyển nhượng chủ yếu đất trống, có 01 căn nhà gỗ nhỏ, đất
không bằng phẳng. Năm 2013, tôi thuê người (không nhớ tên do thời gian đã lâu) san
lấp mặt bằng, ông P thấy và hiện trạng sau san lấp như bây giờ. Sau khi nhận chuyển
nhượng, tôi trồng tiêu, trồng xen phê. Năm 2015, tôi dỡ nhà gỗ nhỏ, dựng căn nhà
gỗ diện tích (5x10)m để ở cho đến nay, cùng năm đã rào lưới B40 toàn b khu đất.
Năm 2012, tôi và ông T đã trả 247.770.000 đồng cho ông P D (tiền lẻ
do trả nhiều lần), hai bên lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng tôiông
T không được giữ bản chính. Năm 2015, tôi đến nhà ông P, D trả 64.230.000 đồng
còn lại nhưng ông P, D không nhận tiền. Ông P lắc đầu nói gikhông nhận tin nữa.
Khi nhận chuyển nhượng, do không hiểu biết nên tôi không yêu cầu ông P cung
cấp GCNQSDĐ. Ngày 04-7-2014, ông P gọi chúng tôi đến nhà, đã viết sẵn giấy sang
nhượng đất nói chúng tôi ký. Trong giấy ông P hẹn sẽ sang tên quyền sử dụng đất
cho tôi. Ông P sẽ giao GCNQSDĐ đứng tên tôi khi trả đủ tiền. Tuy nhiên, đến nay
7
ông P vẫn chưa làm GCNQSDĐ cho tôi. Thời điểm đo đạc toàn huyện, tôi ra chỉ
ranh, đứng tên thửa đất số 47, sau đó không rõ ông P nói gì với cán bộ địa chính, đoàn
đo đạc mà thửa đất số 47 lại đứng tên ông Hồ Công P và bà Trần Thị Kim D.
Do năm 2015, tôi tới nhà để trả tiền cho ông P, D nhưng ông bà không nhận
không làm GCNQSDĐ cho tôi; giấy sang nhượng đất bản chính ông P giữ nên tôi
làm đơn yêu cầu UBND Nâm N’Jang giải quyết: yêu cầu ông P đưa giấy chuyển
nhượng đất bản gốc cho tôi, tôi trả đủ tiền cho ông P để tôi tự làm GCNQSDĐ vì chờ
ông P quá lâu. Ngày 10-10-2016, UBND xã Nâm N’Jang mời hai bên lên hòa giải
nhưng hòa giải không thành. Ông P thừa nhận đã nhận của tôi 247.770.000 đồng.
Năm 2017, tôi tiếp tục nhờ UBND Nâm N’Jang hòa giải, ông P thừa nhận
chuyển nhượng (26x70)m đất cho chúng tôi nhưng giấy tờ sang nhượng bản chính
ông P giữ chđồng ý giao cho tôi (16x70)m đất. Ông P nêu do tôi chưa trả đủ
tiền. Tuy nhiên, hai bên đã thỏa thuận tôi chỉ trả đủ tiền khi ông P làm GCNQSDĐ
ông P chưa làm GCNQSDĐ cho tôi. Sau đó tôi đến nhà để trả tiền với mục
đích tự làm GCNQSDĐ nhưng ông P, D không đồng ý nhận tiền, không phải tôi
không trả đủ tiền như trình bày của ông P.
Sau khi UBND hòa giải, tôi chưa khởi kiện tại Tòa án. do toàn bộ 26m
đất tôi ông T vẫn đang sử dụng; ông P, D không tới nói trả lại đất, cũng không
nói gì với tôi và ông T về việc lấy 10m đất ở phía nào.
Trước khi tôi làm nhà, tôi thấy ông Huỳnh Công N tới đất của tôi, dựng 01
căn nhà tiền chế nhỏ bằng tôn. Tôi báo UBND Nâm N’Jang đến giải quyết,
trình bày đất này của tôi nên ông N dừng lại không làm nữa. Sau đó tôi không ai
tháo nhà của ông N. Từ năm 2015 đến nay ông Huỳnh Công N không đến trao đổi
với tôi về việc tranh chấp quyền sdụng đất. Khi Tòa án đến xem xét thẩm định, tôi
có nói đất này tôi và ông T đang sử dụng. Tôi và ông T đã nhận giấy triệu tập của Tòa
án nhưng ông T việc bận không đến Tòa án để làm việc được. Tiền nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất từ ông P, D tiền của tôi. Giấy sang nhượng ghi tên cả
tôi ông T do ông P kêu cả tôi ông T cùng tên. Hiện tôi ông T đang sử
dụng 26m đất đã nhận chuyển nhượng từ ông P, bà D. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án đúng quy định của pháp luật.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Lệ T trình bày ntrình
bày của nguyên đơn ông Huỳnh Công N, đồng ý với yêu cầu khởi kiện không
yêu cầu gì khác.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim D đã được triệu
tập hợp lệ nhưng không có mặt làm việc nên không có trình bày.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Tr (Nhựt) trình
bày: (Tài liệu khai thác từ hồ sơ vụ án số 56/2017/TLST-DS ngày 25-4-2017 cùng
quan hệ tranh chấp và nguyên đơn, bị đơn)
Tôi chuyển nhượng cho ông Huỳnh Công N một thửa đất diện tích 700m²
(10x70)m, tọa lạc tại Thôn V, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (không nhớ thời gian,
8
giá), tcận: Phía y giáp đường Quốc lộ 14, phía Đông giáp đất của tôi, phía Bắc
giáp đất ông Bốn, phía Nam giáp đất của tôi. Phần đất giáp phía Nam sau này tôi
chuyển nhượng cho ai không nhớ. Tôi đã giao đất cho ông N, ông N đã trả đủ tiền.
Thời điểm chuyển nhượng đất chưa được cấp GCNQSD, trên đất không tài sản.
Khi giao đất hộ liền kề ông Bốn (tên gọi khác Từ) tên. Phía còn lại thời
điểm đó đất của tôi nên không giáp ranh nào khác. Chúng tôi chỉ lập mt giấy
tay, không công chứng, chứng thực.
Tôi có chuyển nhượng cho ông Quang M thửa đất diện tích 420m² (6x70)m,
tọa lạc tại Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông , tứ cận: Phía Tây giáp Quốc lộ
14, phía Đông giáp đất của tôi, phía Nam phía Bắc đều giáp đất của tôi. Các phần
đất giáp phía Bắc, phía Nam sau này tôi chuyển nhượng cho những người khác,
không nhớ tên, giá chuyển nhượng.
Hai thửa đất tôi chuyển nhượng cho ông Huỳnh Công N ông Quang M
riêng biệt, không chng lấn nhau. Khi chuyển nhượng đất cho ông Quang M,
chúng tôi chỉ viết giấy tay, không công chứng, chứng thực đất chưa được cấp
GCNQSD.
Thời điểm chuyển nhượng đất cho ông N, ông M tôi 80 mét ngang đất mặt
đường Quốc lộ 14. Tôi không chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn P, ông Hồ
Công P tôi không biết.
Đối tranh chấp giữa ông Huỳnh Công N ông Hồ Công P: Đúng tôi đã
chuyển nhượng đất cho ông Huỳnh Công N. Mặc chưa văn bản công chứng,
chứng thực nhưng thực tế tôi đã nhận đủ tiền và giao đất cho ông N, nên đó là đất của
ông N.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang M trình bày (Tài liệu
khai thác từ hồ vụ án số 56/2017/TLST-DS ngày 25-4-2017 cùng quan hệ tranh
chấp và nguyên đơn, bị đơn):
Tôi không biết ông N ai, ông P là hàng xóm của nhà tôi. Vào năm 2009, tôi
chuyển nhượng cho ông Hồ Công P diện tích đất chiều ngang giáp với QL 14 (gần
trạm thu phí) 26m, dài 100m. Khi chuyển nhượng đất chưa được cấp GCNQSD, hai
bên chỉ viết giấy tờ tay, không xác nhận của chính quyền địa phương, giá
78.000.000 đồng.
Nguồn gốc đất do tôi nhận chuyển nhượng từ 02 người, gồm ông Nguyễn Văn
P, hiện nay Ninh Bình (20x100)m ông Nguyễn Văn Tr (06x80)m. Sau khi nhận
chuyển nhượng từ ông P ông Tr thì tôi chuyển nhượng toàn bộ cho ông Hồ Công
P. Tôi, ông Hồ Công P và ông Nguyễn Văn Tr có ra chỉ ranh giới, cắm mc.
Việc tranh chấp giữa ông N ông P tôi không ý kiến gì, tôi chỉ biết tôi
chuyển nhượng cho ông P diện tích đất nêu trên, không có quan điểm nào khác.
Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P trình bày (Tài
liệu khai thác từ hồ vụ án số 56/2017/TLST-DS ngày 25-4-2017 cùng quan hệ
tranh chấp và nguyên đơn, b đơn):
9
Tôi không biết ông Huỳnh Công N ông Hồ Công P, ông Quang M em
rể tôi, lấy con của cô ruột tôi.
Năm 2008, tôi chuyển nhượng cho ông Quang M 2000m
2
đất mặt đường
QL14, dài 20m, sâu 100m với giá 41.500.000 đồng. Tứ cận: Phía Tây giáp QL 14,
phía đông giáp Sơn Bình Định, phía nam giáp Sơn Bình Định và phía bắc giáp Sơn
Bình Định. Nguồn gốc đất tôi nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Tr (Nhựt)
năm 2007. Thời điểm chuyển nhượng đất chưa GCNQSD, chviết tay với nhau.
Khi tôi chuyển nhượng đất cho ông Quang M hai bên không lập biên bản, tôi chỉ
đưa cho ông Mười bản chính giấy viết tay của ông Nguyễn Văn Tr (Nhựt) cho ông
Mười, là giấy ông Tr chuyển nhượng đất cho tôi.
Tôi chuyển nhượng đất đã lâu nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tôi, tôi
cam đoan không có khiếu nại hay đề nghị gì khác.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn Bác trình bày: (Tài liệu khai thác từ hồ sơ
vụ án số 56/2017/TLST-DS ngày 25-4-2017 cùng quan hệ tranh chấp nguyên đơn,
bị đơn):
Tôi chỉ quen biết với ông Hồ Công P do làm rẫy gần, còn ông Huỳnh Công N
tôi không biết. Năm 2009 tôi có đi làm đổi công cho ông P, với công việc phát dọn cỏ
bụi rậm, sau đó phụ ông P dựng nhà ván tạm trên đất. Thời điểm đó cỏ mọc cao ngang
tầm người đứng, chỉ đất trắng, hai bên không nhà không ai canh tác, nhưng
thấy đóng cọc làm ranh giới. i không biết diện tích cụ thể bao nhiêu, chỉ áng
chừng khoảng 30 40m². Tôi không biết khác về nguồn gốc đất trên. Sau lần làm
đổi công cho ông P tôi không làm thêm lần nào khác.
Người làm chứng ông Nguyễn Thanh Phương trình bày: (Tài liệu khai thác
từ hồ vụ án số 56/2017/TLST-DS ngày 25-4-2017 cùng quan hệ tranh chấp
nguyên đơn, bị đơn):
Tôi quen biết ông Hồ Công P do làm rẫy gần, không biết ông Huỳnh Công
N. Năm 2009, ông Hồ Công P nhờ tôi dựng một căn nhà gỗ tạm. Tôi phát dọn cỏ, sau
đó phụ ông P dựng nhà ván tạm trên đất. Thời điểm đó cỏ mọc tầm thấp, chỉ đất
trắng, hai bên không nhà cũng không ai canh tác, nhưng phía sau người đã
canh tác trên đất. Tôi không biết diện tích cụ thể bao nhiêu, tôi chỉ phát cỏ đủ để dựng
căn nhà gỗ tạm trên thôi. Tôi không biết gì khác về nguồn gốc đất trên.
Người làm chứng ông Phạm Hồng Sơn trình bày:
Tôi cam kết trình bày trung thực, nhất quán, không thay đổi các vấn đề biết
được biết liên quan đến các vấn đề được hỏi.
Tôi không quan hệ thân thích với bất kỳ đương sự nào trong vụ án này. Tôi
là hàng xóm với ông HCông P Trần Thị Kim D nhiều năm nay. Từ năm 1994,
tôi đã đến Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ); nay Thôn N, T, tỉnh
Lâm Đồng sinh sống. Nhà tôi đang cho thuê phía đối diện đất tranh chấp giữa ông
Huỳnh Công N ông Hồ Công P. Nhà tôi cách đất tranh chấp khoảng 150m. Đất
tôi sử dụng đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ.
10
Khi tôi đến sinh sống, khu vực gần trạm thu phí chỉ nhà tôi nhà ông Bốn
Từ (Ông Bốn Từ bị tai biến nên không nói được). Khu vực đất tranh chấp giữa ông N
ông P không ai sinh sống, không nhà cửa. Khoảng sau vài năm, tôi thấy ông
Tr (Nhựt) sử dụng đất phía sau đất tranh chấp hiện tại giữa ông N ông P. một
khoảng thời gian không nhớ năm, ông N đến Nâm N’Jang làm rẫy, hái tiêu
cho tôi. Sau tôi thấy ông N dựng 01 căn nhà bằng sắt, chưa kịp lợp mái thì tranh chấp
với ông P. Khi hai bên tranh chấp tôi không chứng kiến, chỉ nghe nói. Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Công N ông Nguyễn Văn Tr
tôi không được biết, không chứng kiến. Tôi chỉ nghe ông N nói nhận chuyển
nhượng 02ha đất rẫy của ông Tr.
Ngoài thời gian ông N dựng căn nhà bằng sắt, ai tháo dkhông biết thì tôi
không thấy ông N, ông P sử dụng đất. Khoảng hơn 10 năm nay, i thấy người sử
dụng thửa đất tranh chấp giữa ông N và ông P là ông Phạm Hồng T và bà Phạm Thị L.
Tngoài đường nhìn vào chỉ thấy L trồng chuối, n phía sau do đất trũng n i
không rõ sử dụng đm gì. Tôi nghe L i đất nhận chuyển nhượng từ ông Hồ Công
P. Do trước đây L mượn đt của tôi nên i L có i chuyện. Đất L, ông T
nhận chuyển nợng tông P ngoài phần tranh chấp còn dựng 01 n n gỗ để ở từ hơn
10 năm nay. Diện tích đất L, ông T nhận chuyển nhượng tông P hiện tại đang sử
dụng theo mặt đường QL14 i hơn 20m; chiều u i không rõ. Hợp đồng chuyển
nhưng giữa ông P, D ông T, L tôi không thấy, không chứng kiến; trả tiền hết
hay chưa i không rõ.
Theo tôi, ông N đã dựng nhà thì phải căn cứ, sở chứ không thể
duyên cớ dựng nhà trên đất không thuộc quyền sử dụng của nh. Đề nghị Tòa án
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Do đi lại xa khó khăn, không chứng kiến hợp đồng chuyển nhượng giữa các
bên, những tôi biết đã trình bày không thay đổi. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết,
xét xử vắng mặt tôi ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có).
Người làm chứng ông Trần Phúc Văn trình bày:
Tôi Trần Phúc Văn cam kết trình bày trung thực, nhất quán, không thay đổi các
vấn đề biết và được biết liên quan đến các vấn đề được hỏi.
Tôi không quan hệ thân thích với bất kỳ đương sự nào trong vụ án này. Tôi
là hàng xóm với ông Hồ Công P Trần Thị Kim D nhiều năm nay. Từ năm 2013,
tôi Thôn trưởng Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), hiện Thôn trưởng
Thôn N, T, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng năm 2005, tôi đến Thôn 10, Nâm N’Jang
sinh sống. Nhà tôi cách đất tranh chấp khoảng gần 02km. Khu vực đất tranh chấp,
theo tôi được biết trước đây ông Nguyễn Văn Tr sử dụng, nhận chuyển nhượng tai
tôi không biết. Sau này phát sinh tranh chấp tôi được nghe nguồn gốc đều do nhận
chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Tr. Do thời gian đã lâu, tôi không nhớ ký giấy
tờ, hợp đồng giữa các bên hay không. Khi tôi đã làm trưởng thôn, thấy ông Huỳnh
Công N dựng 01 căn nhà sắt, chưa rõ đã hoàn thiện chưa nhưng chưa thì tranh chấp
với ông Hồ Công P.
11
Khi đo đạc bản đồ tổng thể bằng máy của huyện Đắk Song khoảng năm 2013-
2014 tôi không chứng kiến ông N, ông P chỉ ranh, cắm mốc. Tôi chỉ nhớ vận động
con, thông báo tại Hội trường thôn tiến hành cắm mốc để đo đạc nhanh chính
xác.
Tôi thấy ông T, L sử dụng đất tranh chấp giữa ông N và ông P nhiều năm rồi
nhưng không nhớ chính xác thời gian. Khoảng năm 2016, L yêu cầu giải quyết
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất với ông Hồ Công P. Khi giải
quyết, tôi nghe các bên khúc mắc về tiền bạc nhưng không nhớ cụ thể. Hiện tại
ông T, L đang ở nhà dựng trên một phần đất nhận chuyển nhượng từ ông Hồ Công
P, phần đất có tranh chấp L trồng cây, trồng màu. Ngoài thời gian ông N dựng căn
nhà bằng sắt, ai tháo dỡ không biết thì tôi không thấy ông N, ông P sử dụng đất. Theo
tôi, ông Tr người chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ban đầu nên ông Tr cần xác
định vị trí đất chuyển nhượng cho các bên. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo
quy định của pháp luật.
Do đi lại xa khó khăn, tôi đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt tôi
cấp sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có).
Tại phiên tòa: Các đương sự không đề nghị hoãn đtriệu tập người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Không ai yêu cầu xem xét thẩm định, đo
đạc, định giá lại tài sản tranh chấp.
Nguyên đơn trình bày: Đề nghHội đồng xét xử giải quyết buộc ông Hồ Công
P trả lại thửa đất ông Huỳnh Công N đã nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Tr
ngày 27-4-2011, tọa lạc tại Thôn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng, với diện tích theo kết quả
đo đạc do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đắk Song thực hiện cho ông
và bà T.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Lệ T đồng ý với trình bày
của ông Huỳnh Công N.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Hồ Công P trình bày: Năm
2014, ông P, D đã chuyển nhượng đất cho ông Phạm Hồng T Phạm Thị L.
Mặc dù giữa ông P và ông T, L còn tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng nhưng
từ năm 2014 đến nay, ông T, L vẫn quản lý, sử dụng đất. Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất giữa ông Nguyễn Văn Tr và ông Huỳnh Công N không
hợp pháp, một thửa đất ông Tr chuyển nhượng cho nhiều người, sau đó che dấu địa
chỉ, không hợp tác, biểu hiện lừa đảo. Ông P không quản lý, sử dụng đất nên ông
N khởi kiện yêu cầu ông P trả đất không đúng đối tượng. Đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Công N.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Hồng T và bà Phạm Thị
L trình bày: Ông Huỳnh Công N khởi kiện yêu cầu buộc ông Hồ Công P trả đất
không đúng đối tượng do ông P không quản lý, sử dụng đất. Bà L, ông T nhận chuyển
nhượng quyền sdụng đất từ ông P, D, đã sdụng, làm nhà, trồng cây từ năm
12
2013 đến nay. Ông N nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Văn Tr nên phải khởi
kiện ông Tr để yêu cầu giao đất hoặc hoàn trả tiền mới phù hợp.
Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư đã
tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Ttụng dân sự vviệc giải quyết, xét xử
thẩm vụ án. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng của mình
theo quy định ca pháp luật.
Về việc giải quyết ván: Thửa đất tranh chấp số 71 một phần thửa số 47, tờ
bản đồ số 31 chưa ai đăng khai sử dụng, đất không thuộc diện bị thu hồi, giải
tỏa, được xem xét cấp GCNQSD. Tuy nhiên, thời điểm các bên chuyển nhượng, đất
chưa được cấp GCNQSD, hợp đồng không được công chứng, chứng thực, đăng
vi phạm quy định tại 15, Điều 106 của Luật Đất đai năm 2003. Mặt khác đất tranh
chấp ông Phạm Hồng T, Phạm Thị L canh tác, sử dụng từ khi nhận chuyển
nhượng, theo hợp đồng từ năm 2014 đến nay. Ông P không phải chủ thể sử dụng
đất tranh chấp. Vì vậy, ông Huỳnh Công N khởi kiện yêu cầu buộc ông Hồ Công P trả
không đúng đối tượng. Đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ các Điều 15, 106 của Luật
Đất đai năm 2003, điểm b khoản 2 Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 688,
689, 691 692 của Bộ luật Dân snăm 2005, tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Huỳnh Công N đối với ông Hồ Công P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện trình bày của nguyên đơn, yêu cầu bị
đơn ông Hồ Công P trả đất lấn chiếm, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là
Tranh chấp quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Ttụng
n sự. Bđơn địa chỉ tại Thôn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Đất tranh chấp tọa lạc tại
Thôn N, T, tỉnh Lâm Đồng. vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân khu vực 8 Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Ttụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày
27-6-2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
Về việc vắng mặt của người quyền lợi, nghĩa vliên quan: Tòa án đã tiến
hành xác minh tại Công an Nâm N’Jang, huyện Đắk Song (cũ), được cung cấp
không thông tin ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1966 đăng thường thoặc tạm
trú tại Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (), nay là Thôn N, T, tỉnh Lâm
Đồng. Tuy nhiên, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Tr đều ghi địa
chỉ tại Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-
HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến
13
hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với ông Tr theo quy định tại
Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn Tr, ông Nguyễn n P, ông
Văn Mười, bà Thị Li đã được thông báo, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của
Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không do. vậy, Hội đồng xét
xử xét xử vắng mặt ông Tr, ông Nguyễn Văn P, ông Mười Lĩnh theo quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật T tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Công N:
Về nguồn gốc đất tranh chấp và quá trình sử dng:
Về phía nguyên đơn: Ngày 19-4-2022, ông Huỳnh Công N cung cấp bản chính
Giấy sang nhượng đất viết tay giữa ông Nguyễn Văn Tr và ông Huỳnh Công N,
Bùi Thị Lệ T nội dung: Tôi tên Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1966, số CMND
245080707, ngụ: Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Tôi sang nhượng đất
mặt đường quốc lộ 14 cho ông Huỳnh Công N, số CMND 3006675XX cấp ngày 27-4-
1985 Bùi Thị Lệ T, sinh m 1975, số CMND 2209543XX, cấp ngày 10-3-2010
ngụ: Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông với diện tích đất: Ngang 10 mét, dài
80m. Tính từ đường vào (từ quốc lộ 14) vị trí: Đông giáp Trắng. Tây giáp quốc lộ 14.
Nam giáp Bốn Từ. Bắc giáp Phú. Với số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng
chẵn). Nếu sau này có ai tranh chp về dân sự tôi hoàn tn chịu tch nhiệm. Đk Song
ny 27-4-2011”.
Giấy sang nhượng đất bản chính nêu trên được viết tay, có chữ ký người mua là
Huỳnh Công N và người bán Nguyễn Văn Tr. Ngoài ra còn chữ của ông Đào
Văn T, không rõ ký với vai trò gì. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không
được xác nhận của chính quyền địa phương, không được công chứng, chứng thực.
Ông N nhận chuyển nhượng từ ông Tr đất trống, chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng (GCNQSD), đã thanh toán tiền. Sau khi nhận chuyển nhượng
ngày 27-4-2011, ông N, T không sử dụng. Năm 2014 chỉ ranh cho đoàn đo đạc,
tên trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất, cụ thể thửa đất số 71, tờ bản đồ số 31,
diện tích 659,7m
2
nhưng chưa khai cấp GCNQSD. Khoảng năm 2015 2016, ông
N, T làm nthưng tôn, sắt, diện tích (4x7)m nhưng không bị ai tháo dỡ,
không trồng cây. Năm 2016 phát sinh tranh chấp với ông Hồ Công P (do bà Phạm Thị
L, người nhận chuyển nhượng đất từ ông Hồ Công P thông báo cho ông P về việc
ông N dựng nhà).
Căn cứ Điều 15, 106 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 688, 689, 691 692
của Bộ luật Dân snăm 2005, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Huỳnh Công N và ông Hồ Công P chưa phát sinh hiệu lực do vi phạm về hình thức và
nội dung, cụ thể đất chưa được cấp GCNQSD, hợp đồng chưa được công chứng,
chứng thực, đăng ký. Sau khi chuyển nhượng ông N chỉ mới làm ntạm đã bị
tháo dỡ, không xây nhà kiên cố, không trồng cây lâu năm nên không được công nhận
theo hướng dẫn tại mục 2.3 phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-
2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân n Tối cao, hướng dẫn áp dụng pháp
luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình. Ngoài ra, việc
14
không sử dụng đất là một trong các hành vi bị nghiêm cấm.
Về phía bị đơn: Ngày 11-10-2024, ông Hồ Công P cung cấp Giấy sang nhượng
đất ngày 24-4-2007, Giấy sang nhượng đất ngày 23-3-2008 Giấy sang nhượng
đất ngày 22-7-2009 (Tòa án tiến hành chụp từ bản chính do không đồng ý giao nộp,
BL123). Tài liệu, lời khai thể hiện ông Nguyễn Văn Tr chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Văn P đất dọc Quốc lộ 14 dài 20m, sâu 100m; chuyển nhượng cho ông
Quang M dọc Quốc lộ 14 dài 6m, sâu 80m. Ông Nguyễn Văn P chuyển nhượng cho
ông Mười đất đã nhận chuyển nhượng từ ông Tr ngày 22-7-2009, ông Mười
chuyển nhượng lại toàn b 26m đất chiều ngang Quốc lộ 14 cho ông Hồ Công P. Đất
tọa lạc tại Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), tứ cận: Phía Đông giáp ông
Nguyễn Văn Tr, phía Tây giáp QL 14, phía Nam giáp đất ông Huỳnh Tấn Đường,
phía Bắc giáp ông ơng Ngọc ng. Giá chuyển nhượng 78.000.000 đồng, đã nhận
đủ tiền và giao đất cùng ngày.
Toàn bộ các giấy tờ sang nhượng đất viết tay, không người làm chứng,
không có xác nhận của chính quyền địa phương, không được công chứng, chứng thực,
khi chuyển nhượng đất chưa được cấp GCNQSD.
Sau khi nhận chuyển nhượng, năm 2009 ông P dựng 01 căn nhà gỗ, diện tích
(6x10)m, hàng năm tiến hành phát cỏ, người làm chứng xác nhận; ngoài ra ông P
đổ đất tạo mặt bằng; năm 2014 chỉ ranh cho đoàn đo đạc, ông P tên trên bản đồ
hiện trạng sử dụng thửa số 47, tờ bản đồ số 31, diện tích 1.006,1m
2
. Năm 2014 ông P
chuyển nhượng đất cho ông T, L theo hợp đồng chuyển nhượng viết tay và bàn
giao cho ông T, bà L sử dụng đất cho đến nay.
Căn cứ Điều 15, 106 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 688, 689, 691 692
của Bộ luật Dân snăm 2005, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
Hồ Công P ông Quang M không hiệu lực do vi phạm về hình thức nội
dung, cụ thể đất chưa được cấp GCNQSD, hợp đồng chưa được công chứng, chứng
thực, đăng ký. Sau khi chuyển nhượng ông P chỉ mới làm nhà tạm đã bị tháo dỡ,
không xây nhà kiên cố, không trồng cây lâu năm nên không được công nhận theo
hướng dẫn tại mục 2.3 phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.
Về nguồn gốc quá trình sử dụng đất của người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Phạm Hồng T Phạm Thị L: Ông T, L trình bày thực tế năm 2012, ông
P D chuyển nhượng cho ông 26m đất theo chiều ngang mặt đường QL 14
gần trạm thu phí Đắk Song, chiều sâu 70m với giá 312.000.000 đồng, bao gồm diện
tích đất ông Huỳnh Công N đang khởi kiện ông Hồ Công P. Khi chuyển nhượng đã
chỉ ranh giới, kéo dây đo, đóng cọc hai bên đất, ông Nguyễn Văn Tr thấy nhưng
không ý kiến. Khi nhận chuyển nhượng chủ yếu đất trống (có 01 căn nhà gỗ nhỏ),
đất không bằng phẳng. Năm 2013, ông T, L thuê người san lấp mặt bằng, sau đó
trồng tiêu, trồng xen phê. Năm 2015, dỡ nhà gỗ nhỏ, dựng 01 căn nhà gỗ diện tích
(5x10)m để đến nay, cùng năm rào lưới B40 toàn bkhu đất. Về hợp đồng chuyển
15
nhượng, đương sự chỉ cung cấp được bản phô tô, viết tay ngày 04-7-2014 với do
ông P gibản chính. Đất khi chuyển nhượng chưa được cấp GCNQSD. Năm 2012,
ông T, bà L đã trả 247.770.000 đồng cho ông P và bà D, hẹn khi ông P giao
GCNQSDĐ thì trả số tiền còn lại. Năm 2015, bà L đến nhà trả tiền nhưng ông P, bà D
không đồng ý nhận, sau đó 2 bên phát sinh tranh chấp. Thời điểm đo đạc toàn huyện,
L chỉ ranh, đứng tên thửa đất số 47 nhưng không sao thửa đất s47 lại
đứng tên ông Hồ Công P. Tranh chấp giữa L, ông T ông P đã được UBND
Nâm N’Jang hòa giải nhưng không thành. Đất tranh chấp do ông T, L quản lý, sử
dụng từ năm 2012 đến nay.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc xác định đất tranh chấp trừ lộ giới
giao thông có diện tích 669,2m
2
, tứ cận:
- Phía Bắc giáp đất ông T, bà L đang sử dụng dài 64.27m.
- Phía Nam giáp đất ông Nhung, bà Toại (thửa 49) dài 69,57m;
- Phía Đông giáp đất trước đây ông Tr sử dụng, nay không rõ ai dài 10.06m;
- Phía Tây giáp QL dài 11.05m.
Đất tọa lạc tại Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ, nay Thôn N, T,
tỉnh Lâm Đồng.
Kết quả lồng ghép tờ bản đồ số 31, phê duyệt năm 2016 do Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai Đắk Song thực hiện, đất tranh chấp gần trùng khớp trong thửa
đất số 71, chỉ có một phần rất nhỏ phía Tây Bắc nằm trong thửa đất số 47.
Về việc đăng ký, khai sử dụng đất: Ngày 05-8-2025, Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai Đắk Song cung cấp thông tin thửa đất số 47, 71 tờ bản đồ số 31, được
STài nguyên môi trường tỉnh Đắk Nông phê duyệt năm 2017, tọa lạc tại Nâm
N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông (cũ) chưa có ai đăng ký kê khai sử dng.
Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Ngày 16-6-2025, Ủy ban nhân dân huyện
Đắk Song, tỉnh Đắk Nông () trả lời ý kiến của quan quản đất đai đối với
trường hợp đất tranh chấp chưa được cấp GCNQSD như sau: Đối với thửa đất số
47, tờ bản đsố 31, được Sở Tài nguyên môi trường phê duyệt năm 2017, đất tọa
lạc tại xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, theo quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất 65,2m
2
thuộc quy hoạch đất giao thông (đường QL14), 854,6m
2
thuộc
quy hoạch đất ở và 86,3m
2
thuộc quy hoạch đất nông nghiệp. Đất không thuộc diện bị
thu hồi, giải tỏa. Thuộc trường hợp được xem xét, cấp GCNQSD (trừ diện tích đất
thuộc quy hoạch đường giao thông). Đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ số 31, được Sở
Tài nguyên môi trường phê duyệt năm 2017, đất tọa lạc tại Nâm N’Jang, huyện
Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có 52,8m
2
thuộc quy
hoạch đất giao thông (đường QL14), có 522,9m
2
thuộc quy hoạch đất ở và 84m
2
thuộc
quy hoạch đất nông nghiệp. Đất không thuộc diện bị thu hồi, giải tỏa. Thuộc trường
hợp được xemt, cấp GCNQSD (trừ diệnch đất thuộc quy hoạch đường giao thông).
Tài sản trên đất tranh chấp có: 01 cây Si trồng năm 2015, 02 cây sữa trồng
năm 2019, 10 cây trồng năm 2020, 01 cây Xoài trồng năm 2019, 30 Cây Chuối,
02 cây Mít trồng năm 2020, 90 cây Tiêu trồng năm 2020 01 cây Mãng cầu xiêm
16
trồng năm 2022; toàn bộ do ông T và bà L trồng.
Về giá: Ngày 31-7-2025, c đương sự thống nhất xác định đất ở có giá
600.000 đồng/m
2
; Đất trồng cây lâu năm giá 15.000 đồng/m
2
. Giá tài sản gắn liền
trên đất: 01 cây Si trồng năm 2015 giá 200.000 đồng, 02 cây sữa trồng m
2019 giá 291.000 đồng/cây = 582.000 đồng, 10 cây trồng năm 2020 g
326.700 đồng/cây = 3.267.000 đồng, 01 cây Xoài trồng năm 2019 có giá 184.500
đồng, 30 cây Chuối giá 70.000 đồng/cây = 2.100.000 đồng, 02 cây t trồng năm
2020 giá 202.400 đồng/cây = 404.800 đồng, 90 cây Tiêu trồng năm 2020 g
247.100 đồng/cây = 22.239.100 đồng, 01 cây Mãng cầu xiêm trồng năm 2022 giá
291.000 đồng. Tổng giá trị cây trồng trên đất: 29.268.400 đồng.
Một số trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án mâu thuẫn,
Tòa án đã tiến hành đối chất nhưng các đương sự vẫn giữ nguyên trình bày của mình.
Tuy nhiên, người làm chứng thôn trưởng người sinh sống lâu năm gần đất tranh
chấp cũng như tài liệu biên bản hòa giải ngày 10-10-2016 ngày 13-10-2017 của
Ủy ban nhân dân Nâm N’Jang, do người đại diện theo ủy quyền của ông T, L
cung cấp tại phiên tòa (cung cấp bản chính, Tòa án sao chụp lại bằng máy photocoppy
tại trụ sở, lập biên bản nguồn gốc, lưu hồvụ án) xác định sự thật ông T, L nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, gồm cả phần đất ông N đang khởi kiện từ ông Hồ
Công P (theo hợp đồng ngày 04-7-2014) quản lý, sử dụng nhiều năm nay, từ
trước khi ông N khởi kiện ông P cho đến hiện tại.
Một số tài liệu trong h là bản phô tô, tuy nhiên đã được công khai cho các
đương sự tiếp cận, kiểm tra, không có ý kiến phản đối. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản
2, khoản 3 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định nội dung tài liệu là tình tiết,
sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết, thừa nhận và không phải chứng minh.
Về việc đổ đất: Ông Hồ Công P trình bày để xác định quá trình sử dụng, không
có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Từ nguồn gốc, quá trình sử dụng của các bên, căn cứ xác định đất ông
Huỳnh Công N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ ng P trả thuộc
thửa số 71, và một phần thửa số 47, tờ bản đồ số 31, lạc tại Thôn N, T, tỉnh Lâm
Đồng do ông Phạm Hồng T Phạm Thị L quản lý, sử dụng từ trước khi ông N
khởi kiện cho đến hiện tại. Tòa án đã giải thích cho ông Huỳnh Công N để khởi kiện
đúng chủ thể sử dụng đất nhưng ông N không thực hiện. vậy, không n cứ
chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Công N đối với ông Hồ Công P.
[3]. Về chi p t tụng (xem xét thẩm định tại chỗ 2.400.000 đồng, đo đạc
4.755.960 đồng): Căn cứ Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, ông Huỳnh Công N
phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc quyền sử dụng đất số tiền
7.155.960 đồng, được trừ vào 7.204.000 đồng tạm ứng đã nộp; ông N được nhận lại
48.040 đồng tại Tòa án nhân dân khu vực 8 Lâm Đồng.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, ông Huỳnh Công
N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
17
[5]. Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cứ, Hội đồng xét
xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39,
điểm a khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 92, Điều 147, Điều 157 của Bộ luật Ttụng
dân sự; Điều 15, 106 của Luật Đất đai năm 2003, điểm b khoản 2 Điều 236 của Luật
Đất đai năm 2024; Điều 688, 689, 691 692 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Nghị quyết số
81/2025/UBTVQH15 ngày 27-6-2025 của y ban Thường vụ Quốc hội về thành lập
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền
theo lãnh thổ ca Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Công N đối với ông Hồ
Công P về việc buộc trả 659m
2
đất tọa lạc tại Thôn V, N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
(), nay là Thôn N, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
2. Về án phí: Ông Huỳnh Công N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí dân sthẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai số 0002220 ngày 29-7-2019 tại Chi cục Thi hành án dân s
huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông (), nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8
Lâm Đồng.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Công N phải chịu 7.155.960 đồng, được trừ
vào 7.204.000 đồng tạm ứng đã nộp; ông N được nhận lại 48.040 đồng tại Tòa án
nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng. Ông N đã nhận đủ ngày 18-9-2025.
4. Về quyền kháng cáo: Đương s mặt tại phiên toà quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương s vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự, thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 8 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 8 – Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đã ký và đóng dấu
Lê Thị Thu Hà
18
Tải về
Bản án số 21/2025/DS- Bản án số 21/2025/DS-

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2025/DS- Bản án số 21/2025/DS-

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất