Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 13/05/2025 của TAND huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 19/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 13/05/2025 của TAND huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Vĩnh Hưng (TAND tỉnh Long An)
Số hiệu: 19/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/05/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Ngân yêu cầu giải quyết
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN VĨNH HƯNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH LONG AN
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13-5-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đức Hảo
Ông Nguyễn Văn Lạc.
- Thư ký phiên toà: Ông Trọng Tâm - Thư Toà án nhân dân huyện
Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
30/2025/TLST-HNngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con, chia tài sản khi ly n” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị Thúy N, sinh năm 1993. HKTT: Ấp L, T,
huyện V, tỉnh Long An. Nơi ở hiện nay: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Có
mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1989. Nơi trú: Ấp L, T,
huyện V, tỉnh Long An. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1973;
2. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1984;
3. Bà Lê Thị Kim X, sinh năm 1972;
4. Ông Trần Văn H, sinh năm 1963.
Cùng địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Bà D, bà V xin vắng
mặt; bà X, ông H có mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
Trần Thị Thúy N trình bày:
N và ông T xác lập quan hệ hôn nhân trên sở tự nguyện, tổ
chức đám cưới có đăng ký kết hôn ngày 23/7/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T,
huyện V. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Long
An.
Trong q trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc
nhưng từ tháng 01/2025 xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ
chồng không còn hạnh phúc đã thân từ tháng 01/2025 cho đến nay. Nhận
thấy không thể tiếp tục duy tquan hệ hôn nhân được nữa nên N yêu cầu
được ly hôn với ông T.
Về con chung: Vợ chồng 02 con chung Nguyễn Minh K (nam) sinh
ngày 01/01/2020 Nguyễn Quốc K1 (nam), sinh ngày 02/9/2022. Trước đây,
ông T đi làm xa, mỗi tuần về nhà 01 lần, N người trực tiếp chăm sóc 02
con chung từ nhỏ. Từ tháng 01/2025, ông T N mâu thuẫn nên N về nhà
cha mẹ ruột ấp R, T, huyện V sinh sống, 02 con vẫn bên nhà ông T. Khi
ly hôn, N yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Minh K giao cháu Nguyễn
Quốc K1 cho ông T nuôi, không bên nào cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung, theo đơn khởi kiện, N cho rằng vợ chồng các tài
sản:
Tiền mặt 200.000.000 đồng do ông Trọng giữ, bà N yêu cầu chia đôi tiền
mặt mỗi người 100.000.000 đồng; 14 chỉ vàng 24kara (vợ chồng mua sắm trong
thời kỳ hôn nhân, hiện nay ông T đang giữ), bà N yêu cầu chia đôi mỗi người 07
chỉ vàng 24k. Vàng cưới cha mẹ ruột cho riêng bà N là 10 chỉ vàng 24kara (hiện
ông T đang giữ), N yêu cầu ông T trả lại. 01 xe máy hiệu Honda, loại Vision,
biển số 62D1 - 268.77 do Trần Thị Thúy N đứng tên cũng do ông T đang quản
lý. Bà N yêu cầu được sở hữu chiếc xe.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên hòa giải ngày 04/4/2025 tại phiên tòa ngày 13/5/2025 N
thay đổi một phần yêu cầu chia tài sản như sau: Bà N chỉ yêu cầu chia đôi giá trị
chiếc xe máy có giá trị 30.000.000 đồng, giao ông T được quyền sở hữu chiếc xe
yêu cầu ông T giao lại ½ giá trị 15.000.000 đồng. Đối với 10 chỉ vàng 24k
cha mẹ N cho trong ngày lvu quy là cho riêng bà N nên yêu cầu ông T trả
lại. Các tài sản còn lại bà N không yêu cầu.
Về con chung: Do ông T không đồng ý chia tách 02 con chung nên N
đồng ý nuôi 02 con chung yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 4.000.000
đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Bị đơn ông Nguyễn Đức T vắng mặt tại phiên tòa nhưng hể hiện ý
kiến trong phiên hòa giải ngày 18/3/2025 và ngày 04/4/2025 như sau:
3
Ông T thống nhất phần với trình bày của N về điều kiện kết hôn, về
con chung. Về phần mâu thuẫn vợ chồng tông T thống nhất một phần, ông T
cho rằng trong thời gian ông T đi làm xa nhà, N nhà mối quan hệ tình
cảm với người khác. Nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm
nay không còn nên ông T đồng ý ly hôn.
Về nuôi con chung: Ông T yêu cầu được nuôi dưỡng chăm sóc 02 con
chung Nguyễn Minh K (nam) sinh ngày 01/01/2020 và Nguyễn Quốc K1 (nam),
sinh ngày 02/9/2022 và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung hoặc ông
T giao cho bà N nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung và ông T đồng ý cấp dưỡng
theo quy định của pháp luật không muốn mỗi con sống mỗi nơi, chia cách
tình cảm anh em.
Về tài sản chung: Ông T thống nhất tài sản chung vợ chồng chiếc xe
máy máy hiệu Honda, loại Vision biển số 62D1-268.77 do N đứng tên giá
trị là 30.000.000 đồng hiện ông T đang quản lý, ông T đồng ý nhận sở hữu chiếc
xe giao cho bà N ½ giá trị chiếc xe là 15.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu của N yêu cầu ông Nguyễn Đức T trả lại 01 cây (10
chỉ) vàng 24kara do cha mẹ bà N cho trong ngày lễ vu quy thì ông T không đồng
ý, ông T cho rằng cha mẹ vợ cho chung hai vợ chồng ông T đã bán chi tiêu
hiện không còn.
Những người làm chứng trình bày: Cha, mẹ N là ông Trần Văn H
Thị Kim X xác định ông cho riêng con gái 10 chỉ vàng 24kara gồm
01 chiếc lắc tay 05 chỉ 01 chiếc nhẫn 05 chỉ trong lễ vu quy (còn gọi lễ
công bên nhà gái trước ngày rước dâu), không phải cho chung 2 vợ chồng
như ông T trình bày.
Nguyễn Thị Thùy D bà Nguyễn Thị V người hàng xóm của
nguyên đơn cũng xác định có chứng kiến việc ông H X cho con gái 10 chỉ
vàng 24kara gồm 01 chiếc lắc tay 05 chỉ và 01 chiếc nhẫn 05 chỉ trong lễ vu quy
(còn gọi là lễ công cô bên nhà gái trước ngày rước dâu), không phải cho chung 2
vợ chồng như ông T trình bày, hình ảnh chụp trong buổi lễ còn lưu lại N
đã nộp cho Tòa án. Hôm đưa dâu về nhà chồng, ông ngoại của dâu trình
với bên nhà trai việc bố mẹ cô dâu có cho cô dâu 10 chỉ vàng 24kara.
Kết quả xác minh của Tòa án: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do
ông T ghen tuông cớ rồi đuổi N về nhà cha mẹ ruột ttháng 01/2025 đến
nay. Ông T việc làm, thu nhập ổn định, còn N do từ khi lấy chồng chỉ
làm dâu nuôi con nên sống phụ thuộc ông T, hiện tại chưa có việc làm và thu
nhập.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký, Hội
đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các
đương sự, nguyên đơn và bị đơn đều chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
4
Xét về hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy N và ông Nguyễn Đức T có đăng ký
kết hôn, được Ủy ban nhân dân T, huyện V, tỉnh Long An cấp giấy chứng
nhận kết hôn vào ngày 23/7/2019, đây hôn nhân hợp pháp nên đề nghị giải
quyết theo Luật Hôn nhân gia đình.
Xét thấy, kể từ khi thụ lý giải quyết đơn ly hôn của bà N đến nay, Tòa án
đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho ông T và N hàn gắn tình cảm vợ
chồng. Nhưng, phía bà N vẫn cương quyết muốn ly hôn với ông T, còn ông T
cũng đồng ý ly hôn với N. Hơn nữa, theo hồ sơ thể hiện, từ tháng 01/2025 bà
N và ông T đã không còn sống chung, bà N đã về nhà cha mẹ ruột ở T sống, nên
mâu thuẫn giữa N với ông T đã mức trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
Về con chung, các bên thỏa thuận được việc nuôi dưỡng chăm c con
cái, nguyện vọng của N xin trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn
Minh K (nam) sinh ngày 01/01/2020 Nguyễn Quốc K1 (N1) sinh ngày
02/9/2022, đồng thời yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con với mức
4.000.000đ/tháng, ông T đồng ý và cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và
Gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Ông T thừa nhận cha mẹ bên N cho chung vợ
chồng 10 chỉ vàng 24kara nhưng đã bán hết đó chỉ lời khai 1 phía từ ông
không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh, trong khi bà N cho rằng cha mẹ ruột
của ông Trần Văn H, Thị Kim X cho riêng con gái 10 chỉ vàng
24kara trong đêm công cô, người làm chứng các Nguyễn Thị V và
Nguyễn Thị Thùy D hàng xóm, tham dự tiệc cưới chứng kiến chụp
hình làm kỷ niệm, chkhông phải tuyên bố cho chung tại đám cưới. Hôm đưa
dâu về nhà chồng, ông ngoại của dâu trình với bên nhà trai việc bố mẹ
dâu cho dâu 10 chỉ vàng 24kara. Chứng tỏ việc cho tặng 10 chỉ vàng
24kara ông H, X cho riêng N vào tối hôm lng bên nhà gái, chứ
không phải cho chung vợ chồng như ông T trình bày, nên yêu cầu của bà N là có
cơ sở chấp nhận.
Đối với chiếc xe Vision biển số 62D1-286.77 các bên thỏa thuận
giá 30.000.000 đồng, ông T nhận xe và trách nhiệm giao cho bà N
15.000.000đồng, xét thấy đây là thỏa thuận phù hợp quy định của pháp luật, nên
đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về nợ chung: Không có, nên không đề cập.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227 Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 19, 33, 43, 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia
đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
5
Căn cứ đơn khởi kiện, Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Ly n;
tranh chấp nuôi con; chia tài sản khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28
Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn nơi cư trú tại ấp L, xã T, huyện V nên Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Hưng thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, phợp với
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Trần Thị Thúy N ông Nguyễn Đức T
xác lập quan hệ hôn nhân trên sở tự nguyện, đăng ký kên hôn ngày
23/7/2019 tại Ủy ban nhân dân T, huyện V, tỉnh Long An nên hôn nhân
hợp pháp, việc N yêu cầu giải quyết ly hôn sđược xem xét giải quyết theo
Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng: Cả N ông T đều trình bày tình
trạng mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, hai người
đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2025 và đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi
nhận sự thuận tình ly hôn.
[2.2] V con chung: N và ông T 02 con chung hiện đang sống
cùng ông T. Bà N yêu cầu được nuôi hai con chung Nguyễn Minh K Nguyễn
Quốc K1 và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/tháng cho
đến khi con chung đủ 18 tuổi, yêu cầu của bà N cũng phù hợp với quy định của
pháp luật và phù hợp với ý kiến của ông T đã thể hiện tại biên bản hòa giải ngày
18/3/2025 04/4/2025 nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc thỏa thuận nuôi con
và chấp nhận yêu cầu của bà N về mức cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về yêu cầu chia tài sản: Ghi nhận sự tự nguyện thay đổi yêu cầu về
chia tài sản chung của N, do việc thay đổi này nằm trong phạm vi đơn khởi
kiện ban đầu đã được Tòa án thụ quyền tự định đoạt của đương stheo
quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.1] Đối với việc ông T bà N đã thỏa thuận được việc chia tài sản
chung chiếc xe máy máy hiệu Honda, loại Vision biển số 62D1-268.77 do
N đứng tên có giá trị là 30.000.000 đồng hiện ông T đang quản lý, ông T đồng ý
nhận sở hữu chiếc xe giao lại cho N ½ giá trị chiếc xe là 15.000.000 đồng
là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.2] Về yêu cầu của bà Trần Thị Thúy N buộc ông Nguyễn Đức T trả lại
10 chỉ vàng 24kara của cha mẹ N cho riêng N trong lễ vu quy xuất giá
hiện ông T đang giữ, ông T cũng thừa nhận cha mẹ bà N cho 10 chỉ vàng
24kara nhưng ông T cho rằng là cho chung hai vợ chồng và ông T đã bán để chi
tiêu trong gia đình, thấy rằng:
Lời khai của N phù hợp với lời khai của cha, mẹ bà N ông Trần
Văn H, bà Lê Thị Kim X và hai người làm chứng là người hàng xóm của bà N là
Nguyễn Thị Thùy D Nguyễn Thị V, đồng thời N cũng cung cấp
được hình ảnh chụp trong ngày lễ chứng minh cha mN cho riêng con gái
6
trong lễ vu quy (hay còn gọi lễ công bên gia đình nhà gái trước ngày rước
dâu) chỉ mình bà N, phù hợp với phong tục, tập quán địa phương, không
phải cho chung hai vợ chồng như ông T trình bày. Quá trình chung sống, N
cũng không tnguyện góp tài sản riêng này vào tài sản chung vợ chồng. Ông T
quản lý và cho rằng đã bán 10 chỉ vàng nói trên để chi tu trong gia đình nhưng
N không thừa nhận cho rằng khi N rời khỏi nhà chồng vào tháng
01/2025 thì 10 chỉ vàng 24k nói trên vẫn còn.
Ông T không cung cấp được chứng cứ chứng minh đây tài sản chung
không chứng minh được việc N đồng ý bán 10 chỉ vàng nói trên nên lời
trình bày của ông T không căn cứ. Do đó ông T nghĩa vụ giao trả lại tài
sản được tặng cho riêng cho bà N 10 chỉ vàng 24kara là phù hợp với quy định
tại Điều 43 Luật hôn nhân gia đình (giá vàng 24k tại thời điểm xét xử sơ
thẩm là 10.900.000 đồng/chỉ).
[4] Về án phí: Ông T N phải chịu án phí hôn nhân gia đình về việc
thuận tình ly hôn; án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với tài sản chung được
chia. Ông T phải chịu án phí dân sự thẩm gngạch đối với tài sản riêng
của bà N buộc ông T giao trả và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa phù hợp với quan điểm
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản
1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; Căn cứ các điều 19, 33, 43, 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Trần Thị Thúy N về “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
1. Về hôn nhân: Trần Thị Thúy N được ly hôn với ông Nguyễn Đức
T.
2. Về con chung: Ghi nhận sthỏa thuận của ông Nguyễn Đức T
Trần Thị Thúy N.
Giao 02 con chung Nguyễn Minh K (nam) sinh ngày 01/01/2020
Nguyễn Quốc K1 (nam), sinh ngày 02/9/2022 cho Trần Thị Thúy N trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc.
Do 02 con chung đang sống cùng ông Nguyễn Đức T nên buộc ông
Nguyễn Đức T nghĩa vụ giao 02 con chung Nguyễn Minh K (nam) sinh ngày
7
01/01/2020 Nguyễn Quốc K1 (nam), sinh ngày 02/9/2022 cho Trần Thị
Thúy N nuôi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Nguyễn Đức T nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung 4.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 hàng
tháng, bắt đầu cấp dưỡng từ thời điểm bà Trần Thị Thúy N thực hiện quyền trực
tiếp nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc
con chung không ai quyền ngăn cản. Trong trường hợp yêu cầu của cha,
mẹ hoặc nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân
gia đình, Tòa án thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc
việc cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung:
Giao ông Nguyễn Đức T được toàn quyền s hữu chiếc xe máy hiệu
Honda, loại Vision biển số 62D1-268.77 do Trần ThThúy N đứng tên hiện
ông T đang quản giá trị 30.000.000 đồng, ông Nguyễn Đức T nghĩa
vụ giao lại cho Trần Thị Thúy N ½ giá trị chiếc xe là 15.000.000 đồng (mười
lăm triệu đồng).
Trần Trần Thị Thúy N có nghĩa vụ thực hiện thủ tục sang tên chủ sở
hữu chiếc xe máy hiệu Honda, loại Vision biển số 62D1-268.77 cho ông
Nguyễn Đức T.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn, nếu bị đơn
chậm trả tiền cho nguyên đơn thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất
phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự là 10%/năm.
5. Buộc ông Nguyễn Đức T có nghĩa vụ giao trả cho bà Trần Thị Thúy N
10 chỉ vàng 24kara.
6. Về án phí:
6.1. Buộc Trần Thị Thúy N phải chịu 75.000 đồng tiền án phí hôn
nhân gia đình sơ thẩm 750.000 đồng án phí dân sự thm về chia tài sản
nộp ngân sách Nhà nước. Chuyển 825.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0002267 ngày
21/02/2025 sang tiền án phí. Hoàn trả cho Trần Thị Thúy N 6.089.500 đồng
(sáu triệu không trăm tám mươi chín nghìn năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí
còn thừa.
6.2. Buộc ông Nguyễn Đức T phải chịu 75.000 đồng tiền án p Hôn
nhân gia đình sơ thẩm; 300.000 đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con;
750.000 đồng tiền án phí dân sự thẩm về chia tài sản chung 5.450.000
đồng án phí dân sự thẩm đối với việc xác định 10 chỉ vàng 24kara thuộc sở
hữu riêng của N và buộc ông T nghĩa vụ giao trả cho N. Tổng số tiền án
8
thẩm phí ông Nguyễn Đức T phải chịu là 6.575.000 đồng (sáu triệu năm trăm
bảy mươi lăm nghìn đồng).
7.Về quyền kháng cáo: Đương smặt tại phiên tòa quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ktngày tuyên án. Đương svắng mặt tại
phiên tòa quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày nhận
được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Long An; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND, CC. THADS H.Vĩnh Hưng;
- Các đương sự;
- UBND xã T;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án
Huỳnh Thị Yến Linh
Tải về
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất