Bản án số 199/2026/HS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 199/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 199/2026/HS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 199/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Đức T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 199/2026/HS-PT Bản án số 199/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 199/2026/HS-PT Bản án số 199/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 199/2026/HS-PT
Ngày: 11-09-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Khánh
Các Thẩm phán: Ông Đinh Tiền Phương
Ông Nguyễn Văn Nam
- Thư ký Tòa án: Bà Võ Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 09 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 156/2026/TLPT-HS
ngày 05 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Đức T do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2026/HS-ST ngày 22-6-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức T, sinh ngày 18/02/1991, tại tỉnh Khánh
Hòa; Căn cước công dân số: ************. Nơi cư trú: Tổ A, đường N, phường
B, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức N,
sinh năm 1959 (chết) và bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Vũ Mỹ
U, sinh năm 1995. Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm
2019. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày
02/02/2026 đến ngày 13/5/2026, (có mặt).
- Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị không triệu tập: Đại diện hợp pháp của bị
hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
2
Khoảng 00 giờ 27 phút ngày 02/12/2025, Nguyễn Đức T, có giấy phép lái
xe hạng C, có giá trị đến ngày 17/02/2028, điều khiển xe ô tô tải biển số 29H-
755.29 chở Nguyễn Xuân H, sinh năm 1994, nơi cư trú: Xóm I, xã H, tỉnh Nghệ
An, ngồi ghế phụ bên phải lưu thông theo hướng từ trong Khu công nghiệp X đi
ra đường T thuộc ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh. Khi đến giao lộ giữa đường số C,
khu công nghiệp X và đường tỉnh 824 thuộc ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh thì xảy va
chạm với xe mô tô biển số 62U1-149.01 do Lê Phú T2, sinh năm 1994, nơi cư trú:
Ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh điều khiển chở phía sau Nguyễn Quốc K, sinh năm
1985, nơi cư trú: Ấp T, xã T, Thành phố Cần Thơ lưu thông đúng tuyến trên đường
T theo hướng từ Cầu N về ngã ba M, xã M, tỉnh Tây Ninh. Hậu quả: Lê Phú T2
và Nguyễn Quốc K, bị thương được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện S
thuộc ấp M, xã M, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, Phú T2 tử vong
tại Bệnh viện. Kiệt được chuyển đến Bệnh viện X, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp
tục điều trị phục hồi sức khoẻ.
Kết quả khám nghiệm như sau:
Tình trạng hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn được giữ nguyên. Điều kiện
thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Trời tối, không mưa, có đèn đường chiếu sáng.
Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông là ngã ba giao nhau giữa đường T
và khu công nghiệp X, Đ. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn thông
thoáng; mặt đường tỉnh 824 rộng 15m30; mặt đường khu công nghiệp X rộng
27m; hai bên khu vực xảy ra tai nạn đông nhà dân, phương tiện lưu thông trên
đường thưa thớt; khu vực xảy ra tai nạn giao thông có hệ thống biển báo hiệu
đường bộ.
Vị trí đánh số (1) là vết cày; vị trí đánh dấu số (2) là xe mô tô biển số 62U1
149.01; vị trí đánh dấu số (3) là xe ô tô tải biển số 29H-755.29.
Chọn trụ điện số 102 góc phải khu công nghiệp X làm điểm mốc cố định
và chọn lề đường bên phải theo hướng từ ngã ba M về cầu N làm lề chuẩn để đo
các dấu vết, phương tiện, kết quả như sau:
- Vị trí đánh số (1) là vết cày không liền nét nằm trong phần đường khu
công nghiệp X; đầu vết cày cách lề chuẩn là 15,50m; vết cài kéo dài 06,10m về
hướng ngã ba M. Cuối vết cày nằm tại cần gác chân sau bên phải xe mô tô biển
số 62U1-149.01; điểm đầu vết cày cách điểm mốc là 13,70m;
- Vị trí đánh số (2) là xe mô tô biển số 62U1-149.01 nằm ở phần đường khu
công nghiệp X. Xe ngã sang phải, đầu xe hướng về ngã ba M, đuôi xe hướng
ngược lại. T3 trục bánh xe trước cách lề chuẩn là 18,10m; tâm trục bánh xe sau
cách lề chuẩn là 18,45m;
- Vị trí đánh số (3) là xe ô tô tải biển số 29H-755.29 nằm ở phần đường bên
phải mặt đường tỉnh 824, đầu xe hướng về cầu N, đuôi xe hướng ngược lại. Tâm
trục bánh xe trước, bên phải cách lề chuẩn là 00,40m; T3 trục bánh xe sau, bên
3
phải cách lề chuẩn là 00,60m; tâm trục bánh xe sau, bên trái cách đầu vết cày (1)
là 39,60m.
Khám nghiệm phương tiện:
- Xe ô tô tải biển số 29H-755.29:
+ Vết xước dài 01,60m, rộng 00,3m, kéo dài từ trước về sau tại vị trí góc
trái cạnh thùng xe phía sau; đầu vết xước cách mặt đất 03,20m; cuối vết xước cách
mặt đất 01,25m;
+ Cong lệch nhựa phản quang bằng kim loại góc trái phía sau thùng xe,
hướng từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên;
+ Vết xước bên trong góc trái của phần chắn bảo vệ phía sau kích thước
00,10m; tâm vết xước cách mặt đất 00,91m;
- Xe mô tô biển số 62U1-14901:
+ Vỡ gương chiếu hậu trước bên trái, tai gương chiếu hậu lệch qua bên
phải;
+ Cong lệch cụm tay bóp phanh bên trái hướng từ dưới lên trên;
+ Trầy xước gốc trên bên trái phần đầu xe;
+ Trầy xước ốp nhựa chắn gió bên phải trầy xước phần ngoài nhựa của đèn
chiếu sáng phía trước bên phải;
+ Gãy rời ốp ngoài bô xe.
Tại Kết luận giám định tử thi số 2858/KLGĐTT-KTHS ngày 22/12/2025
của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận tình hình thương tích và nguyên nhân tử
vong của Lê Phú T2 như sau:
“1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm:
+ Trầy xước da trên diện rộng tập trung vùng ngực trái, kích thước (33 x
17) cm;
+ Bầm tụ máu dưới da và cơ vùng cổ, cơ dưới đòn và cơ thang;
+ Bầm tụ máu dưới da và cơ ngực lớn trên diện rộng, gãy vạt chéo và chẻ
đôi xương đòn trái, đứt động mạch dưới đòn trái;
+ Dập gãy cung trước xương sườn 3,4,5 trái, rách thủng thùy trên phổi trái.
Tim: Rách màng ngoài tim, vỡ tiểu nhĩ trái, máu chứa nhiều trong khoang ngực
trái # 1000ml.
2. Kết luận:
- Kết luận nguyên nhân chết của Lê Phú T2: Đa chấn thương (Gãy xương
đòn, xương sườn, đứt động mạch dưới đòn, thủng phổi, rách màng ngoài tim, vỡ
tim (vỡ tiểu nhĩ).
4
- Kết luận khác: Không”.
“Tại Kết luận giám định độc chất số 1006/2025/KLGĐĐC-PY.CS1 ngày
08/12/2025 của Trung tâm pháp y Thành phố H đối với Lê Phú T2, kết luận:
Nồng độ ethanol trong mẫu máu của Lê Phú T2 là 66,72 mg/100mL”.
“Tại Kết luận giám định độc chất số 1005/2025/KLGĐĐC-PY.CS1 ngày
16/12/2025 của Trung tâm pháp y, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Đức
T, kết luận:
Mẫu nước tiểu của Nguyễn Đức T không tìm thấy các chất ma túy”.
Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSĐH ngày 12 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật
Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2026/HS-ST ngày 22-6-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một)
năm tù. Thời tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; quyền và thời hạn kháng
cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh nhận
được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình
phạt, xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức T xác định án sơ thẩm xét xử
bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là không oan,
bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan
điểm giải quyết vụ án như sau:
Về hình thức và thủ tục kháng cáo của các bị cáo trong thời gian luật định,
những yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1,
Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan đối với bị cáo T. Bị cáo kháng
cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào khác ngoài những tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm đã xem xét. Hơn nữa, xét thấy mức án sơ
thẩm xử phạt đối với bị cáo T là tương xứng với hành vi và tính chất mức độ của
5
vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và
giữ nguyên án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo T.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Đức T kháng cáo trong thời hạn luật quy
định nên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc
thẩm đúng theo quy định tại Điều 340 và Điều 344 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Đức T tại phiên tòa phúc
thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp các chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 27 phút ngày 02/12/2025, Nguyễn Đức T có giấy phép lái
xe hạng C, có giá trị đến ngày 17/02/2028, có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển
số 29H-755.29 lưu thông theo hướng từ trong Khu công nghiệp X (đường nhánh)
đi ra đường T (đường chính) thuộc ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh, do không quan sát,
không nhường đường cho xe đang lưu thông trên đường chính dẫn đến xảy ra va
chạm với xe mô tô biển số 62U1-149.01 do Lê Phú T2 điều khiển chở phía sau
Nguyễn Quốc K lưu thông đúng tuyến trên đường T theo hướng từ Cầu N về ngã
ba M, xã M, tỉnh Tây Ninh. Hậu quả, hư hỏng nhẹ xe ô tô tải biển số 29H-755.29
và xe mô tô biển số 62U1-149.01, Lê Phú T2 tử vong vào ngày 02/12/2025,
Nguyễn Quốc K bị thương tích nhẹ sau đó hồi phục sức khoẻ và không yêu cầu
giám định tỷ lệ thương tích để xử lý.
[3] Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông
đường bộ. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức
được việc khi tham gia giao thông đường bộ phải chấp hành các quy định của
Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tuy nhiên, bị cáo T2 có giấy phép lái
xe hạng C theo quy định đối với loại xe ô tô tải có tải trọng cho phép là 15200 kg
nhưng khi cho xe rẽ trái không an toàn đối với người điều khiển xe mô tô đang
tham gia giao thông đúng chiều của họ dẫn đến tai nạn làm 01 người bị tử vong,
01 người bị thương tích nhẹ. Hành vi của bị cáo T2 đã vi phạm quy định tại khoản
1, Điều 22 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng
làm chết 01 người. Do đó, án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Đức T về tội
“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a,
khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan đối với bị cáo.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo: Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b và s, khoản 1 và
khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi
thường cho gia đình người bị hại. Bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
nhưng chỉ cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại
6
khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự là ông nội và cha của bị cáo tham gia cách
mạng. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt 01 (một) năm tù mà cấp sơ thẩm áp
dụng là khởi điểm khung hình phạt tù đã tương xứng với tính chất mức độ và hậu
quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do đó, không có căn cứ để giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do bị cáo T điều khiển xe ô tô tải là nguồn
nguy hiểm cao độ và bị cáo rẽ trái không an toàn và gây tai nạn cho xe mô tô đang
lưu thông đúng chiều của họ. Bị cáo T cho rằng sau khi gây tai nạn thì cơ quan
chức năng mới gắn biển cấm rẽ trái thể hiện nơi đây là điểm nóng về tai nạn giao
thông và việc bị cáo không tuân thủ quy định đúng Luật Trật tự an toàn giao thông
đường bộ là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chứ không phải do bị hại lái xe
quá tốc độ như bị cáo trình bày nên cũng không có căn cứ để xem xét cho bị cáo
hưởng án treo.
[5] Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355 và Điều 356
Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2026/HS-ST ngày 22/6/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh về phần hình phạt đối với bị cáo T như quan
điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
[6] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và
Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm
do kháng cáo không được chấp nhận.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T. Giữ nguyên Bản án
hình sự sơ thẩm số 110/2026/HS-ST ngày 22-6-2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Tây Ninh về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức T.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
7
Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình
sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 3 - Tây Ninh;
- VKSND khu vực 3 - Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Công an tỉnh Tây Ninh;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Quốc Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 199/2026/HS-PT Bản án số 199/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 199/2026/HS-PT Bản án số 199/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất