Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 19/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 19/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 19/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Vĩnh Tường (TAND tỉnh Vĩnh Phúc) |
| Số hiệu: | 19/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/04/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án Dân sự sơ thẩm Bùi Thị Đ - Bùi Văn T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 19/2025/DS - ST
Ngày 15 tháng 4 năm 2025
“V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế là
Quyền sử dụng đất ”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển
Ông Phan Duy Lục
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
tham gia phiên tòa: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường,
tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 101/2024/TLST
- DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế quyền
sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST- DS
ngày 12 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1949; Địa chỉ: Thôn T, xã L,
huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Bùi Thị Đ: Ông Vũ Văn
D và ông Lương Văn C là luật sư thuộc Công ty L2 và các cộng sự; Địa chỉ: Số
G, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Đều có mặt);
- Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện
V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Bùi Thị G, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc, (Có mặt);
2. Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc. (Có mặt);
2
3. Ông Bùi Văn H, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc, (Có mặt);
4. Ông Bùi Văn L, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc, (Vắng mặt);
Người đại diện cho ông Bùi Văn L: Bà Trần Thị D1, sinh năm 1971 (Vợ
ông L); địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị D1 và ông Bùi
Văn L: Ông Vũ Văn D là luật sư thuộc Công ty L2 và các cộng sự; Địa chỉ: Số
G, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 9 năm 2024 và những lời khai tiếp
theo tại phiên tòa bà Bùi Thị Đ trình bày:
Bố mẹ bà là cụ Bùi Văn T2 và cụ Nguyễn Thị Đ1 sinh được 06 người con
bao gồm: Bà là Bùi Thị Đ sinh năm 1949; bà Bùi Thị G sinh năm 1956; ông Bùi
Văn T sinh năm 1957; bà Bùi Thị T1 sinh năm 1962; ông Bùi Văn H sinh năm
1966 và ông Bùi Văn L sinh năm 1969. Cụ T2 chết ngày 17/11/1990, cụ Đ1 chết
ngày 06/11/2023, trước khi bố mẹ chết không để lại di chúc gì.
Khi còn sống 02 cụ tạo lập được khối tài sản là thửa đất số 120 (theo bản đồ
299) tờ bản đồ số 23 có diện tích 264m
2
(trong đó 200m
2
đất ở, 64m
2
đất vườn)
ở thôn T, xã B cũ (nay là xã L), huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, đất đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/01/1990 đứng tên hộ ông Bùi Văn T2.
Trên đất có một ngôi nhà cấp 4 ba gian lợp mái tôn cùng các công trình phụ trợ
khác hiện nay vợ chồng ông L đang sử dụng.
Khi mẹ bà là cụ Nguyễn Thị Đ1 còn sống, ngày 30 tháng 05 năm 2023 gia
đình bà đã họp có mặt đầy đủ 06 người con ký vào Biên bản họp gia đình về
việc thống nhất cử người đại diện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do hưởng thừa kế. Theo nội dung biên bản họp gia đình thì các thành
viên trong gia đình đều đồng ý thống nhất giao cho bà Trần Thị D1 (là vợ ông
Bùi Văn L) được quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc
đăng ký biến động quyền sử dụng đất, chia tách thửa đất nói trên. Các anh chị
em và mẹ bà đều ký vào biên bản họp và có xác nhận của UBND xã B (nay là xã
L). Sau khi mẹ bà chết, bà Trần Thị D1 đến UBND xã B (nay là xã L) để làm
thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Bùi Văn T có đơn đề
nghị ra UBND xã đề nghị dừng việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng
3
ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1, gia đình bà đã họp bàn nhưng không đi đến
thống nhất được với nhau. Nay để đảm bảo sự đoàn kết trong gia đình và tránh
những phức tạp rắc rối xảy ra tiếp theo, bà là chị gái lớn trong gia đình làm đơn
khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết phân chia di
sản thừa kế theo pháp luật tài sản của bố mẹ bà để lại bao gồm: Thửa đất số 120,
tờ bản đồ 23 có diện tích 264m
2
. Đối với tài sản trên đất là của vợ chồng ông L,
bà không yêu cầu giải quyết. Đối với di sản của bố mẹ để lại có 1/2 diện tích đất
là của cụ Bùi Văn T2 đến nay đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế nên bà yêu cầu
được áp dụng thời hiệu để giao toàn bộ phần di sản của cụ T2 cho vợ chồng Liên
D2 được quyền sử dụng. Diện tích đất còn lại của mẹ thì bà yêu cầu chia theo
pháp luật, kỷ phần thừa kế bà được hưởng thì tự nguyện tặng cho vợ chồng em
trai là Nguyễn Văn L1 và Trần Thị D1 toàn quyền sử dụng, bà không yêu cầu vợ
chồng ông L1 bà D1 phải thanh toán trả tiền cho bà.
- Bị đơn ông Bùi Văn T trình bày: Về quan hệ gia đình bố mẹ ông là cụ
Bùi Văn T2 và cụ Nguyễn Thị Đ1 sinh được 06 người con như bà Đ đã trình bày
là đúng. Khi còn sống bố mẹ ông có tài sản là thửa đất số 120, tờ bản đồ 23, diện
tích 264m
2
(trong đó 200m
2
đất ở, 64m
2
đất vườn) ở thôn T, xã B (nay là xã L),
huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đất đã được cấp GCNQSDĐ ngày 18/01/1990 đứng
tên hộ ông Bùi Văn T2.
Sau khi mẹ ông chết thì vợ ông L1 có đến nhà nhờ ông ký tên vào biên
bản để đi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông
L1, ông không xem nội dung văn bản viết gì mà đồng ý ký tên, tuy nhiên sau đó
vợ ông L1 là bà Trần Thị D1 lại đi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên vợ ông L1 để mục đích chia đất cho các con của ông L1 và
bà D1. Ông không đồng ý nên đã có đơn đề nghị ra UBND xã đề nghị dừng việc
cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ ông L1. Về biên bản họp gia đình ngày
30/5/2023 ông thừa nhận đúng là chữ ký của ông nhưng ông không ký trước mặt
UBND xã và ông cũng không có mặt tại buổi họp gia đình do vậy ông đề nghị
không công nhận văn bản họp gia đình.
Nay bà Đ có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại
thì quan điểm ông tại các buổi làm việc ông không nhất trí, đề nghị Toà án giải
quyết giữ nguyên đất của bố mẹ để làm nơi thờ cúng, không sang tên đất cho ai
trong gia đình. Tại phiên toà ông đề nghị phân chia tài sản thừa kế của bố mẹ để
lại theo pháp luật, ông xin được hưởng bằng đất vì lý do ông là con trai trưởng
4
nên ông phải làm nhà thờ cúng bố mẹ ông, bản thân ông L1 là người bị bệnh tâm
thần nên không thể thờ cúng bố mẹ.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Bùi Thị G, bà Bùi Thị T1 và ông Bùi Văn H đều trình bày: Về quan
hệ gia đình bố mẹ sinh được 6 anh chị em, tài sản của bố mẹ để lại cũng như nội
dung đã họp gia đình thống nhất nội dung theo như bà Đ là nguyên đơn đã trình
bày là đúng, các ông bà đồng ý thống nhất như bà Đ trình bày. Không bổ sung
thêm nội dung gì. Các ông bà cũng đề nghị Toà án xem xét, giải quyêt phân chia
thừa kế tài sản của mẹ để lại bao gồm: 1/2 diện tích của thửa đất số 120, tờ bản
đồ 23 còn lại 1/2 diện tích đất là của Bùi Văn T2 đến nay đã hết thời hiệu chia di
sản thừa kế nên các ông bà yêu cầu được áp dụng thời hiệu để giao toàn bộ phần
di sản của bố cho vợ chồng ông bà Liên D2 được quyền sử dụng. Diện tích đất
của mẹ yêu cầu chia theo pháp luật, kỷ phần thừa kế các ông bà được hưởng thì
các ông bà tự nguyện tặng cho vợ chồng ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 toàn
quyền sử dụng, các ông bà không yêu cầu vợ chồng ông L bà D1 phải thanh toán
trả tiền cho các ông bà.
2. Bà Trần Thị D1 trình bày: Bà là vợ của ông Bùi Văn L, do tình trạng
sức khoẻ, chồng bà bị bệnh tâm thần nên không thể đến Toà án để làm việc
được, bà là người đại diện cho chồng bà. Về quan hệ gia đình và tài sản bố mẹ
chồng để lại theo như bà Đ đã trình là đúng. Bà kết hôn về chung sống cùng ông
Liên từ năm 1999. Sau khi về chung sống vợ chồng bà ở cùng với mẹ chồng và
chăm sóc cụ Đ1 khi ốm đau cho đến khi chết. Các anh chị em chồng đều đã ở
riêng. Về quyền sử dụng đất là của bố mẹ chồng bà để lại, tài sản trên đất là do
vợ chồng bà làm bao gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 ba gian lợp mái tôn kèm theo các
công trình phụ trợ là chuồng lợn, chuồng gà, nhà vệ sinh, toàn bộ tài sản trên đất
là của vợ chồng làm không phải của bố mẹ chồng vì các công trình do bố mẹ
chồng làm đã lâu nên bị xuống cấp, không còn giá trị sử dụng nên vợ chồng bà
đã xây dựng lại. Toàn bộ tài sản nhà đất là do vợ chồng bà đang quản lý, sử
dụng. Khi mẹ chồng bà còn sống, các anh chị em của ông L đều thống nhất cho
ông L được thừa kế toàn bộ tài sản trên và giao cho bà là người đi làm thủ tục
đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Sau khi mẹ chồng chết, bà có liên hệ với
UBND xã để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận theo di nguyện của mẹ chồng bà
nhưng ông Bùi Văn T có đơn đề nghị ra UBND xã B đề nghị dừng việc cấp
Giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng bà và ra điều kiện vợ chồng bà phải cắt
5
cho ông T 100m
2
đất của bố mẹ để lại thì ông mới đồng ý cho vợ chồng bà làm
thủ tục cấp chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình không đồng ý nên đã sảy ra
tranh chấp.
Nay bà Đ có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ chồng
bà để lại thì quan điểm của bà cũng đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết phân
chia thừa kế theo yêu cầu của bà Đ. Đối với tài sản trên đất là của vợ chồng bà
nên đề nghị Toà án không phân chia. Các chị gái và ông H đã tự định đoạt cho
vợ chồng bà được toàn quyền sử dụng tài sản thừa kế thì bà cũng đồng ý vì lý do
bà đang chăm sóc và nuôi dưỡng ông L bị bệnh tâm thần, con trai bà cũng bị
câm điếc bẩm sinh nên các anh chị em trong gia đình cho vợ chồng bà quyền sử
dụng đất để bà trách nhiệm với chồng và các con. Bà cam kết tự nguyện chịu
toàn bộ các chi phí và án phí về việc phân chia di sản thừa kế, bà không có ý
kiến thắc mắc gì. Bà cũng yêu cầu áp dụng thời hiệu thừa kế để xác định phần di
sản thừa kế của cụ T2 để lại đã hết thời hiệu và giao tài sản cho vợ chồng bà
quản lý sử dụng. Đối với di sản thừa kế của cụ Đ1 để lại bà yêu cầu được trích
công sức trong việc duy trì, bảo quản tài sản cho vợ chồng bà theo quy định
pháp luật.
Xác minh tại UBND xã L ngày 25/02/2025 cho biết: Cụ Bùi Văn T2 và cụ
Nguyễn Thị Đ1 sinh được 06 người con chung gồm: Bùi Thị Đ sinh năm 1949;
Bùi Thị G sinh năm 1956; Bùi Văn T sinh năm 1957; Bùi Thị T1 sinh năm
1962; Bùi Văn H, sinh năm 1966 và Bùi Văn L, sinh năm 1969. Ngoài ra cụ T2
và cụ Đ1 không có người con đẻ và con nuôi nào khác.
Cụ T2 chết ngày ngày 17 tháng 11 năm 1990 và cụ Đ1 chết ngày 06 tháng
11 năm 2023. Khi còn sống hai cụ tạo lập được tài sản là Quyền sử dụng thửa
đất số 120, tờ bản đồ số 23 diện tích 264 m
2
(trong đó có 200m
2
đất ở và 64m
2
đất vườn) đã được Chủ tịch UBND huyện V (nay là huyện V) cấp GCNQSDĐ
ngày 18/01/1990 đứng tên ông Bùi Văn T2, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã L,
huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trên đất có một ngôi nhà cấp 4 ba gian lợp mái tôn
hiện nay vợ chồng ông L đang sử dụng, nguồn gốc thửa đất này là của cụ T2 và
cụ Đ1 tạo lập được. Căn cứ theo Sổ mục kê đất (không có năm lập) lưu tại
UBND xã L thể hiện: tại trang số 113, tờ bản đồ số 23A, thửa số 120a diện tích
264 m
2
tên chủ sử dụng: Ông Bùi Văn H. Sổ địa chính (không có năm lập)
quyển 11: Trang 182, tờ 23a, thửa 120a, diện tích 264m
2
, tên chủ sử dụng đất
Bùi Văn H sinh năm 1966. Qua kiểm tra thực địa thửa đất có diện tích là
6
255,4m
2
(có sơ đồ chi tiết kèn theo biên bản thẩm định ngày 27/11/2024). Trên
đất có các công trình là nhà xây cấp bốn đã cũ và công trình phụ, chuồng trại
chăn nuôi, toàn bộ tài sản trên đất là của vợ chồng ông L và bà D1. Lý do diện
tích đất thực tế đo đạc bị thiếu so với diện tích đất được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và diện tích đất theo VN2000 là do sai số đo đạc, các hộ xung
quanh đã sử dụng đất ổn định về mốc giới không có tranh chấp gì. Thửa đất cụ
Bùi Văn T2 để lại do vợ chồng ông Bùi Văn L bà Trần Thị D1 đang quản lý sử
dụng, ông Bùi Văn L có tiền sử là bị bệnh tâm thần và đã được cấp sổ điều trị
ngoại trú về tâm thần, mọi sinh hoạt của ông L do bà D1 chăm sóc hàng ngày.
Nay bà Bùi Thị Đ có đơn khởi kiện chia thừa kế đối với thửa đất cụ Bùi
Văn T2 để lại quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo
quy định của pháp luật, việc chia thừa kế được thực hiện đối với thửa đất đứng
tên cụ Bùi Văn T2 được chia đều cho đồng thừa kế. Tuy nhiên cần xem xét đến
công sức của vợ chồng ông L bà D1 ăn ở trên đất, các anh em ruột của ông L
hiện nay đều đã có nơi ăn ở khác không liên quan đến thửa đất nói trên.
Toà án tiến hành xem xét, thẩm định và định giá tài sản ngày 27/11/2024
đối với toà bộ tài sản là thửa đất số 120 tờ bản đồ 23 diện tích theo GCNQS đất
là 264m
2
. Kết quả định giá Quyền sử dụng đất trị giá 5.700.000đ/m
2
, nhà cấp 4
lợp mái tôn không có trần và công trình phụ trị giá 1.628.000đ/m
2
, sân gạch đất
nung trị giá 74.000đồng/m
2
, cổng sắt 500.000đồng/02 cánh; tường bao loan trụ
cổng trị giá 1.300.000đồng/m
2
. Về diện tích đất thực đo là 255,4m
2
, thiếu so với
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Nguyên nhân là do thay đổi mốc
giới, các bên không có tranh chấp gì. Các đương sự đồng ý với kết quả thẩm
định, định giá và không có ý kiến gì.
Ngày 01/4/2025 Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã xác minh về giá
đất theo Quyết định số 05/2025/QĐ-UBND ngày 17/01/2025 của UBND tỉnh V
quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc: Thửa đất số 120, tờ bản
đồ số 23 diện tích 264 m
2
ở thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thuộc vị trí 2
tuyến đường đất thổ cư hai bên đường huyện lộ, giá đất là 7.200.000đồng/m
2
.
Tại phiên toà các đương sự nhất trí với giá đất nêu trên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Cụ Bùi Văn T2 (chết ngày 17 tháng 11
năm 1990); Cụ Nguyễn Thị Đ1 (chết ngày 06 tháng 11 năm 2023) khi hai cụ
chết không để lại di chúc gì. Khi còn sống hai cụ sinh được 06 người con gồm:
Bùi Thị Đ; Bùi Thị G; Bùi Văn T; Bùi Thị T1; Bùi Văn H và ông Bùi Văn L.
7
Khi còn sống 02 cụ tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất, theo bản đồ
299 UBND xã B đang quản lý đất thuộc tờ bản đồ số 23, số thửa 120 có diện
tích 264m
2
trong đó 200m
2
đất ở, 64m
2
đất vườn đã được Chủ tịch UBND huyện
V (nay là huyện V) cấp GCNQSDĐ ngày 18/01/1990 đứng tên hộ ông Bùi Văn
T2. Đo đạc thực tế hiện nay diện tích đất thụt giảm chỉ có 255,4m
2
. Ngày
21/08/1999 bà D1 xây dựng với ông Bùi Văn L, vì ông Bùi Văn L bị bệnh nên
vợ chồng ông L bà D1 ở với mẹ chồng. Năm 2016 do nhà của các cụ làm từ
ngày xưa là cấp 4 bị hỏng, dột nát nên vợ chồng bà D1 đã làm lại nhà mới, nhà
cấp 4 ba gian lợp mái tôn kèm theo các công trình phụ trợ làm mới là chuồng
lợn, chuồng gà, nhà vệ sinh. Khi cụ Đ1 còn sống ngày 30 tháng 05 năm 2023 có
họp gia đình gồm có mặt đầy đủ 06 người con ký vào Biên bản bàn giao cho vợ
chồng (Bùi Văn L và Trần Thị D1) được thừa kế tài sản trên có xác nhận của
UBND xã B. Ngày 16 tháng 11 năm 2023 cụ Đ1 chết, sau khi cụ Đ1 chết bà D1
ra UBND xã B làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận theo Biên bản họp gia đình
ngày 30 tháng 05 năm 2023 nhưng ông Bùi Văn T có đơn đề nghị ra UBND xã
B đề nghị dừng việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng bà D1. Nay bà
Bùi Thị Đ có đơn khởi kiện ông Bùi Văn T ra Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
Tường về việc tranh chấp tài sản của bố mẹ để lại là có căn cứ và phù hợp với
các quy định của pháp luật dân sự.
Cụ T2 chết ngày 17 tháng 11 năm 1990, đến nay đã 34 năm, về thời hiệu
mở thừa kế đã hết nên vợ chồng ông L đang quản lý tài sản này 1/2 tài sản thưa
kế của 255,4m
2
là 127,7m
2
đương nhiên vợ chồng ông L được hưởng.
Cụ Nguyễn Thị Đ1 ngày 06 tháng 11 năm 2023, thời hịêu vẫn còn, kỷ phần
tài sản của cụ Đ1 là 127,7m
2
. Trước khi chia di sản thừa kế cần trích ra cho vợ
chồng ông L và 02 cháu khoảng 100m
2
đất, còn lại 27,7m
2
chia đều cho những
người thuộc diện và hàng thừa kế. Tài sản trên cần giao cho vợ chồng ông L và
thanh toán kỷ phần thừa kế cho ông T là 5m
2
và thanh toán bằng tiền cho ông
Bùi Văn T.
Ngoài ra, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cảu nguyên đơn bổ sung
yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đ1 cho 4 người con là bà Đ, bà G, bà T1 và
ông L vì lý do ông H và ông T đã được bố mẹ cho riêng đất từ trước nên không
được chia di sản thừa kế.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát
biểu quan điểm về việc tuân theo các quy định tố tụng của Thẩm phán về quá
trình nhận đơn, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng pháp luật tố
tụng dân sự; Tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, nguyên
8
đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh
Tường không có yêu cầu hay kiến nghị gì.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 26;
Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, Điều 611, Điều
612, Điều 613, Điều 623, Điều 649; Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân
sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức T3, miễn, giảm, T3, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Đ về việc chia di sản thừa kế
của cụ Bùi Văn T2 và cụ Nguyễn Thị Đ1 để lại là thửa đất số 120 tờ bản đồ số
23 diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 264m
2
(trong
đó 200m
2
đất ở, 64m
2
đất vườn), diện tích thực tế đo đạc là 255,4m
2
ở thôn T, xã
L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chia cho vợ chồng ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 được quyền sử dụng
toàn bộ thửa đất và buộc ông L, bà D1 phải thanh toán trả ông Bùi Văn T số tiền
là 144.000.000 đồng.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Bà Bùi Thị Đ có đơn khởi
kiện ông Bùi Văn T yêu cầu về việc chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
đứng tên cụ Bùi Văn T2 để lại nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh
chấp chia di sản thừa kế” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân
sự. Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc,
thửa đất tranh chấp ở tại xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân huyện Vĩnh Tường.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế: Theo quy định khoản 1
Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia
di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Cụ Bùi Văn
9
T2 chết ngày 17 tháng 11 năm 1990 đến nay đã trên 30 năm nên thời hiệu khởi
kiện chia thừa kế không còn, các đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Hội
đồng xét xử xác định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết. Cụ Nguyễn Thị Đ1
chết ngày 06 tháng 11 năm 2023 nên thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế vẫn
còn trong thời hiệu khởi kiện.
[2]. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Xác định hàng thừa kế: Cụ Bùi Văn T2 và cụ Nguyễn Thị Đ1 sinh
được 06 người con chung gồm: Bùi Thị Đ; Bùi Thị G; Bùi Văn T; Bùi Thị T1;
Bùi Văn H và Bùi Văn L. Ngoài ra cụ T2 và cụ Đ1 không có người con đẻ và
con nuôi nào khác. Bố mẹ cụ T2 và cụ Đ1 đã chết trước thời điểm cụ T2 và cụ
Đ1 chết. Do vậy xác định hàng thừa kế thứ nhất của Nguyễn Thị Đ1 là 06 người
con hiện còn sống là các ông bà Bùi Thị Đ; Bùi Thị G; Bùi Văn T; Bùi Thị T1;
Bùi Văn H và Bùi Văn L.
[2.2] Xác định di sản thừa kế: Cụ Bùi Văn T2 chết ngày 17 tháng 11 năm
1990 và cụ Nguyễn Thị Đ1 chết ngày 06 tháng 11 năm 2023. Trước khi chết, hai
cụ không để lại di chúc gì. Khi còn sống các cụ có tạo lập được tài sản bao gồm:
Quyền sử dụng thửa đất số 120, tờ bản đồ số 23 diện tích 264 m
2
(trong đó có
200m
2
đất ở và 64m
2
đất vườn) đã được cấp GCNQSDĐ ngày 18/01/1990 đứng
tên ông Bùi Văn T2, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Qua kiểm tra thực địa thửa đất có diện tích là 255,4m
2
(có sơ đồ chi tiết kèm
theo biên bản thẩm định ngày 27/11/2024). Trên đất có các công trình là nhà xây
cấp bốn đã cũ và công trình phụ, chuồng trại chăn nuôi, toàn bộ tài sản trên đất
là của vợ chồng ông L và bà D1. Lý do diện tích đất thực tế đo đạc bị thiếu so
với diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất
theo VN2000 là do sai số đo đạc, các hộ xung quanh đã sử dụng đất ổn định về
mốc giới không có tranh chấp gì. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nộp bản phô tô biên bản họp
gia đình ngày 30/5/2023 (trước khi cụ Đ1 chết) có nội dung là giao cho bà Trần
Thị D1 (vợ ông L) liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, biên bản có chữ ký của cụ Đ1 và các con, có xác nhận
của UBND xã B cũ tuy nhiên bị đơn là ông T không đồng ý. Xét thấy văn bản
nêu trên không phải là di chúc mà chỉ là văn bản thoả thuận để bà Trần Thị D1
được quyền thay mặt gia đình liên hệ đến các cơ quan hành chính làm các thủ
tục liên quan đến thửa đất nói trên. Do vậy các đương sự hiện nay yêu cầu chia
di sản thừa kế theo quy định pháp luật là có căn cứ.
10
Đối với thửa đất là di sản thừa kế, qua xác minh tại UBND xã L ngày
25/02/2025 xác định: Theo Sổ mục kê đất lưu tại UBND xã L thể hiện: tại trang
số 113, tờ bản đồ số 23A, thửa số 120a diện tích 264 m
2
tên chủ sử dụng: Bùi
Văn H. Sổ địa chính thể hiện: Quyển số 11, trang 182, tờ 23a, thửa 120a, diện
tích 264m
2
, chủ sử dụng đất Bùi Văn H (sinh năm 1966) vợ là Lê Thị Đ2. Tại
phiên toà các đương sự đều xác định quá trình kê khai đất là do cụ Bùi Văn T2
đi kê khai đất nên không hiểu lý do vì sao đứng tên chủ sử dụng là ông Bùi Văn
H1. Bản thân ông H cũng khẳng định chưa bao giờ đi kê khai thửa đất nói trên.
Quá trình xác minh về nguồn gốc đất cũng như các đương sự là hàng thừa kế thứ
nhất đều khẳng định nguồn gốc thửa đất trên là của cụ T2 và cụ Đ1 tạo lập được.
Do vậy có căn cứ xác định di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ T2 là Quyền sử dụng
đất thửa số 120 tờ bản đồ 23 diện tích 264m
2
ở thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh
Phúc. Trong đó 1/2 di sản thừa kế là của Bùi Văn T2 để lại đã hết thời hiệu thừa
kế nên giao cho vợ chồng ông Bùi Văn L, bà Trần Thị D1 tiếp tục quản lý, sử
dụng, còn lại 1/2 di sản thừa kế là của Nguyễn Thị Đ1 để lại được chia thừa kế
theo quy định pháp luật.
Về giá trị tài sản thừa kế: Theo biên bản định giá ngày 27/11/2024 Quyền
sử dụng đất trị giá 5.700.000đ/m
2
. Tuy nhiên ngày 01/4/2025 Toà án nhân dân
huyện Vĩnh Tường đã xác minh về giá đất theo Quyết định số 05/2025/QĐ-
UBND ngày 17/01/2025 của UBND tỉnh V quy định về giá các loại đất trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc: Thửa đất số 120, tờ bản đồ số 23 diện tích 264 m
2
ở thôn T,
xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thuộc vị trí 2 tuyến đường đất thổ cư hai bên
đường huyện lộ, giá đất là 7.200.000đồng/m
2
. Tại phiên toà các đương sự đều
nhất trí lựa chọn giá trị là 7.200.000đồng/m
2
, không có ai yêu cầu định giá lại tài
sản. Do vậy cần xác định theo giá xác minh ngày 01/4/2025 để làm căn cứ xác
định giá trị tài sản thừa kế.
[2.3] Về cách thức chia thừa kế tài sản: Quyền sử dụng đất thửa số 120 tờ
bản đồ 23 diện tích 264m
2
(Trong đó 200m
2
đất ở và 64m
2
đất vườn) theo giấy
CNQSD đất (diện tích đất thực đo là 255,4m
2
) ở thôn T, xã L, huyện V, tỉnh
Vĩnh Phúc là tài sản của cụ T2 và cụ Đ1 được chia làm 2 phần, mỗi phần là 132
m
2
theo giấy chứng nhận QSD đất và 127,7 m
2
theo diện tích đất thực tế đo đạc.
Sau khi cụ T2 và cụ Đ1 chết thì vợ chồng ông L và bà D1 là người quản lý,
trông nom đối với toàn bộ phần diện tích đất của hai cụ để lại. Do phần di sản
thừa kế của cụ T2 đã hết thời hiệu khởi kiện nên giao cho vợ chồng ông L, bà
D1 toàn quyền quản lý, sử dụng. Đối với phần di sản của cụ Đ1 để lại là 1/2 diện
11
tích đất của thửa số 120 tờ bản đồ 23 diện tích thực tế đo đạc là 127,7 m
2
(trong
đó 100m
2
đất ở và 27,7m
2
đất vườn) được trích lại công sức cho vợ chồng ông L
và bà D1 7,7m
2
đất trong khối di sản của cụ Đ1 để lại. Như vậy diện tích đất của
cụ Đ1 còn lại là 120m
2
(trong đó 100m
2
đất ở và 20m
2
đất vườn) trị giá 120 m
2
x
7.200.000đồng/m
2
= 864.000.000đồng được chia đều cho những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ1 là bà Bùi Thị Đ; bà Bùi Thị G; ông Bùi Văn T;
bà Bùi Thị T1; ông Bùi Văn H và ông Bùi Văn L theo quy định pháp luật, mỗi
người được hưởng 20m
2
đất tương đương 144.000.000 đồng. Đối với tài sản trên
phần đất di sản của cụ Đ1 các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
Xác nhận các đồng thừa kế là bà Đ, bà G, bà T1 và ông H tự nguyện tặng
cho vợ chồng ông L, bà D1 kỷ phần thừa kế được hưởng và không yêu cầu
thanh toán giá trị tài sản. Xét thấy yêu cầu của các bên là tự nguyện nên cần
được chấp nhận.
Căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 220 Luật đất đai năm 2024 quy định
“Các thửa đất sau khi tách thửa phải bảo đảm diện tích tối thiểu với loại đất
đang sử dụng theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”; Tại điểm b khoản 2
Điều 12 Quyết định số 46/2024/QĐ-UBND ngày 15/10/2024 của UBND tỉnh V
đã quy định “ Tại khu vực nông thôn (các xã): Thửa đất có đất ở sau tách thửa
để hình thành thửa đất mới phải đảm bảo diện tích đất ở tối thiểu 80 m
2
, chiều
rộng cạnh tiếp giáp đường (lối đi) của thửa đất tối thiểu 04m, chiều sâu thửa
đất tối thiểu là 10m”. Do diện tích đất được chia cho ông T chỉ còn 20m
2
đất nên
không đủ điều kiện để làm thủ tục tách thửa nên Hội đồng xét xử xem xét buộc
các đồng thừa kế khác thanh toán bằng tiền trị giá diện tích đất mà ông T được
chia.
Như vậy, căn cứ vào diện tích đất thực tế sử dụng cũng như nhu cầu sử
dụng đất, cần phân chia diện tích đất thực tế như sau:
Giao cho vợ chồng ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 được quyền quản lý,
sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất số 120 tờ bản đồ 23 diện tích 264m
2
(trong đó
200m
2
đất ở và 64m
2
đất vườn) theo giấy CNQSD đất đứng tên hộ ông Bùi Văn
T2, diện tích đất thực đo đạc thực tế là 255,4m
2
(Trong đó 200m
2
đất ở và
55,4m
2
đất vườn) ở thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Buộc vợ chồng ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 có nghĩa vụ thanh toán trả ông
Bùi Văn T phần diện tích đất được chia thừa kế là 20m
2
trị giá bằng tiền là 20m
2
x 7.2000.00đồng/m
2
= 144.000.000 đồng.
12
Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy quan điểm đề nghị giải quyết vụ án
của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần được chấp nhận. Đối với yêu cầu
của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu trích công sức 100m
2
đất cho vợ
chồng ông L và bà D1 là chưa phù hợp bởi lẽ: Vợ chồng ông L bà D1 đã được
giao sử dụng 1/2 diện tích thửa đất là di sản đã hết thời hiệu của cụ T2 để lại nên
Hội đồng xét xử xác định trích công sức cho vợ chồng ông L, bà D1 diện tích
7,7m
2
trong tổng diện tích đất 127,7m
2
của cụ Đ1 để lại là phù hợp. Đối với yêu
cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng ông T
và ông H không được chia di sản thừa kế của cụ Đ1 để lại là không phù hợp với
Điều 649 và 651 Bộ luật Dân sự nên không được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Trong thời hạn giải quyết vụ án nguyên đơn là bà
Bùi Thị Đ đã nộp tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định và định giá tài sản.
Tại phiên toà bà Đ không đề nghị các bên phải nộp tiền chi phí xem xét thẩm
định và định giá tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí giá ngạch tài sản tương
đương với tài sản thừa kế được hưởng. Xét thấy bà Đ, bà G, ông T, bà T1 đều là
người cao tuổi (trên 60 tuổi) có yêu cầu được miễn tiền án phí nên Hội đồng xét
xử miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đ, bà G, ông T, bà T1. Ông Bùi
Văn L là người tâm thần nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Bùi
Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần thừa kế được hưởng như
sau: 21,28m
2
x 7.200.000đồng/m
2
= 153.216.000 đồng x 5% = 7.660.000đồng.
Xác nhận bà Trần Thị D1 tự nguyện nộp tiền án phí thay cho ông Bùi Văn H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều
623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật
dân sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 220 Luật đất đai năm 2024; điểm b khoản 2
Điều 12 Quyết định số 46/2024/QĐ-UBND ngày 15/10/2024 của UBND tỉnh V;
Khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều
157 và Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án
Tuyên xử:
13
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Đ về việc
phân chia di sản thừa kế của cụ Bùi Văn T2 và cụ Nguyễn Thị Đ1 để lại là toàn
bộ diện tích thửa đất số 120 tờ bản đồ 23 diện tích 264m
2
(trong đó 200m
2
đất ở
và 64m
2
đất vườn) theo giấy CNQSD đất đứng tên hộ ông Bùi Văn T2, diện tích
đất đo đạc thực tế là 255,4m
2
(Trong đó 200m
2
đất ở và 55,4m
2
đất vườn) ở thôn
T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Giao cho vợ chồng ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 được quyền quản lý,
sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất số 120 tờ bản đồ 23 diện tích 264m
2
(trong đó
200m
2
đất ở và 64m
2
đất vườn) theo giấy CNQSD đất đứng tên hộ ông Bùi Văn
T2, diện tích đất đo đạc thực tế là 255,4m
2
(Trong đó 200m
2
đất ở và 55,4m
2
đất
vườn) ở thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Buộc vợ chồng ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 có nghĩa vụ thanh toán
trả ông T phần diện tích đất được chia thừa kế là 20m
2
đất trị giá bằng tiền là
144.000.000đồng.
Ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để điều chỉnh, đăng ký biến động
quyền sử dụng đất khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Bùi Văn T có đơn yêu cầu
thi hành án, nếu ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 chậm trả tiền cho ông Bùi
Văn T thì ông Bùi Văn L và bà Trần Thị D1 còn phải trả lãi đối với số tiền chậm
trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được
xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất
quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì
thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà
Bùi Thị Đ; bà Bùi Thị G; ông Bùi Văn T; bà Bùi Thị T1 và ông Bùi Văn L. Bà
Trần Thị D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.660.000đồng.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

14
Nơi nhận:
- VKSND huyện Vĩnh Tường;
- Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Hải
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng