Bản án số 327/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 327/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 327/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 327/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Bà Đinh Thị Mai Th; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST, ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 327/2026/DS-PT Bản án số 327/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 327/2026/DS-PT Bản án số 327/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 327/2026/DS-PT
Ngày: 24 - 6 - 2026
“V/v: Kiện đòi đất bị lấn chiếm”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn.
Các Thẩm phán: 1. Ông Phạm Cao Gia;
2. Bà Nguyễn Thị My My
- Tphiên toà: Trương Thị Mai Anh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Thị Bích Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 202/2026/TLPT-DS, ngày
19/03/2026, về việc Kiện đòi đất bị lấn chiếm”, do Bản án dân sự thẩm số
03/2026/DS-ST, ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 264/2026/QĐ-PT, ngày
18/5/2026 Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 313/2026/QĐ-PT, ngày
02/6/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đinh Thị Mai Th, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số 316/5/11 NCT,
tổ dân phố 10, phường TA, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đinh Xuân T Luật sư
thuộc Văn phòng luật sư AVL; Địa chỉ: 278A đường LTK, phường BMT, tỉnh Đắk
Lắk ( mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1966 ; Địa chỉ: Số 316/5/13 NCT, tổ
dân phố 10, phường TA, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đinh Hoàng N; sinh năm 1983; Địa chỉ: Hẻm 316/5/11 NCT, phường
TA, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
+ Sít AL; sinh năm 1956; Địa chỉ: Hẻm 316/5/11 NCT, phường TA, tỉnh
Đắk Lắk (vắng mặt).
2
Người đại diện theo ủy quyền của Ông Đinh Hoàng N và Bà Sít AL: Ông Đinh
Xuân T Luật thuộc Văn phòng luật AVL; Địa chỉ: 278A đường LTK, phường
BMT, tỉnh Đắk Lắk ( mặt).
+ Lương Thị Hồng Y; sinh năm 1966; Địa chỉ: 316/5/13 NCT, tổ dân phố
10, phường TA, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền ca Y: Ông Phạm Quang S, sinh năm 1984;
Địa chỉ thường trú: 59A Buôn Krông A, phường TA, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh
LTT Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Điệp Thị Phương N Chức vụ: Trưởng
phòng Khách hàng (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 63 LTT, phường BMT, tnh Đắk Lắk.
+ Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Tổ dân phố 7, phường
TL, tỉnh Đắk Lắk ( mặt).
Địa chỉ liên hệ: Tổ dân phố 7, hẻm 52 Trần Quý Cáp, phường TL, tỉnh Đắk
Lắk.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Bà Đinh Thị Mai Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn Đinh Thị Mai Th trình bày nội dung như
sau:
Nguồn gốc của thửa đất: Bà Th nhận chuyển nhượng từ Sít AL (mẹ của
Th) từ năm 2023, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản gắn liền với đất số DL 443121, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk
Lắk cấp ngày 14/4/2023 thửa đất số 225, tờ bản đồ số 44, diện tích 200.9m
2
. Thửa
đất trên được tách ra từ thửa đất số 48 tờ bản đồ số 44, diện tích 533.9m
2
tọa lạc tại
phường TA (thành phố BMT cũ), tỉnh Đắk Lắk đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AP 913283 do Ủy ban nhân dân thành phố BMT cấp ngày
19/11/2009 cho hBà Sít AL ông Đinh Văn Đ (đã chết), sau đó đến năm 2023 thì
thửa đất của Sit AL tách làm 03 thửa, gồm: Thửa đất số 165, bà Sit AL chuyển
nhượng lần đầu cho ông Vũ Nguyên H, sau đó được chuyển nhượng cho nhiều
người khác; thửa đất số 224, Sít AL tặng cho Ông Đinh Hoàng N (bà Sít AL
ông N sinh sống trên thửa đất này) và thửa số 225 Sít AL tặng cho Bà Th. Thửa
đất trên Sít AL nhận chuyển nhượng từ năm 1986, đến năm 1998 t AL
làm một căn nhà gỗ để ở trên phần đất của Bà Th nhận chuyển nhượng (thửa 255),
sau đó phá bỏ vào năm 2009 (hiện vẫn còn móng nhà).
Ranh giới giữa phần đất nhà Bà Sít AL (đất Th hiện nay) với Ông Huỳnh
Ngọc T1 là bờ tường xây gạch giăng lưới B40, thời điểm ông T1 xây bờ rào trên
3
khoảng 2006, trong đó xây một phần hàng rào phía sau là xây cũ khoảng 5m dài, còn
hơn 14m dài phía trước là hoàn toàn xây năm mới năm 2024.
Khoảng tháng 9/2024, ông T1 y hàng lại hàng rào (gạch) giáp ranh với thửa
đất nhà Th, tại thời điểm đó Thảo mới phát hiện có lấn sang một phần đất nhà
Th. Cụ thể phần đất mà ông T1 lấn chiếm có tổng diện tích khoảng 10m² (trong đó:
Chiều rộng =0,4m, chiều dài = hết đất); hàng rào xây gạch, cao khoảng 2m, dài hết
đất (Thuộc thửa đất số 225, tờ bản đồ số 44); Có tứ cận: Phía Đông giáp đường đi,
phía Tây giáp đường đi; Phía Nam giáp đất Ông Huỳnh Ngọc T1; Phía Bắc giáp đất
Đinh Thị Mai Th. Địa chỉ đất tọa lạc tại TPD 10, phường TA, thành phố BMT,
tỉnh Đắk Lắk (nay là phường TA, tỉnh Đắk Lắk). Tổng giá trị tài sản tranh chấp
khoảng 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng).
Tại thời điểm ông T1 y tường rào, Th có ý kiến về việc ông T1 y lấn
đất, đề nghị ông T1 tháo dỡ trả lại hiện trạng đất cho Bà Th, lúc đó ông T1 nói, để ít
hôm lo việc gia đình xong (lo việc cưới cho con) thì ông sẽ thực hiện, tuy niên sau
khi lo công việc gia đình xong, Bà Th tiếp tục ý kiến thì lúc này ông T1 nói xây
đúng hiện trạng nên không đồng ý với ý kiến của Th.
Ngày 03/12/2024, Bà Th nộp đơn kiến nghị tại Uỷ ban phường TA về việc đề
nghị giải quyết, hòa giải tranh chấp đất đai: Buộc ông T1 trả lại đúng hiện trạng thửa
đất cho Th. Ngày 19/12/2024 và 24/12/2024, Uỷ ban nhân dân phường TA tiến
hành các buổi hòa giải tranh chấp đất đai, tuy nhiên, kết quả hòa giải không T1.
Từ nhữngdo trên, Th yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk giải
quyết nội dung sau:
- Buộc Ông Huỳnh Ngọc T1 phải tháo dtoàn bhàng o xây gạch diện tích
khoảng 40m²;
- Buộc Ông Huỳnh Ngọc T1 phải trả lại cho Bà Th toàn bộ diện tích đất có diện
tích khoảng 10m².
Sau khi tiếp cận kết quả thẩm định biên bản đo đạc bằng y ngày 28/7/2025,
trích đo hiện trạng thửa đất ngày 12/8/2025, phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu
yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Ông Huỳnh Ngọc T1 phải trả lại cho Đinh Thị
Mai Th toàn bộ diện tích đất 3,2m² như trích đo hiện trạng thửa đất do đơn vị đo đạc
Công ty TNHH Đo đạc vấn Nông Lâm Nghiệp Đắk Lắk vào ngày 12/8/2025 và
buộc Ông Huỳnh Ngọc T1 phải tháo dỡ toàn bộ hàng o xây gạch trên phần đất tranh
chấp, cụ thể:
+ Đối với diện tích 3m
2
có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất Đinh Thị Mai
Th, cạnh dài 0.24m’; Phía Tây giáp đường đi, cạnh dài 0.07m; Phía Nam giáp đất Ông
4
Huỳnh Ngọc T1, cạnh dài 0.53m + 5.45m + 13.69m; Phía Bắc giáp đất Bà Đinh Th
Mai Th, cạnh dài 0.53 m + 5.45 m + 13.70m;
+ Đối với diện tích 0,2m
2
tứ cận như sau: Phía Đông giáp điểm nối giữa đất
Th và ông T1; Phía Tây giáp thửa 225, cạnh dài 0.10m; Phía Nam giáp đất Ông
Huỳnh Ngọc T1, cạnh dài 3,77m; Phía Bắc giáp đất Bà Đinh Thị Mai Th, cạnh dài
3,77m;
Buộc tháo dỡ phần i sản trên đất tranh chấp ờng o (móng xây đá hộc,
tường gạch ống, trụ 20x20cm, giằng tông cố thép, chiều cao bình quân của tường
trụ 2m), trụ cổng (chiều cao trụ bình quân >2m, kính thước 40x40cm.
Phía nguyên đơn không có ý kiến gì về kết quả thẩm định; biên bản đo đạc bằng
máy ngày 28/7/2025, Biên bản đo đạc bằng máy ngày 28/7/2025, Trích đo hiện trạng
thửa đất ngày 12/8/2025, Sơ đồ lồng ghép tham khảo của Công ty TNHH Đo đạc -
vấn Nông Lâm Nghiệp Đắk Lắk; Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần
vấn và thẩm định giá Trung Tín.
*/ Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, bị đơn Ông Huỳnh Ngọc T1
trình bày có ni dung như sau:
Ông T1 không đồng ý với lời trình bày của nguyên đơn. Vào năm 2002, ông
T1 đã xây tường rào phân chia ranh giới giữa hai nhà, có sự chứng kiến của hai bên
gia đình. Nguồn gốc đất là ông T1 mua lại của ông Nguyễn Văn Sơn vào năm 1994
(hiện nay ông Sơn đã chết). Đến năm 1998, ông T1 xây nhà. Năm 2009 Nhà nước
đo đạc để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tập trung, vợ ông T1 là bà
Lương Thị Hồng Y đứng ra làm thủ tục kê khai cấp giấy nhưng thời điểm trên gia
đình ông T1 khó khăn nên chưa đóng thuế đất nên chưa được cấp sổ, đến năm
2022 gia đình ông T1 mới đóng thuế và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số DĐ 237236, do Uỷ ban nhân
dân thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 19/7/2022, thửa đất số 49, tờ bản đồ
số 44, tọa lạc tại phường TA (thành phố BMT cũ), tnh Đắk Lắk (Thửa 49).
Vào năm 2002, ông T1 xây tường rào như đã nêu trên. Xây trước khi thời
điểm nhà nước đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tập trung tại TDP
10, phường TA (thành phố BMT cũ), tỉnh Đắk Lắk. Tường rào cũ, ông T1 xây cao
50cm. Đến tháng 10/2024, ông T1 nâng cao tường rào trên tường rào cũ, không xê
dịch nhưng lại xảy ra tranh chấp, trong khi ông T1 thi công, Bà Th có cử nhà người
giám sát. Nguồn gốc đất giữa đất ông T1 và đất Bà Th là hai chủ đất khác nhau. Do
đó, ông T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Bà Đinh Thị Mai Th. Đề nghị a
án xử lý theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, ông T1 không có yêu cầu gì khác.
5
Phía bị đơn không ý kiến về đối với kết quả thẩm định; biên bản đo đạc
bằng máy ngày 28/7/2025, Biên bản đo đạc bằng máy ngày 28/7/2025, Trích đo hiện
trạng thửa đất ngày 12/8/2025, đồ lồng ghép tham khảo của Công ty TNHH Đo
đạc - Tư vấn Nông Lâm Nghiệp Đắk Lắk; Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ
phần tư vấn và thẩm định giá Trung Tín.
*/ Quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền
của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Sít AL trình bày nội dung
như sau:
Năm 1986, Bà Sít AL có mua lại một miếng đất tọa lại TDP 10, phường TA
(thành phố BMT cũ), Đắk Lắk; Năm 1998, Bà Sít AL có làm 01 căn nhà gỗ để ở.
Năm 2009, Bà Sít AL được nhà nước công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có diện tích là 533,9m² (có 300 m² đất ở); Năm 2023, Bà Sít AL tách thửa
đất trên (Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 44, thành 03 thửa); Trong đó, thửa đất số
225, tờ bản đồ s 44, Bà Sít AL cho con gái là Đinh Thị Mai Th; Thửa đất số 224,
Bà Sít AL tặng cho con trai là Đinh Hoàng N (Nay Bà Sít AL cùng với con trai
tại thửa đất này), còn thửa đất tờ bản đồ số 44, Bà Sít AL đã chuyển nhượng lại
cho ông Vũ Nguyên H. Nay Bà Sít AL được biết Tòa án đang thụ lý giải quyết
tranh chấp đất đai giữa Bà Đinh Thị Mai ThÔng Huỳnh Ngọc T1, Bà Sít AL
nghe nói ông T1 là người lấn chiếm đất đai của gia đình Bà Sít AL, Bà Sít AL thấy
việc làm của ông T1 là vi phạm pháp luật.Vậy, Bà Sít AL đề nghị quý tòa xem xét,
giải quyết đúng theo quy định của pháp luật, nếu ông T1 có lấn chiếm đất của gia
đình Bà Sít AL thì đề nghị Tòa án buộc ông T1 phải trả lại toàn bộ đất đã lấn
chiếm và tháo dở toàn bộ hàng rào đã lấn chiếm diện tích đất của nhà Bà Sít AL,
cụ thể là lấn chiếm diện tích đất nhà con gái Bà Sít AL là Bà Đinh Thị Mai Th.
*/ Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ông Đinh Hoàng N trình bày ni dung như
sau:
Hoàn toàn đồng ý nội dung bà Sít AL và Bà Th trình bày về ngun gốc đất và
quá trình tách thửa, chuyển nhượng và tặng cho Ông Đinh Hoàng N. Cụ thể vào
năm 2023, mẹ Ông Đinh Hoàng N là bà SL tách thửa đất số 48, tờ bản đồ số 44,
thành 03 thửa đất, trong đó có tặng cho Ông Đinh Hoàng N thửa đất số 224. Nay
Ông Đinh Hoàng N đang là người sử dụng thửa đất số 224, hiện nay đang sử dụng
ổn định. Vậy nên ông N không có yêu cầu gì thêm, đề nghị tòa án giải quyết theo
đúng quy định của pháp luật. Nay Ông Đinh Hoàng N biết Tòa đang thụ lý vụ án
tranh chấp giữa Bà Th và ông T1, nghe nói ông T1 xây hàng rào lấn chiếm đất của
Bà Th, ông N thấy việc làm của ông T1 là không đúng quy định của pháp luật. Ông
N đề nghị Tòa án giải quyết, buộc ông T1 phải trả lại toàn bộ đất lấn chiếm của
6
Th tại thửa đất số 225, tờ bản đồ số 44. Ngoài ra, Ông Đinh Hoàng N không có ý
kiến gì thêm.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị Hồng Y trình bày có nội dung như
sau:
Y chồng Y Ông Huỳnh Ngọc T1 cùng đứng tên trong Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 49, tờ bản đồ số 44; địa chỉ thửa đất tại phường TA, tỉnh
Đắk Lắk. Thửa đất trên có nguồn gốc như sau: Vào năm 1994 vợ chồng ông T1,
Y mua ca ông Nguyễn Văn n, đến năm 1998 vợ chồng Thành, Y xây nhà.
Đến năm 2002 vợ chồng ông T1, Y xây tường rào có sự chứng kiến giữa gia đình
vợ chồng ông T1, Y mẹ của Th Bà Sít AL. Đến năm 2009 chính quyền
đã tiến hành đo đạc tòa bộ khu đất gồm nhiều thửa đất trong đó có cả khu đất nhà vợ
chồng ông T1, Y nhà mẹ Th Sít AL. Năm 2009, phòng quản đất
đai đã đo đạc và dưới sự chứng kiến của các bên liên quan. Đến năm 2022 gia đình
bà Y mới được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình vợ chồng ông T1,
Y đã ở trên thửa đất ổn định từ khi chuyển nhượng cho đến nay, chỉ xây lại tường
rào dựa trên tường rào B40 cũ, giữ nguyên móng xây tại vị trí hàng rào không thay
đổi.
*/ Tại bản tự khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ông Bùi
Văn N1 trình bày có nội dung như sau:
Vào năm 2023, mẹ vợ Ông Bùi Văn N1 là Bà Sít AL tách thửa đất số 48, tờ
bản đồ số 44 thành 03 thửa đất, trong đó có tặng cho vợ Ông Bùi Văn N1Đinh
Thị Mai Th thửa đất số 225, tờ bản đồ số 44, đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số DL 443121 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày
14/04/2023 đến ngày 19/04/2023, vợ chồng ông N, Bà Th đã sử dụng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nói trên để thế chấp chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam theo hợp đồng thế chấp số: 20230047/HĐTC ngày
19/4/2023 giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và
Đinh Thị Mai Th. Tuy nhiên, ngày 14/ 03/2025 vợ ông N là Bà Đinh Thị Mai Th
đã khởi kiện Ông Huỳnh Ngọc T1 để “Kiện đòi lại đất lấn chiếm”. Vì vậy, nay
ông N đồng ý với toàn bộ nội dung trình bày của Bà Đinh Thị Mai Th và không có
yêu cầu gì thêm, kính đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
*/ Tại văn bản ngày 27/10/2025 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh LTT Đắk Lắk trình bày có nội
dung như sau:
7
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, Bà Đinh Thị Mai ThÔng Bùi Văn N1; ký kết
kết Hợp đồng tín dụng số 5228LAV202400603; Số tiền vay: Hạn mức cho vay
tối đa: 1.500.000.000 đồng. (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng); Phương thức
cho vay: Cho vay theo hạn mức; Mục đích sử dụng vốn vay: Kinh doanh buôn
chuyến nông sản; Thời hạn duy trì hạn mức tối đa: 12 tháng, kể từ ngày 26/11/2024
đến ngày 26/11/2025 Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là : Quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số DL 443121 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 14/04/2023. Đặc điểm tài sản: Thửa đất số: 225; Tờ
bản đồ số: 44 tọa lạc tại phường TA, thành Phố BMT, tỉnh Đắk Lắk; Diện tích:
200,9m
2
; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 200,9m
2
; Mục đích sử dụng đất: Đất ở
tại đô thị 100m
2
; Đất trồng cây lâu năm: 100,9m
2
; Thời hạn sử dụng đất: Đất tại
đô thị - Lâu dài. Đất trồng cây lâu năm đến: 2043; Nguồn gốc sdụng đất: Được
tặng cho đất được công nhận QSDĐ như giao đất thu tiền sử dụng đất: 100m2;
Được tặng cho đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất:
100,9m
2
; Số Hợp đồng bảo đảm: 20230047/HĐTC ngày 19/04/2023.
Việc thế chấp tài sản bảo đảm của Bà Đinh Thị Mai Th là Quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền trên đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tải sản khác gắn liền với đất số DL 443121 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 14/04/2023 với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam - Chi nhánh LTT Đắk Lắk để đảm bảo cho khoản vay của Th
hoàn toàn hợp pháp được các quan đăng thẩm quyền chứng thực xác
nhận. Tại thời điểm thế chấp tài sản trên để vay vốn Đinh Thị Mai Th cam kết
toàn bộ tài sản nêu trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Đinh Thị Mai Th, không
có tranh chấp không bị kê biên, không bị phong tỏa để bảo đảm thi hành án hoặc để
chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước. Toàn bộ thuộc tài sản thế
chấp cho Bên nhận bảo đảm Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt
Nam - Chí nhánh LTT Đắk Lắk. Do hiện nay khoản vay của Bà Đinh Thị Mai Th tại
Agribank Chi nhánh LTT Đắk Lắk chưa vi phạm thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng
số 5228LAV202400603 nên ngân hàng chưa khởi kiện. Vậy đề đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của Bên nhận bảo đảm Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển
Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh LTT, Đắk Lắk. Yêu cầu Tòa án xét xử theo đúng
quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2026/DS-ST, ngày 15/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
8
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều
146; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều
273 Bộ luật tố tụng Dân sự và Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Áp dụng Điều 26; Điều 137; Điều 236 Luật đất đai năm 2024.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy đnh về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Thị
Mai Th về việc: Buộc Ông Huỳnh Ngọc T1 phải trả lại tổng diện tích đất lấn chiếm
3.2m
2
thuộc thửa đất số thửa đất số 49, tờ bản đồ số 44, diện tích tọa lạc tại phường
TA (thành phố BMT cũ), tỉnh Đắk Lắk đất đã được Uỷ ban nhân dân thành phố BMT
(cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất số DĐ 237236 và buộc tháo dỡ toàn b
hàng rào xây trên phần diện tích nêu trên, khôi phục lại hiện trạng ban đầu của thửa
đất của Bà Đinh Thị Mai Th.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng tuyên
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/01/2026, nguyên đơn Bà Đinh Thị Mai Th
đơn kháng cáo, với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 03/2026/DS-ST
ngàu 15/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện
nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến, với nội dung: Về ttụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng
như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư các đương sự đã tuân thủ đúng các
quy định ca pháp luật tố tụng dân sự; vnội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phúc thẩm và nội dung
kháng cáo của nguyên đơn, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, đánh giá chứng
cứ khách quan, toàn diện đúng quy định của pháp luật. Bản án thẩm đã xem
xét đầy đủ nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất của các bên, hiện trạng ranh
giới sử dụng đất cũng như các tài liệu đo đạc, thẩm định tại chỗ các chứng cứ
khác có trong h sơ vụ án.
Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm
thay đổi bản chất vụ án hoặc chứng minh việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không
đúng quy định pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của
Bà Đinh Thị Mai Th.
9
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Đinh Thị Mai Th; giữ nguyên
Bản án dân sự thẩm số 03/2026/DS-ST, ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 1 – Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứo cáci liệu, chng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra ti phiên
a, n cứ vào kết qutranh tụng ti phiên tòa tn sxem xét đầy đủ các tài liu
chứng cứ lời trình y của các đương sự, ni bảo vquyền lợi ích hợp pháp ca
đương sự ý kiến ca Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhn định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Bà Đinh Thị Mai Th được nộp
trong thời hạn luật định, đã đóng tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.
Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thụ lý giải quyết phù hợp với quy định
của pháp luật.
[2] Về nội dung: Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Bà Đinh Thị Mai
Th, xét thấy:
[2.1] Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất s DL 443121 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk
cấp ngày 14/4/2023, có đủ cơ sở xác định Bà Đinh Thị Mai Th là người sử dụng
hợp pháp thửa đất số 225, tờ bản đồ s 44, diện tích 200,9m² tọa lạc tại phường
TA, tỉnh Đắk Lắk. Thửa đất này được tách từ thửa đất số 48 của Bà Sít AL đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2009. Quá trình giải quyết vụ án,
lời trình bày ca Bà Th phù hợp với lời trình bày của Bà Sít AL, Ông Đinh Hoàng
N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về nguồn gốc, quá trình quản lý,
sử dụng đất.
[2.2] Theo Biên bản đo đc bằng máy ngày 28/7/2025, Tch đo hiện trạng
thửa đất ngày 12/8/2025 và sơ đồ lồng gp hiện trng do ng ty TNHH Đo
đạc vấn ng m Nghiệp Đắk Lk thực hiện, xác định phần hàng o do
Ông Huỳnh Ngọc T1 y dựng đã ln sang thửa đt s 225 của Bà Th với tổng
din tích 3,2m². Kết quđo đạc này được thực hin theo hiện trạng s dụng đất
thực tế, đi chiếu h sơ đa chính stham gia ca các bên đương s.
Trong suốt quá trình giải quyết v án, c nguyên đơn b đơn đều không có ý
kiến phn đi đi với kết qu đo đc, tch đo hiện trạng, sơ đồ lồng gp ng
như kết qu thẩm đnh giá tài sản. Do đó, Hội đng t x căn cứ xác định
kết qu đo đạc, tch đo hiện trạng là kch quan, hp pháp và có giá trị chng
minh.
10
Mặc dù ông T1 Y cho rằng hàng o đã được xây dựng tnăm 2002
ch sa cha, nâng cp lại vàom 2024, tuy nhn phía b đơn không cung
cấp được tài liệu, chứng c nào th hiện ranh giớing o hiện hữu phù hợp
với ranh giới quyền sdụng đất theo giy chng nhn được cấp. Việc bị đơn
cho rằng hàng o được xây dựngn đnh t trước thời điểm cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đt ng kng làm pt sinh quyền sử dng hợp pháp đối
với phần diện ch đất nm ngoài ranh giới thửa đất đưc Nhà nướcng nhận.
Mặt kc, lời trình bày của nguyên đơn vvic khi ông T1 y dựng lại
ng rào vào năm 2024 thì Th đã phát hin có slấn chiếm và ý kiến
phản đối là phù hợp với diễn biến khách quan của v án, thể hin qua vic
Th đã gửi đơn yêu cầu a giải tranh chấp đất đai tại UBND phường TA vào
tháng 12/2024. Điều này cho thấy ngun đơn không đồng ý với vic b đơn
quản , s dng phần diện tích đất đang tranh chấp.
[2.3] Đối với diện tích 3m² đất tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy đây
phần diện tích có thể xác định rõ vị trí, ranh giới theo trích đo hiện trạng; đồng thời
phần diện tích này nằm dọc theo hàng rào giáp ranh giữa hai thửa đất. Việc buộc
ông T1 tháo dỡ phần hàng rào xây dựng trên diện tích đất này để trả lại đất cho
Th không làm ảnh hưởng lớn đến kết cấu chính của công trình, cũng không làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc quản lý, sử dụng đất của bị đơn. Trong khi đó,
nếu không buộc trả lại đất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sử dụng đất hợp pháp
của nguyên đơn đã được Nhà nước công nhận. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của Bà Th đối với phần diện tích 3m², buộc ông T1 tháo dỡ phần hàng rào xây
dựng trên diện tích đất này và trả lại đất cho Bà Th quản lý, sử dụng là phù hợp
quy định pháp luật.
[2.4] Đối với phần diện tích 0,2m² đất tranh chấp, Hội đồng xét xxét thấy đây
phần diện tích rất nhỏ, nằm tại vị trí giáp ranh giữa hai thửa đất. Theo lời trình bày
của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phần hàng rào giáp ranh giữa
hai bên đã được hình thành sử dụng từ nhiều năm trước; trong suốt quá trình quản
lý, sử dụng đất trước đây các bên không phát sinh tranh chấp đối với phần diện tích
này. Mặt khác, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ trích đo hiện trạng cũng thể
hiện phần diện tích 0,2m² đã nằm trong hiện trạng sử dụng ổn định của bị đơn từ lâu,
giáp tường nhà của bị đơn.
Hội đồng xét xử nhận thấy việc quản lý, sử dụng phần diện tích nêu trên giữa
các bên đã tồn tại ổn định trong thời gian dài, diện tích tranh chấp không đáng kể,
đồng thời nguyên đơn cũng chỉ phát sinh ý kiến khi bị đơn xây dựng, sửa chữa lại
hàng rào vào năm 2024. Do đó, đbảo đảm sự ổn định trong quá trình quản lý, sử
dụng đất giữa các hộ liền kề, tránh làm phát sinh thêm tranh chấp phù hợp với
11
hiện trạng sử dụng thực tế của các bên, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn đối với phần diện tích 0,2m²; giao Ông Huỳnh Ngọc T1 tiếp tục quản
lý, sử dụng phần diện tích này là phù hợp.
[2.5] Tnhững phân ch và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác
định Bản án dân sự thẩm số 03/2026/DS-ST, ngày 15/01/2026 ca Tòa án nhân
dân khu vực 1 Đắk Lắk không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,
chưa bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất hợp pháp. Do đó,
kháng cáo của Đinh Thị Mai Th là có căn cứ chấp nhận một phần; cần sửa bản
án thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại
phiên tòa phúc thẩm.
[3] Ván phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên Đinh Thị Mai
Th không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Bà Đinh Thị Mai Th;
Sửa Bản án dân sự thẩm số 03/2026/DS-ST, ngày 15/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Áp dụng: Điều 26; Điều 137; Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Thị Mai Th
về việc “Kiện đòi lại đất lấn chiếm”.
Buộc Ông Huỳnh Ngọc T1 phải trả lại cho Đinh Thị Mai Th diện tích 3m²
đất thuộc thửa đất s 225, tờ bản đồ số 44, tọa lạc tại phường TA, tỉnh Đắk Lắk theo
Trích đo hiện trạng thửa đất ngày 12/8/2025 của Công ty TNHH Đo đạc vấn
Nông Lâm Nghiệp Đắk Lắk, có tứ cận như sau:
+ Chiều rộng phía Đông Bắc giáp đất Bà Đinh Thị Mai Th, cạnh dài 0,24m;
+ Chiều rộng phía Tây Nam giáp đường đi, cạnh dài 0,07m;
12
+ Chiều dài phía Đông Bắc giáp đất Ông Huỳnh Ngọc T1, cạnh dài 19,67m
(0,53m + 5,45m + 13,69m);
+ Chiều dài phía Tây Nam giáp đất Đinh Thị Mai Th, cạnh dài 19,68m
(0,53m + 5,45m + 13,70m).
Buộc Ông Huỳnh Ngọc T1 tháo dỡ phần hàng ràocông trình xây dựng trên
diện tích đất 3m² nêu trên để trả lại đất cho Đinh Thị Mai Th quản lý, sdụng.
(Kèm theo trích đo thửa đất năm 2025).
2. Về chi phí tố tụng:
Về chi phí thẩm định, định giá và đo đạc gồm: số tiền: 5.450.000 đồng tiền chi
phí đo đạc; 7.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản; 2.000.000 đồng
chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; tổng cộng là 14.450.000 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đinh Thị Mai Th được chấp nhận một
phần nên Ông Huỳnh Ngọc T1 phải chịu 13.546.875 đồng chi phí tố tụng. Bà Đinh
Thị Mai Th phải chịu 903.125 đồng chi phí tố tụng đối với phần yêu cầu không được
chấp nhận. Bà Đinh Thị Mai Th đã tạm ứng toàn bộ chi phí tố tụng nên Ông Huỳnh
Ngọc T1 trách nhiệm hoàn trả lại cho Đinh Thị Mai Th số tiền 13.546.875
đồng.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bị đơn Ông Hunh Ngọc T1 phải chịu 4.110.516 đồng tiền án phí dân sự
sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định
pháp luật.
Đinh Thị Mai Th phải chịu 274.034 đồng án phí dân sự thẩm đối với
phần yêu cầu không được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
750.000 đồng do Ông Đinh Xuân T nộp thay theo biên lai thu số 0000897 ngày
25/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BMT (nay là Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 1 Đắk Lắk). Hoàn trả cho Bà Đinh Thị Mai Th số tiền còn lại
là 475.966 đng.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Đinh Thị Mai Th không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho Đinh Thị Mai Th 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm do Ông Đinh Xuân T nộp thay theo biên lai thu s0001698 ngày 09/02/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
13
4. Các quyết định khác của Bản án dân sự thẩm số 03/2026/DS-ST, ngày
15/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 Đắk Lắk không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lk;
- TAND Khu vc 1 - Đắk Lk;
- Cc Thi hành án dân s tnh Đắk Lk;
- Các đương sự;
- Lưu Tòa án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Duy Thun
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 327/2026/DS-PT Bản án số 327/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 327/2026/DS-PT Bản án số 327/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất