Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 08/05/2024 của TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 18/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2024/DS-ST ngày 08/05/2024 của TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Quảng Ninh (TAND tỉnh Quảng Bình) |
| Số hiệu: | 18/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty S yêu cầu chị D thanh toán hợp đồng cầm cố |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 18/2024/DS - ST
Ngày: 08 – 5 – 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Nhân và Ông Nguyễn Xuân Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Trang Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng
Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
05/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 01 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố
tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng
3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: A N, phường B, thành phố V, tỉnh
Nghệ An; Người đại diện theo pháp luật: Ông Prart J - Chức vụ: Giám đốc; Người
đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Chính L, địa chỉ: Số A H, thị trấn K, huyện L, tỉnh
Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn: Bà Trương Thị X, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Q,
tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ hai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, địa chỉ: Thôn C,
xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2023, bản tự khai và trong quá trình
giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn
ông Trần Chính L trình bày:
Vào ngày 25/5/2023 thông qua Hợp đồng cầm cố số HVM230501009NA21X,
Chi nhánh H – Công ty TNHH S đã giải ngân cho bà Trương Thị X số tiền cầm cố

2
cụ thể: 17.600.000 đồng. Công ty TNHH S - Chi nhánh H nhận bảo đảm khoản tiền
cầm cố trên cũng thông qua Hợp đồng cầm cố số HVM230501009NA21X, số đăng
ký giao dịch đảm bảo trên hệ thống Đăng ký trực tuyến của cục Đ:
Giaodichdambao/botuphap: số 1512084324 theo web:
https://dktructuyen.moj.gov.vn/ với tài sản cầm cố là chiếc xe máy: HONDA
VISION mang biển kiểm soát 73G1-326.98, số khung: RLHJK0311MZ051947, số
máy: JK03E5258203, thuộc quyền sở hữu của bà Trương Thị X.
Ngoài ra, phía bị đơn bà Trương Thị X đã có Giấy ủy quyền ngày 25/5/2023
cho Công ty TNHH S - Chi nhánh H với nội dung, bên nhận ủy quyền được thay
mặt bên ủy quyền “quản lý, sử dụng, định đoạt (cho thuê, bán) chiếc xe mang biển
kiểm soát 73G1-326.98”. Trong ngày 25/5/2023, bà Trương Thị X đã có Giấy mượn
xe gửi Công ty TNHH S - Chi nhánh H xin mượn lại chiến xe mang biển kiểm soát
73G1-326.98 đã được cầm cố trên trong thời hạn một tháng từ ngày 25/5/2023 đến
hết ngày 25/6/2023. Phí bảo dưỡng và hao mòm xe trong thời gian mượn xe là
528.000 đồng/tháng. Nếu quá thời hạn trên mà chị X không trả xe thì bà X sẽ vẫn
chịu chi phí bảo dưỡng và hao mòn xe theo thỏa thuận tại Giấy mượn xe và phía
nguyên đơn đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho phía bị đơn.
Theo nội dung của Hợp đồng cầm cố số HVM230501009NA21X ngày
25/5/2023, thời hạn vay là 06 tháng, kể từ ngày 25/5/2023 đến hết ngày 25/11/2023,
lãi suất cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế, tính từ ngày kí hợp đồng và nhận
tiền. Tuy nhiên, kể từ ngày 25/8/2023 cho đến nay đã quá hạn hợp đồng trễ 258
ngày, bà X vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như đúng cam kết cho dù bên
nhận cầm cố là Công ty TNHH S đã liên hệ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn trốn
tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ dù đã quá thời hạn cầm cố từ lâu. Hơn nữa
chiếc xe này đã cầm cố, phía bà X đã mượn lại của công ty trong thời hạn 01 tháng
(từ ngày 25/5/2023 đến hết ngày 25/6/2023), quá hạn đã 09 tháng nhưng bà X vẫn
chưa mang trả lại tài sản cầm cố trên cho Công ty TNHH S. Để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình, căn cứ vào Hợp đồng cầm cố số HVM230501009NA21X
ngày 25/5/2023 cũng như các tài liệu liên quan khác, Công ty TNHH S khởi kiện bà
Trương Thị X ra Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh để buộc bà Trương Thị X phải
thực hiện những nghĩa vụ sau: Yêu cầu bị đơn bà Trương Thị X phải giao trả lại
chiếc xe HONDA VISION mang biển kiểm soát 73G1-326.98, số khung:
RLHJK0311MZ051947, số máy: JK03E5258203 đã cầm cố mà phía bị đơn đã mượn
lại của Công ty TNHH S, để hai bên thực hiện việc thanh lý hợp đồng cầm cố và bàn
giao tài sản và giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật; trường hợp bà Trương
Thị X không thể trả lại xe cầm cố, bà X có nghĩa vụ phải thanh toán cả gốc lẫn lãi
thông qua hợp đồng cầm cố tài sản khoản tiền tính đến ngày xét xử 08/5/2024 là
13.900.000 đồng, bao gồm: Gốc: 12.648.000 đồng, lãi: 1.252.000 đồng (1.1%/
tháng).
Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền Công ty TNHH S xin được rút yêu cầu
khởi kiện về nội dung buộc bà Trương Thị X phải trả phí hao mòn: 4.752.000 đồng
(528.000 đồng/ tháng) và trả lại chiếc xe HONDA VISION mang biển kiểm soát
73G1-326.98, số khung: RLHJK0311MZ051947, số máy: JK03E5258203 cầm cố
mà phía bị đơn đã mượn lại của Công ty TNHH S, để hai bên thực hiện việc thanh

3
lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản và giấy tờ liên quan theo quy định của pháp
luật.
Còn đối với yêu cầu bị đơn bà Trương Thị X có nghĩa vụ phải thanh toán cả
gốc lẫn lãi thông qua hợp đồng cầm cố tài sản tổng số tiền tính đến ngày 08/5/2024
là 13.900.000 đồng, bao gồm: Gốc: 12.648.000 đồng, lãi: 1.252.000 đồng (1.1%/
tháng) thì phía đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH S vẫn giữ nguyên yêu
cầu. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh có quan điểm: Trong
thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp tiếp cận công
khai chứng cứ và phiên hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án, nhưng bị đơn bà Trương Thị X và ông Nguyễn Văn C không có
mặt nên các bên đương sự không tự thỏa thuận được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra
xét xử theo quy định của pháp luật.
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Về việc thụ lý vụ
án: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản, bị đơn có địa chỉ thường trú
tại thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình nên Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh
thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định pháp luật.
* Việc tuân theo pháp luật của HĐXX và Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay,
HĐXX và thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp
luật từ thủ tục bắt đầu phiên tòa đến phần xét hỏi, tranh luận theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
* Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải
quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng tại các
phiên họp, các phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Trương Thị X và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C vắng mặt không có lý do.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã không thực hiện đúng các quy
định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 309, Điều 311, Điều 468 Bộ
luật dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S.
Buộc bà Trương Thị X phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH S tổng số
tiền gốc và lãi tính đến ngày 08/5/2024 là 13.900.000 đồng, bao gồm: gốc:
12.648.000 đồng, lãi: 1.252.000 đồng (1.1%/ tháng), Thời hạn thanh toán: Ngay khi
bản án có hiệu lực.
Đình chỉ giải quyết về yêu cầu bị đơn bà Trương Thị X phải trả phí hao mòn:
4.752.000 đồng (528.000 đồng/ tháng) và giao trả lại chiếc xe HONDA VISION
mang biển kiểm soát 73G1-326.98, số khung: RLHJK0311MZ051947, số máy:
JK03E5258203 đã cầm cố mà phía bị đơn đã mượn lại của Công ty TNHH S, để hai
bên thực hiện việc thanh lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản và giấy tờ liên quan
theo quy định của pháp luật của nguyên đơn Công ty TNHH S.

4
Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy
định của pháp luật; trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Trương Thị X có địa chỉ tại: Thôn
C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản
1, Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án,
cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Công ty TNHH S khởi kiện yêu cầu bị đơn bà
Trương Thị X phải giao trả lại chiếc xe HONDA VISION mang biển kiểm soát
73G1-326.98, số khung: RLHJK0311MZ051947, số máy: JK03E5258203 đã cầm
cố mà phía bị đơn đã mượn lại của Công ty TNHH S, để hai bên thực hiện việc thanh
lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản và giấy tờ liên quan theo quy định của pháp
luật; trường hợp bà Trương Thị X không thể trả lại xe cầm cố, bà X có nghĩa vụ
phải thanh toán cả gốc lẫn lãi thông qua hợp đồng cầm cố tài sản khoản tiền
13.900.000 đồng. Vì vậy đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng cầm cố theo quy định
tại Điều 309 Bộ luật dân sự năm 2015; tranh chấp phát sinh giữa tổ chức và cá nhân,
đây là tranh chấp phát sinh trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 26 Bộ luật
tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên
đương sự đến Tòa án để tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của
pháp luật, nguyên đơn đã đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp công khai,
tiếp cận chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập của Tòa án.
Đối với bị đơn bà Trương Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn C không đến Tòa án làm bản tự khai cũng như vắng mặt tại các lần
Tòa án triệu tập sau đó. Để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy triệu tập
qua đường bưu điện và niêm yết công khai nhưng bà X, ông C vẫn cố tình vắng mặt
tại các buổi làm việc do Tòa án triệu tập. Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, qua tra hệ thống Dữ liệu dân sự và
hồ sơ lưu trữ, Công an xã H xác minh kết quả như sau: Trương Thị X, sinh ngày:
10/6/1996, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng
Bình, số định danh cá nhân: 044196004373. Nguyễn Văn C, sinh ngày 17/10/1997,
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, số
định danh cá nhân: 038097010831. Hiện nay, bà Trương Thị X và ông Nguyễn Văn
C không có mặt tại địa phương, không đăng ký tạm trú ở địa phương khác.
Toà án thông báo cho các bên đương sự đến để tiến hành phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng chỉ có nguyên đơn có

5
mặt còn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nên
Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập
biên bản không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật
tố tụng dân sự. Do đó Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
17/2024/QĐST-DS ngày 25/3/2024 và tiến hành niêm yết tại địa phương nơi bị đơn
bị đơn bà Trương Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn
C cư trú. Ngày 17/4/2024, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên bị đơn bà Trương
Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C vắng mặt tại
phiên tòa lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227
Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-DS ngày
17/4/2024 và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày
08/5/2024 đồng thời tiến hành thủ tục niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa và các
văn bản tố tụng tại thôn C và trụ sở UBND xã H -nơi bị đơn bà Trương Thị X và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C cư trú. Tại phiên tòa hôm
nay, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của
Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Trương Thị X và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C.
[1.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ
Công văn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp tài liệu chứng cứ. Tại phiên tòa
hôm nay có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân theo quy định tại khoản
2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét hợp đồng cầm cố: Ngày 25/5/2023, bà Trương Thị X thông qua
hợp đồng cầm cố số HVM230501009NA21X cầm cố 01 xe mô tô, nhãn hiệu
HONDA VISION mang biển kiểm soát 73G1-326.98, số khung:
RLHJK0311MZ051947, số máy: JK03E5258203 với số tiền 17.600.000 đồng, lãi
suất cố định là 1,1%/tháng tại Công ty TNHH S - Chi nhánh H, địa chỉ: Số A H, thị
trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình; mã số chi nhánh: 2901807716-152 cấp ngày
02/02/2023 tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình. Xét thấy, hợp đồng cầm cố
tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng
hợp pháp phù hợp với quy định với Điều 309 Bộ luật dân sự năm 2015. Trong quá
trình thực hiện hợp đồng bà X không trả tiền gốc cho Công ty TNHH S khi đến hạn
là vi phạm nghĩa vụ theo Điều 311 Bộ luật dân sự năm 2015. Công ty TNHH S khởi
kiện yêu cầu bà Trương Thị X có nghĩa vụ trả số tiền gốc đã nhận tại hợp đồng cầm
cố tính đến ngày 08/5/2024 là 12.648.000 đồng là phù hợp nên chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu tính lãi: Công ty TNHH S có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm
đồ, nên yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật đối với số tiền 12.648.000 đồng
từ ngày 25/5/2023 đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm là có căn cứ. Do đó, căn cứ khoản
6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ và điểm a
khoản 2 Điều 4 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2029 hướng dẫn áp
dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

6
Lãi suất tiền vay cầm cố mà các bên cùng thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố,
phụ lục Hợp đồng và Giấy mượn xe là không trái với các quy định pháp luật, nên
yêu cầu này của Công ty TNHH S là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015 nên cần chấp nhận. Trong đó tiền nợ lãi 1.252.000 đồng.
[2.3]. Đối với yêu cầu phải trả phí hao mòn 4.752.000 đồng (528.000 đồng/
tháng) và yêu cầu giao trả lại chiếc xe HONDA VISION mang biển kiểm soát 73G1-
326.98, số khung: RLHJK0311MZ051947, số máy: JK03E5258203 đã cầm cố mà
phía bị đơn đã mượn lại của Công ty TNHH S. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền
của Công ty TNHH S rút yêu cầu buộc bà Trương Thị X phải trả phí hao mòn
4.752.000 đồng (528.000 đồng/ tháng) và giao trả lại chiếc xe HONDA VISION
mang biển kiểm soát 73G1-326.98, số khung: RLHJK0311MZ051947, số máy:
JK03E5258203 đã cầm cố. Xét việc rút yêu cầu giải quyết phải trả phí hao mòn số
tiền 4.752.000 đồng và giao trả xe 73G1-326.98 của đại diện theo ủy quyền của
Công ty TNHH S là tự nguyện, cần được chấp nhận. Hội đồng xét xử đình chỉ giải
quyết yêu cầu này của Công ty TNHH S là phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ
luật tố tụng dân sự.
Từ các mục [2.1], [2.2], [2.3], Hội đồng xét xử buộc bà Trương Thị X có
nghĩa vụ trả Công ty TNHH S số tiền gốc 12.648.000 đồng, số tiền lãi 1.252.000
đồng. Tổng cộng là 13.900.000 đồng (Mười ba triệu, chín trăm nghìn đồng).
[2.4] Xét, đối với việc Công ty TNHH S nhận cầm giấy chứng nhận đăng ký
xe mô tô, gắn máy của bà Trương Thị X, các bên không đăng ký giao dịch bảo đảm
tại cơ quan có thẩm quyền, nên giao dịch chưa phát sinh hiệu lực. Vì vậy, việc Công
ty TNHH S nhận cầm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của bà Trương
Thị X là không phù hợp pháp luật. Do đó, ngay sau khi bà Trương Thị X thực hiện
xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH S có trách nhiệm giao trả lại giấy chứng
nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của bà Trương Thị X.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 củaNghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy banthường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửdụng án phí, lệ
phí Tòa án:
- Do yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S được chấp nhận nên bị đơn chị
Trương Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% trên tổng số tiền là: 13.900.000
đồng x 5% = 695.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
- Công ty TNHH S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho
Công ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí 387.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án BLTU/23 số 0003769 ngày 26/01/2024 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định tại Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:

7
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều
147; Điều 227; Điều 244; Điều 266; Điều 269; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 116,119, 309, 310, 311, 314, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S đối với bà Trương Thị
X.
Buộc bà Trương Thị X phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH S số tiền
nợ tính đến ngày 08/5/2024 là: 13.900.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm nghìn
đồng), trong đó bao gồm: Tiền nợ gốc: 12.648.000 đồng. Tiền nợ lãi: 1.252.000 đồng
(lãi suất 1.1% x 09 tháng x nợ gốc).
Bà Trương Thị X còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 09/5/2024
cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ gốc, nợ lãi cho Công ty TNHH S theo mức
lãi suất, phí mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố và phụ lục hợp đồng cầm
cố ngày 25/5/2023.
2. Đình chỉ giải quyết về yêu cầu bị đơn bà Trương Thị X phải trả phí bảo
dưỡng , phí hao mòn số tiền 4.752.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn
đồng) và yêu cầu trả lại chiếc xe HONDA VISION mang biển kiểm soát 73G1-
326.98, số khung: RLHJK0311MZ051947, số máy: JK03E5258203 đã cầm cố mà
phía bị đơn đã mượn lại của Công ty TNHH S, để hai bên thực hiện việc thanh lý
hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản và giấy tờ liên quan theo quy định của pháp
luật của nguyên đơn Công ty TNHH S.
3. Ngay sau khi bà Trương Thị X thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty
TNHH S có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy của bà
Trương Thị X của xe máy mang biển kiểm soát 73G1-326.98.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bị đơn bà Trương Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch
để sung quỹ Nhà nước là 695.000 đồng (Sáu trăm, chín mươi lăm nghìn đồng).
- Hoàn trả lại cho Công ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí 387.000 đồng đã
nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án BLTU/23 số 0003769 ngày
26/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dận sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.

8
6. Án xử công khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt có quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/5/2024). Đối với
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- VKSND huyện Quảng Ninh;
- Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Châu Mạnh Cường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm