Bản án số 181/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 181/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 181/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Tam Kỳ (TAND tỉnh Quảng Nam)
Số hiệu: 181/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc và giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng đặt cọc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Bản án số: 181/2024/DS-ST
Ngày: 15/7/2024
V/v Tranh chấp yêu cầu hủy
hợp đồng đặt cọc và giải
quyết hậu quả của việc hủy
hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Bé
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông
Bà Trần Thị Đông
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp, Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam K tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị
Hà Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ mở phiên
tòa công khai xét xử sơ thẩm ván dân sự thụ s283/2023/TLST-DS ngày 12 tháng
12 năm 2023 về việc Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc giải quyết hậu quả
của việc hủy hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
76A/2024/QĐXXST-DS ngày 14/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mai Huy V, sinh năm 1973;
Địa chỉ: 71/20 Phan C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Đỗ Thị L, sinh năm 1984; địa
chỉ: Khối phố M, phường T, thành phố K, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Quốc H, sinh năm 1981 Đoàn Bảo V, sinh năm 1982;
cùng địa chỉ: Khối phố M, phường A, thành phố K, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Bùi Thị T, sinh năm 1978; địa chỉ: 36 Nguyễn T, phường A, thành phố K,
tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Đ, T, huyện P, tỉnh
Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải tại phiên tòa, nguyên đơn
ông Mai Huy V người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đỗ Thị L trình bày:
Vào ngày 29/8/2023, ông Mai Huy V vợ chồng ông Trần Quốc H, Đoàn Bảo V
thoả thuận đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 145, tờ
bản đồ số 18, diện tích: 500m
2
theo Giấy chứng nhận QSD đất vào sổ số:
CH000274/Q28T37 do UBND thành phố K cấp ngày 20/11/2012; giá chuyển nhượng
1.250.000.000 (một tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng
Hai bên thống nhất: Ngày 29/8/2023 bên mua (Mai Huy V) đặt cọc cho bên bán
(ông Trần Quốc H, Đoàn Bảo V) số tiền 100.000.000
(một trăm triệu) đồng, đã thực
hiện xong. Hẹn đến 30/10/2023 hai bên cùng ra văn phòng công chứng để cùng thực
hiện thanh toán số tiền còn lại công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất. Tuy nhiên, đến ngày 30/10/2023 ông V không thấy bên bán liên hệ lại để thực
hiện hợp đồng nên ông V chủ động tìm cách liên hệ nhưng không liên hệ được. Ngày
06/11/2023 ông V tìm nhiều cách để liên hệ với bên bán nhưng vẫn không nhận được trả
lời. Ông V trao đổi với bên môi giới (anh Nguyễn Hữu T) để hỏi về tình hình, anh T
cho biết bên bán đang làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó,
ông V gặp V để đưa ra thỏa thuận lại ngày ra ng chứng ngày 15/11/2023. Và
ông V cũng nhờ chị T chuyển lời cho bên bán ông V chờ đến ngày 15/11/2023, yêu
cầu bên bán phải ra công chứng để tiến hành thủ tục sang tên theo thoả thuận. Nhưng
thêm lần nữa, bên bán không liên lạc lại với ông V để thực hiện thoả thuận. Mặc
ngày 15/11/2023 ông V đến chờ ông H, V tại Văn phòng Công chứng để kết
Hợp đồng vẫn không nhận được câu trả lời thoả đáng. Thấy rằng việc thực hiện thoả
thuận của bên bán không nghiêm túc, không đúng với quy định của Giấy nhận đặt cọc
ngày 29/08/2023 dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông V. Vì vậy, ông V yêu cầu Tgiải quyết:
- Huỷ Giấy nhận đặt cọc” ngày 29/8/2023 giữa ông Trần Quốc H, Đoàn Bảo
V và ông Mai Huy V.
- Buộc ông Trần Quốc H Đoàn Bảo V phải trả lại số tiền đặt cọc
100.000.000
(một trăm triệu) đồng, đồng thời phải bồi thường cho ông V gấp đôi số tiền
cọc là 200.000.000
(hai trăm triệu) đồng theo như điều khoản trong giấy nhận đặt cọc đã
thoả thuận. Tổng số tiền ông V yêu cầu ông Trần Quốc H, Đoàn Bảo V phải thanh
toán là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
- Tính lãi suất trên số tiền 300.000.000 theo lãi suất ngân hàng từ ngày
16/11/2023 đến thời điểm xét xử.
- Theo bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Quốc H
Đn Bảo V trình bày:
Chiều ngày 29/8/2013 V được Ông Nguyễn Hữu T (môi giới nhà đất) nhắn tin
đến quán phê C đường L, TP K để gặp bên mua đất. Khi đến nơi bà V thấy 5
người gồm ông Nguyễn Hữu T (môi giới nhà đất), ông Mai Huy V (mua đất), bà Bùi Thị
T (giáo viên Trường Đ, TP T), vợ chồng ông N, V (môi giới nhà đất). Sau khi trao
đổi, ông Nguyễn Hữu T viết Giấy nhận tiền đặt cọc và đưa V xem, bà V hỏi “Như
thế nào thì bị đền cọc”. Ông T mọi người trả lời V không bán thì sẽ bị đền cọc.
3
Ông V không mua thì sẽ mất cọc. V nhìn vào giấy nhận cọc và hỏi tiếp “Các anh ghi
ngày 30/10/2023 tiến hành ra công chứng, vậy nếu đến ngày 30/10/2023 V chưa
cấp đổi lại sổ đỏ kịp thì sẽ như thế nào”. Ông T, ông V trả lời “Chị yên tâm, chúng tôi sẽ
tạo điều kiện đchị cấp đổi lại sổ nên có mục thỏa thuận khác, thời gian làm hồ giấy
tờ sẽ có xê dịch về thời gian 2 bên thương lượng cùng nhau ra bìa trước sẽ báo bên mua
10 - 15 ngày ra công chứng”. Sau khi nghe bên môi giới bên mua trả lời như thế, bà
V mới yên tâm cung cấp số tài khoản ngân hàng vào giấy nhận cọc. Sau đó, V
rút sổ đỏ từ ngân hàng Agribank về để đi làm cấp đổi lại sổ đỏ tại một cửa thành phố K.
Quá trình làm thủ tục, đất V ông H biến động giảm do làm đường tông nên
V điện thoại cho ông T và ông T cho V số điện thoại của ông V để V liên lạc
báo tình hình. Sau khi trao đổi qua lại 2 bên đã thống nhất bà V sẽ giảm cho ông V
20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đất biến động giảm 19,5m² đất vườn. Trong quá
trình làm cấp đổi sổ V thường xuyên cung cấp cho ông T thông tin quá trình làm
ông T báo lại với ông V, T việc sổ đỏ không kịp thời gian. Ngày 06/11/2023 ông
T, V ông V gặp nhau tại quán phê C đường L, Tp. K. Tại đây, V cũng
tiếp tục báo quá trình cấp đổi lại sổ đỏ có tăng bước biến động giảm nên thời gian bị kéo
dài nhưng ông V không đồng ý. Ông yêu cầu đến ngày 15/11/2023 nếu không ra sổ
(hoặc đền cọc) thì ông sẽ khởi kiện V. Mặc V đã giải thích, cố gắng đàm phán
nhưng ông V một mực gây như vậy nên đến ngày 11/11/2023 V gửi tin nhắn hẹn
ông V sang ngày 12/11/2023 nếu ông V vẫn muốn mua thì chờ bà V thêm ít ngày (có
gửi giấy hẹn của một cửa TP K), nếu trường hợp ông V không muốn mua nữa thì V
gửi lại tiền ông V đã đặt cọc. Đúng ngày giờ V đến quán ngồi chờ cùng ông T
nhưng ông V không đến, V điện thoại thì ông V báo ông V không đến và sẽ kiện nếu
không kịp thời gian. Ngày 14/11/2023 ông T có chuyển tin nhắn zalo của ông V gửi qua
T, bà T chụp màn hình zalo gửi qua cho ông T, sau đó ông T chuyển tiếp qua zalo
V với nội dung: Ngày 25/11/2023 ngày anh gia hạn để vợ chồng chủ đất ra công
chứng đất thửa đất số 145, từ bản đồ số 18, số sổ CH 000 274/Q2837”. Đúng ngày
25/11/2023, vợ chồng V cùng ông T thực hiện theo tin nhắn yêu cầu của ông V ra
Văn phòng công chứng Đinh Thị H số 87 Trần Hưng Đ, TP K để tiến hành chuyển
nhượng song ông V không đến, V chụp hình, quay video, viết giấy làm chứng rồi
gửi qua zalo ông V. Ngày 19/12/2023 bà V nhiều lần điện thoại số di động nhưng ông V
không nghe máy, bà V nhắn tin qua zalo là “Tôi vẫn bán đất cho anh, tôi cho anh 10 -
15 ngày để chuẩn bị tiền, tờng hợp anh không muốn mua nữa thì liên lạc lại với tôi để
trao đổi tiền nhận lại cọc” nhưng ông V không trả lời. Chưa nói đến ngày 14/11/2023
ông V chụp hình gửi qua zalo ông T yêu cầu ông T chuyển qua V với nội dung vu
khống bà V lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Bản thân bà V đã nhiều lần muốn trả lại tiền cọc
nếu ông V không muốn mua. Đối với các yêu cầu khởi kiện của ông V, vợ chồng V
đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc “Giấy nhận đặt cọc” ngày 29/8/2023, đồng ý trả lại số tiền
nhận đặt cọc 100.000.000 đồng, còn các yêu cầu khởi kiện còn lại của ông V, vợ chồng
bà V không đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến:
4
Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ đã thụ lý, giải quyết vụ án đúng quy định của
pháp luật. Trong qua trình thụ giải quyết, Thẩm phán đã yêu cầu đương sự cung cấp
chứng cứ, thu thập chứng cứ; Thông báo mphiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ hòa giải; tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong giải quyết vụ án. Từ khi thụ vụ án đến thời
điểm hiện tại các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo các quy
định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ quy định tại các Điều 117, 118, 328, 423, 427 Bộ luật
Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận một phần yêu cầu yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, tuyên: Huỷ bỏ “Giấy nhận đặt cọc” ngày 29/8/2023 giữa ông Trần
Quốc H, Đoàn Bảo V ông Mai Huy V; buộc ông Trần Quốc H Đoàn Bảo V
trả lại cho ông Mai Huy V số tiền 100.000.000 đồng, ghi nhận sự tự nguyện của ông
Trần Quốc H và Đoàn Bảo V về việc tự nguyện trả tiền lãi trên số tiền cọc 100.000.000đ
đã nhận của ông Mai Huy V; không chấp nhận yêu cầu của ông Mai Huy V về việc buộc
ông Trần Quốc H Đoàn Bảo V bồi thường gấp đôi số tiền cọc 200.000.000
đồng.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Mai Huy V yêu cầu tuyên hủy Giấy nhận đặt cọc” ngày
29/8/2024, yêu cầu bị đơn ông Trần Quốc H, Đoàn Bảo V trả lại tiền đặt cọc đã nhận
bồi thường gấp đôi số tiền đã nhận cọc theo hợp đồng đặt cọc hai bên đã kết. Bị
đơn ông Trần Quốc H, Đoàn Bảo V trú tại phường A, thành phố K, tỉnh Quảng
Nam. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án
“Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc giải quyết hậu quả của việc hủy hợp
đồng đặt cọc”, ván thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Người làm chứng ông Nguyễn Hữu T, Bùi Thị T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng
trước đó ông T, bà T đã lời khai trực tiếp với Tòa án. Căn cứ quy định tại khoản 2
Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[1] Về nội dung:
Quá trình giải quyết ván tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn bị đơn trình bày thống nhất các nội dung: Ngày 29/8/2023, tại
quán cà phê C đường L, phường A, thành phố K giữa nguyên đơn ông Mai Huy V và b
đơn ông Trần Quốc H, bà Đoàn Bảo V tự nguyện xác lập giao dịch “Giấy nhận đặt cọc”,
để đảm bảo chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất tại thửa đất số 145, tờ bản đồ số
18, diện tích 500m
2
tại N, thành phố K, tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BK 064883
5
ngày 20/11/2012 điều chỉnh biến động sang tên ông H V vào ngày 25/11/2015, giá
chuyển nhượng 1.250.000.000 (một tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng; ông Mai Huy V
đã giao vợ chồng ông H bà V đã nhận số tiền đặt cọc 100.000.000 (mt trăm triệu)
đồng, hai bên thỏa thuận ngày 30/10/2023 các bên tiến hành hợp đồng chuyển
nhượng tại phòng công chứng ông V sẽ giao toàn bộ số tiền còn lại, nội dung thừa
nhận của các đương sự phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng đặt cọc tựa đề “Giấy nhận đặt cọc” ngày
29/8/2023 xác lập giữa ông Mai Huy V vợ chồng ông Trần Quốc H Đoàn Bảo V
đảm bảo hình thức, nội dung, điều kiện hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật
Dân sự năm 2015 nên các bên phải thực hiện đúng nội dung thỏa thuận tại hợp đồng. Tại
mục “Thỏa thuận khác” của “Giấy nhận đặt cọc” các bên thỏa thuận nội dung “Thời
gian làm hồ giấy tờ sẽ dịch thời gian hai bên thương lượng cùng nhau; ra bìa
trước sẽ báo cho bên mua trước 10-15 ngày để công chứng”. Thực hiện nội dung này,
nguyên đơn đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng, do biết được diện tích
đất chuyển nhượng giảm, việc làm giấy tờ sẽ chậm trễ nên ông V đã gặp trực tiếp bà V
để yêu cầu V ông H ngày 15/11/2023 ra hợp đồng tại phòng công chứng, tiếp đến
ngày 14/11/2023 ông V nhắn cho T, T gửi cho ông T ông T chuyển tiếp đến
cho bà V tin nhắn với nội dung: “... Ngày 25/11/2023 là ngày anh gia hạn đvợ chồng
chủ đất ra công chứng lô đất thửa đất số 45, tờ bản đồ số 18, số sổ CH000274/Q28T37.
Theo hợp đồng đặt cọc đã quá hạn 16 ngày so với ngày giao dịch của hợp đồng cọc
giữa anh với vợ chồng chị V. Anh nhờ chị T chuyển lời của anh qua em để em liên lạc
với vợ chồng chị V được biết lúc 10h30 tại Văn phòng công chứng Đinh Thị H địa chỉ
87 Trần Hưng Đ để thực hiện công chứng đất trên qua cho anh”, nguyên đơn ông V
người làm chứng T cho rằng thời gian gia hạn 15/11/2023 nhưng ghi nhầm
ngày 25/11/2023, ngày 15/11/2023 ông H bà V không ra ký hợp đồng tại phòng công
chứng vi phạm hợp đồng. Ông H, V thì cho rằng sau khi nhận thông tin yêu cầu
ngày 15/11/2023 phải ra công chứng hợp đồng, vợ chồng bà đã không đồng ý yêu
cầu ông V gia hạn thêm thời hạn ra công chứng hợp đồng thời điểm này đã giấy
hẹn của Bộ phận tiếp nhận trả kết quả của Trung tâm hành chính công K ngày
29/11/2023 mới trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi bà cũng có chụp hình
“Phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả” gởi cho ông V. Xét thấy, căn cứ vào nội dung các
tin nhắn trong các “Vi bằng” các bên đương sự cung cấp, không thể hiện nội dung
sau khi nhận thông tin đề nghị thay đổi thời gian ký hợp đồng tại phòng công chứng của
ông V, vợ chồng ông H V đồng ý đối với yêu cầu này của ông V, tại vi bằng
cũng thể hiện bà V thông tin cho ông V biết việc làm giấy tờ bị chậm trễ do đất
biến động giảm yêu cầu ông V gia hạn thêm thời hạn ra công chứng hợp đồng nên
không sxem đây thời hạn các bên “thương lượng lại” để kết hợp đồng
chuyển nhượng tại phòng công chứng.
Tại văn bản số 237/CNVPĐK ngày 29/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố K các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện, ngày
31/8/2023 bà Đoàn Bảo V đã nộp hồ sơ tại Trung tâm hành chính công thành phố K yêu
cầu thực hiện mảnh đo đạc chỉnh bản đồ địa chính đối với diện tích đất hai bên đặt
6
cọc để chuyển nhượng, khi mảnh trích đo địa chính ngày 27/9/2023, phát sinh diện
tích đất biến động giảm 19,5m
2
(do làm đường tông nông thôn-xác nhận của
UBND xã N) nên thời gian làm giấy tờ bị kéo dài đến ngày 23/11/2023 Văn phòng
Đăng Đất đai Quảng Nam Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
và tài sản khác gắn liền với đất, ngày 24/11/2023 V mới nhận Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất tại Trung tâm
hành chính công thành phố K.
Như vậy, sở xác định nguyên nhân hai bên không thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng theo đúng thời hạn đã thỏa thuận tại “Giấy
nhận đặt cọc” ngày 29/8/2023 do nguyên nhân khách quan-diện tích đất các bên
chuyển nhượng biến động giảm do làm đường tông nông thôn nên việc thực hiện
trình tự, thủ tục của quan nhà nước về việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất bị kéo dài chứ không phải do nguyên nhân chủ quan của vợ chồng bà V ông H, ông
V. Nay ông V yêu cầu huỷ bỏ “Giấy nhận đặt cọc” ngày 29/8/2023, yêu cầu này của ông
V được V, ông H đồng ý nên Hội đồng xét xử sở chấp nhận. Do hủy hợp đồng
nên ông H V phải trả lại cho ông V số tiền đặt cọc đã nhận là 100.000.000 đồng. Đối
với yêu cầu của ông V yêu cầu vợ chồng ông H bà V phải bồi thường gấp đôi số tiền cọc
200.000.000 đồng không sở chấp nhận bởi như đã phân tích trên, nguyên nhân
không thực hiện được đúng thời gian thỏa thuận trong hợp đồng để ra hợp đồng
chuyển nhượng tại phòng công chứng do nguyên nhân khách quan chứ không phải do
lỗi của vợ chồng bà V ông H nên bà V ông H không có nghĩa v phải bồi thường.
Đối với yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về việc trả lãi suất
trên số tiền 300.000.000 đồng, tính từ ngày 16/11/2023 đến thời điểm giải quyết xong vụ
án, lãi suất theo mức lãi suất quy định của ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên
bản hòa giải ngày 23/4/2024 đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày nội dung
này nhưng không có đơn khởi kiện bổ sung theo quy định nên Hội đồng xét xử không có
sở xem xét. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị đơn tự nguyện trả tiền lãi đối với số tiền
100.000.000 đồng đã nhận cọc với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 29/10/2023 đến thời
điểm xét xử vụ án với số tiền 7.835.616 (Bảy triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn sáu
trăm mười sáu) đồng, xét thấy sự tự nguyện này của bđơn phù hợp với quy định của
pháp luật, phù hợp thực tế nên ghi nhận.
Nguyên đơn ông Mai Huy V phải chịu án phí dân s thẩm với số tiền
10.000.000 (Mười triệu) đồng; bị đơn ông Trần Quốc H bà Đoàn Bảo V phải chịu án phí
dân s thẩm 5.391.780 (Năm triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám
mươi) đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 118, 132, 328, 423, 427 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
7
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Huy V đối với
bị đơn ông Trần Quốc H Đoàn Bảo V về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng đặt
cọc và giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng đặt cọc”.
Hủy văn bản có tựa đề “Giấy nhận đặt cọc” ngày 29/8/2023 giữa ông Trần Quốc H,
bà Đoàn Bảo V ông Mai Huy V.
Vợ chồng Trần Quốc H bà Đoàn Bảo V nghĩa vụ thanh toán cho ông Mai
Huy V tổng số tiền 107.835.616 (Một trăm lẻ bảy triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn
sáu trăm mười sáu) đồng, bao gồm: 100.000.000 đồng đặt cọc đã nhận theo “Giấy nhận
đặt cọc” ngày 29/8/2023 và tiền lãi trên số tiền 100.000.000 đồng đã nhận cọc là
7.835.616 (Bảy triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu) đồng.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật người được thi hành án đơn yêu cầu
thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì còn phải chịu
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Huy V đối với bị
đơn ông Trần Quốc H bà Đoàn Bảo V về việc yêu cầu ông Trần Quốc H bà Đoàn Bảo V
bồi thường với số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng.
3. Án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn Mai Huy V phải chịu 10.000.000 (Mười
triệu) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp 7.500.000 đồng tại biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001090 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành
án dân sthành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, ông Mai Huy V phải nộp tiếp số tiền
2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Bị đơn ông Trần Quốc H và bà Đoàn Bảo V
phải chịu 5.391.780 (năm triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi) đồng.
Các đương sự quyền kháng cáo bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày kể t
ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo thủ tục phúc
thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Tam Kỳ; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Tòa án tỉnh, VKSND tỉnh;
- Chi cục THADS Tam Kỳ;
- Các đương sự; (Đã ký)
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
Phan Thị Bé
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
10
Tải về
Bản án số 181/2024/DS-ST Bản án số 181/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 181/2024/DS-ST Bản án số 181/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất