Bản án số 1716/2026/DS-PT ngày 23/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 1716/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 1716/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 1716/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 1716/2026/DS-PT ngày 23/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 1716/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1716/2025/DS-PT
Ngày 30-12-2025
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đi din Vin Kim st nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ – Kim sát viên.
Trong các ngày 25 vào 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
1214/2025/TLPT-DS ngày 13/11/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng
nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6993/2025/QĐ-PT ngày
25/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 22597/2025/QĐ-PT ngày
11/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1971; địa chỉ: F, khu B, phường H,
thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Phi H, sinh năm 1982;
địa chỉ: số A đường P, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay
là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh), là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản
ủy quyền ngày 20/02/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Trung
H1 và ông Phan Minh H2 – Luật sư của Văn phòng Luật sư Phan Trung H1 thuộc
Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: A, đường Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí
2
Minh.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim L, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ D, khu phố E,
phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
1. Ông Huỳnh Công H3, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ F, khu phố E, phường
U, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), là
người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/6/2025).
2. Ông Phạm Văn V, sinh năm 1975; địa chỉ: C, đường số B, tổ B, khu phố
P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 22/12/2025).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1956;
địa chỉ: khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh), (là người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định
số 03/2023/QĐST-DS ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên,
tỉnh Bình Dương).
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn T: Bà Đặng Thị Kim L, sinh
năm 1957 (vợ ông T); địa chỉ: tổ D, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị C.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kim sát nhân dân khu vực 17 –
Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Nguyên đơn trình bày:
Ngày 28/12/2021, bà Bùi Thị C (bên nhận chuyn nhượng) và bà Đặng Thị
Kim L (bên chuyn nhượng) thống nhất lập và ký kết giấy đặt cọc chuyn nhượng
quyền sử dụng đất. Ngày 04/7/2024, hai bên ký kết thêm Phụ lục giấy đặt cọc số
001/PLGDC/DTKL-BTC/7.2024. Ngày 30/9/2024, hai bên tiếp tục ký kết Phụ lục
giấy đặt cọc số: 002/PLGĐC/ĐTKL-BTC/8.2024 về việc sửa đổi bổ sung, điều
chỉnh nội dung Giấy đặt cọc ngày 28/12/2021 và Phụ lục Giấy đặt cọc số
001/PLGĐC/ĐTKL-BTC/7.2024 ngày 04/7/2024. Theo đó, bà L là chủ sử dụng
10.351,7m
2
đất, theo 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ)
tại địa chỉ: thị trấn U, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh), có thông tin như sau:
- GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: H02472 do Ủy ban nhân dân (viết tắt
UBND) huyện T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 18/6/2007, có 09 thửa đất gồm: 24,
26, 27, 28, 29, 30, 31, 32 và thửa 718, tờ bản đồ số 43, diện tích 4.920m
2
, đất nông
nghiệp. Nguồn gốc các thửa đất này bà L được thừa kế từ bố mẹ là ông Đặng Văn
N và bà Trần Thị Q (có xác nhận của UBND xã U và Phòng Công chứng nhà
nước huyện T).
3
- GCNQSDĐ số BE 381493, số vào sổ cấp GCN: CH00767 do UBND
huyện T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 26/4/2011, có 04 thửa đất gồm: 54, 55, 56,
57, tờ bản đồ số 43, diện tích 1.291 m
2
, đất trồng lúa (kèm trích lục bản đồ địa
chính lập ngày 10/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đất đai thị xã T). Nguồn gốc
các thửa đất này bà L nhận chuyn nhượng của ông Lâm Ngọc T1 (Hợp đồng
chuyn nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1210, quyn số 2-TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/03/2011 tại Văn phòng C).
- GCNQSDĐ số BT 880247, số vào sổ cấp GCN: CH03098 do UBND thị
xã T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/3/2015, có 06 thửa đất gồm: 38, 39, 40, 41,
42 và thửa 1031, tờ bản đồ số 43, diện tích 4.140 m
2
, trong đó: 2.827,4m
2
, đất
trồng cây lâu năm và 1.313,3m
2
đất trồng lúa (kèm trích lục bản đồ địa chính lập
ngày 26/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đất đai thị xã T). Nguồn gốc các thửa
đất này bà L được thừa kế từ bố mẹ là ông Đặng Văn N và bà Trần Thị Q (có xác
nhận của UBND xã U và Phòng Công chứng nhà nước huyện T).
Tổng diện tích đất bà L chuyn nhượng cho bà C là 10.351,7m
2
, không bao
gồm diện tích hành lang suối 276m
2
, diện tích đất chuyn nhượng thực tế còn lại
10.075,7m
2
. Giá chuyn nhượng đất như sau: diện tích đất trồng cây lâu năm
2.827,4m
2
, thuộc thửa đất số 1031, giá chuyn nhượng: 2.500.000đồng/m
2
, tổng
số tiền thanh toán: 7.068.000.000 đồng; diện tích đất nông nghiệp (trồng lúa) các
thửa đất còn lại 7.524,3m
2
, trừ diện tích đất hành lang bảo vệ suối 276m
2
, diện
tích đất thực tế chuyn nhượng còn lại 7.248,3m
2
giá chuyn nhượng 1.100.000
đồng/m
2
, tổng số tiền thanh toán 7.973.130.000 đồng, tổng cộng
15.041.130.000đồng. Tiền đặt cọc: bà C đặt cọc cho bà L số tiền 6.000.000.000
đồng. Trường hợp, sau khi đo vẽ hiện trạng thực tế của 03 giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, không bao gồm
hành lang bảo vệ suối và hành lang bảo vệ đường bộ. Nếu diện tích đất tăng, bà
C phải trả thêm tiền cho bà L 1.100.000đồng/m
2
; nếu diện tích đất giảm, bà L phải
giảm lại tiền cho bà C 1.100.000đồng/m
2
. Bà L sẽ chịu thuế thu nhập cá nhân,
thuế sử dụng đất hàng năm và phí công chứng, lệ phí đo vẽ, cắm ranh, mốc địa
giới theo quy định của Nhà nước. Bà C chịu phí trước bạ theo quy định của Nhà
nước.
Phạt vi phạm: Nếu bà L đổi ý không chuyn nhượng hoặc vì bất cứ lý do gì
không thực hiện hoặc thực hiện chậm việc chuyn nhượng quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của 03 giấy chứng nhận nêu
trên cho bà C, thì bà L phải trả lại toàn bộ tiền đặt cọc đã nhận và trả thêm tiền
bồi thường gấp 05 lần số tiền mà bà L đã nhận của bà C. Nếu bà C đổi ý không
nhận chuyn nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất của 03 giấy chứng nhận nêu trên, bà C phải chịu mất toàn bộ số tiền
đã đặt cọc cho bà L.
Thực hiện thỏa thuận, bà C đã chuyn tiền đặt cọc cho bà L theo từng đợt
như sau:
Ngày 29/12/2021: bà C đã đặt cọc số tiền 1.000.000.000 đồng;
4
Ngày 26/01/2022: bà C đã đặt cọc số tiền 4.000.000.000 đồng;
Ngày 04/7/2024: bà C đã đặt cọc số tiền 850.000.000 đồng.
Ngày 30/9/2024, bà C đã đặt cọc số tiền 150.000.000 đồng.
Tổng số tiền đặt cọc bà L đã nhận của bà C 6.000.000.000 đồng.
Tại Phụ lục Giấy đặt cọc số 002/PLGĐC/ĐTKL-BTC/8.2024 ngày
30/9/2024, hai bên còn thỏa thuận: hai bên vẫn chưa ký kết hợp đồng công chứng
đặt cọc theo cam kết, nguyên nhân chậm trễ do ông Phạm Văn T (là chồng của bà
L) bị mất năng lực hành vi dân sự và đã có vướng mắc về thủ tục bà L xin giám
hộ đối với ông Phạm Văn T. Trong thời hạn 10 ngày, k từ ngày ký Phụ lục Giấy
đặt cọc số 002/PLGĐC/ĐTKL-BTC/8.2024, bà L phải có trách nhiệm tiến hành
thủ tục xin giám hộ và cử người giám sát giám hộ theo quy định đ ký kết hợp
đồng đặt cọc tại Văn phòng Công chứng. Bà L cam kết đứng tên làm thủ tục
chuyn mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư, bà C chịu
các chi phí xin chuyn mục đích sử dụng đất. Sau khi hoàn thành thủ tục chuyn
đất cây lâu năm sang đất thổ cư và bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã có đất thổ cư. Trong
vòng 15 ngày k từ ngày bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã chuyn đất thổ cư, thì bà L
phải ra Phòng Công chứng đ ký kết hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất
cho bà C. Hai bên làm thủ tục mua bán ba bên (có sự tham gia của Ngân hàng đ
thực hiện thanh toán) bà C sẽ thanh toán cho bà L số tiền 9.283.270.000 đồng. Hai
bên còn thỏa thuận, nếu bà L đổi ý không chuyn nhượng hoặc vì bất cứ lý do gì
không thực hiện việc chuyn nhượng 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên cho bà C, thì bà L
phải trả lại toàn bộ tiền đặt cọc đã nhận của bà C và bồi thường cho bà C số tiền
gấp 05 lần số tiền mà bà C đã đặt cọc cho bà L. Nếu bà C đổi ý không nhận chuyn
nhượng 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất nêu trên, thì bà C phải chịu mất toàn bộ số tiền đã đặt cọc
cho bà L.
Tuy nhiên, đến nay đã kéo dài hơn 03 tháng bà L vẫn không thực hiện đúng
cam kết, thỏa thuận và nại ra lý do ông T bị mất năng lực hành vi dân sự và bà L
phải thực hiện thủ tục xin giám hộ đối với ông T tại các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền nhưng thực tế có 02 thửa đất bà L được thừa kế từ cha mẹ, bà L cũng
không chịu ký các giấy tờ đ thực hiện cam kết. Bà L đã nhận của bà C số tiền đặt
cọc lớn nhưng không chịu hợp tác thực hiện thủ tục ký kết hợp đồng đặt cọc tại
Văn phòng C và ký hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất cho bà C.
Bà C yêu cầu:
- Buộc bà Đặng Thị Kim L phải thực hiện ký kết hợp đồng đặt cọc chuyn
nhượng đất tại Văn phòng C cho bà C và thực hiện việc chuyn nhượng 03
GCNQSDĐ nói trên theo quy định.
5
- Trường hợp bà Đặng Thị Kim L không thực hiện việc ký kết hợp đồng đặt
cọc tại Văn phòng C và không ký hợp đồng chuyn nhượng 03 giấy chứng nhận
trên thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền cọc đã nhận của bà C là 6.000.000.000 đồng
và thanh toán số tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng đặt cọc với số tiền
30.000.000.000 đồng. Tổng số tiền bà Đặng Thị Kim L phải thanh toán cho bà C
là 36.000.000.000 đồng.
Bị đơn trình bày:
Bị đơn thống nhất về việc thỏa thuận chuyn nhượng, đặt cọc như nguyên
đơn trình bày.
Ông T và bà L sống chung và có đăng ký kết hôn từ năm 1980. Phần đất
trên là tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà L và ông T.
Do ông T bị tâm thần phân liệt nên năm 2023 bà L đã nộp đơn yêu cầu tuyên bố
mất năng lực hành vi đối với ông T và được giải quyết bằng Quyết định số
03/2023/QĐST-DS ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh
Bình Dương.
Bà C cũng đã biết tài sản trên là tài sản chung của ông T và bà L. Do đó, tại
Điều 5.2 của Phụ lục giấy đặt cọc ngày 30/9/2024, hai bên có thỏa thuận: hiện nay
hai bên vẫn chưa ký kết hợp đồng công chứng đặt cọc theo cam kết, nguyên nhân
chậm trễ do ông Phạm Văn T bị mất năng lực hành vi dân sự và đã có vướng mắc
về thủ tục bà L xin giám hộ đối với ông Phạm Văn T. Trong thời hạn 10 ngày, bà
L phải có trách nhiệm tiến hành thủ tục xin giám hộ và cử người giám sát giám
hộ theo quy định đ ký kết hợp đồng đặt cọc tại Văn phòng Công chứng. Đồng
thời còn thỏa thuận, bà L cam kết đứng tên làm thủ tục chuyn mục đích sử dụng
đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư, bà C chịu các chi phí xin chuyn mục
đích sử dụng đất. Sau khi hoàn thành thủ tục chuyn đất cây lâu năm sang đất thổ
cư và bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất đã có đất thổ cư. Trong vòng 15 ngày k từ ngày bà
L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất đã chuyn đất thổ cư, thì bà L phải ra Phòng Công chứng đ
ký kết hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất cho bà C. Sau khi hai bên ký
hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng Công chứng, bà C sẽ
thanh toán cho bà L số tiền 9.283.270.000 đồng. Đối với các nội dung ghi tay trên
hợp đồng, phụ lục hợp đồng là do bà C tự ghi thêm, không có ý kiến đồng ý của
bà L. Tuy nhiên, do bà C nộp đơn ngăn chặn đối với các quyền sử dụng đất trên
tại UBND phường U, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T. Do đó,
bà L không th thực hiện được các thủ tục xin giám hộ, giám sát giám hộ cho ông
T và các thủ tục đo đạc đất, chuyn mục đích sử dụng đất như thỏa thuận trong
hợp đồng giữa hai bên.
Quá trình thực hiện hợp đồng thì bà L vẫn có nguyện vọng thực hiện việc
chuyn nhượng cho bà C nhưng do phía bà C làm đơn ngăn chặn gửi tại Chi nhánh
Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, UBND phường U nên phía bà L không
th thực hiện được việc làm thủ tục giám sát người giám hộ cho ông T và các thủ
tục khác liên quan đến các phần đất trên. Đến ngày 04/6/2025, bà L đã thực hiện
6
thủ tục đăng ký giám hộ với ông T tại UBND phường U, thành phố T, tỉnh Bình
Dương. Ngày 09/6/2025, ông Phạm Minh T2 (con của bà L, ông T) đã làm thủ
tục đăng ký giám sát việc giám hộ đối với ông T. Tại buổi hòa giải ngày 10/6/2025,
hai bên có thỏa thuận trong thời hạn 30 ngày k từ ngày có giấy xác nhận ông T2
là người giám sát việc giám hộ cho ông T thì bà C và bà L có trách nhiệm ký kết,
công chứng hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, bà C
có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền còn lại cho bà L. Như vậy, đến ngày
10/7/2025 thì hai bên phải tiến hành việc công chứng hợp đồng chuyn nhượng
tại Văn phòng C. Tuy nhiên, đến ngày hẹn thì phía bà L đã đến Văn phòng C đ
chờ làm thủ tục chuyn nhượng nhưng phía bà C không có mặt. Do đó, việc không
thực hiện được việc ký hợp đồng là do phía bà C không thực hiện việc rút các đơn
ngăn chặn đã nộp và không đến Văn phòng C đ ký hợp đồng. Bà L không có lỗi
trong việc hợp đồng không thực hiện được.
Do tài sản trên là tài sản chung của bà L và ông Phạm Văn T nhưng khi bà
L tự ý thỏa thuận đặt cọc với bà C mà không có ý kiến của ông T. Do là tài sản
chung của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên việc bà L tự ý
định đoạt khi chưa có sự đồng ý của ông T và những người có liên quan là không
đúng quy định. Đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng đặt cọc giữa bà L và bà C là
vô hiệu. Do hợp đồng trên vô hiệu nên bà L chỉ đồng ý trả lại số tiền đặt cọc đã
nhận từ bà C là 6.000.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định. Đề nghị Tòa án
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T trình bày:
Thống nhất trình bày của bị đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đồng thời bổ sung yêu cầu
khởi kiện hủy giấy chuyn nhượng đất ngày 13/7/2022, giấy đặt cọc ngày
14/10/2022, hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2025 và ngày 27/6/2025 giữa bà Đặng
Thị Kim L và ông Huỳnh Công H3; đề nghị Tòa án xem xét tư cách của ông
Huỳnh Công H3 vừa là người làm chứng vừa là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; triệu tập ông Nguyễn Văn P là Công chứng viên thuộc Văn phòng C và
người đại diện của Văn phòng C tham gia phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn giữ nguyên quan đim, không đồng
ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn đồng ý hoàn trả cho nguyên đơn số
tiền cọc 6.000.000.000 đồng và tự nguyện thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi trên
số tiền cọc đã nhận với mức lãi suất 10%/năm tính từ thời đim nhận tiền cọc cho
đến ngày xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, đim a khoản 1 Điều 39, các Điều 91,
92, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các
Điều 328, 428 của Bộ luật Dân sự; các Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số
7
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị C đối
với bị đơn bà Đặng Thị Kim L về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Buộc bà Đặng Thị Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Bùi Thị C tổng số
tiền 7.937.779.679 đồng (bảy tỷ chín trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi
chín nghìn sáu trăm bảy mươi chín đồng), bao gồm tiền cọc 6.000.000.000 đồng,
tiền lãi 1.937.779.679 đồng.
K từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ
luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi
Thị C về việc buộc bà Đặng Thị Kim L phải thực hiện ký kết hợp đồng đặt cọc
chuyn nhượng đất tại văn phòng C và thực hiện việc chuyn nhượng quyền sử
dụng đất cho bà C, yêu cầu phạt cọc số tiền 30.000.000.000 đồng (ba mươi tỷ
đồng).
3. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2025/QĐ-BPKCTT ngày 26/6/2025 về áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đặng Thị Kim L được miễn án phí.
Bà Bùi Thị C phải chịu số tiền 138.300.000 đồng (một trăm ba mươi tám
triệu ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 72.000.000 đồng (bảy mươi hai
triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số 0002512 ngày
22/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
(sau sáp nhập là Thi hành án dân sự Thành phố H). Bà C còn phải chịu số tiền
66.300.000 đồng (sáu mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm thi hành án, quyền kháng
cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 23/9/2025 nguyên đơn bà Bùi Thị C có
đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm theo hướng: Một là, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu
cầu bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng, ký kết hợp đồng đặt cọc công chứng và
hoàn tất thủ tục chuyn nhượng 03 thửa đất cho nguyên đơn, trường không bị đơn
không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì bị đơn phải trả lại 6.000.000.000 đồng tiền
đặt cọc và tiền phạt cọc 30.000.000.000 đồng, tổng cộng 36.000.000.000 đồng.
Hai là, hủy toàn bộ các giao dịch giữa bị đơn và ông Huỳnh Công H3 do vô hiệu
gồm giấy chuyn nhượng đất ngày 13/7/2022 đối với các thửa đất số 54, 55, 56,
57 thuộc GCNQSDĐ BE 381493; giấy đặt cọc ngày 14/10/2022 đối với các thửa
8
đất thuộc GCNQSDĐ BE 381493; hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2025 đối với các
thửa đất thuộc GCNQSDĐ BT880247 được công chứng tại Văn phòng C; hợp
đồng đặt cọc ngày 27/6/2025 đối với các thửa đất thuộc GCNQSDĐ số AI 326149
được công chứng tại Văn phòng C.
Ngày 01/10/2025, Viện trưởng Viện Kim sát nhân dân khu vực 17 – Thành
phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS, kháng
nghị bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án sơ thẩm do xác định không đúng tư cách
tham gia tố tụng của ông Huỳnh Công H3, đưa thiếu người tham gia tố tụng là
Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thanh M, xác minh thu thập chứng cứ chưa
đầy đủ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện và thay đổi yêu cầu kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ
thẩm; đại diện Viện Kim sát giữ nguyên quyết định kháng nghị; các đương sự
không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà
Bùi Thị C có ý kiến:
Về tố tụng, Hội đồng xét xử sở thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
khi xác định tư cách người tham gia tố tụng: Không đưa Công chứng viên Nguyễn
Văn P, Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Thanh M vào tham gia tố tụng với tư
cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án sơ thẩm xác định sai tư cách
của ông Huỳnh Công H3, vì quyền lợi của ông H3 gắn chặt, phụ thuộc hoàn toàn
vào kết quả giải quyết tranh chấp của nguyên đơn, bị đơn nên không th tách rời
khỏi vụ án này, không th xác định ông Huỳnh Công H3 là người làm chứng mà
phải đưa ông H3 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án. Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn, Tòa án
cấp sơ thẩm không không chấp nhận là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm
ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Về nội dung: Căn cứ tại khoản 1 Điều 43 của Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2014, bị đơn bà Đặng Thị Kim L có toàn quyền định đoạt đối với hai quyền
sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 326149 và Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
BT 880247 vì nguồn gốc tài sản bị đơn được hưởng thừa kế nên bị đơn không cần
có ý kiến của chồng là ông Phạm Văn T tại thời đim ký kết hợp đồng chuyn
nhượng công chứng. Đồng thời, cả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều chỉ
ghi tên một mình bà Đặng Thị Kim L. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 328, Điều 117
của Bộ luật Dân sự thì giấy đặt cọc và các phụ lục đã phát sinh hiệu lực pháp luật
ngay tại thời đim giao kết. Việc chậm trễ trong việc ký kết hợp đồng công chứng
là do ông Phạm Văn T bị mất năng lực hành vi dân sự và vướng mắc về thủ tục
bà L xin giám hộ cho ông T nên giấy đặt cọc này không bị vô hiệu, bà L là người
có lỗi chính nên bà L phải có nghĩa vụ hoàn trả tiền cọc và tiền phạt cọc nếu không
tiếp tục chuyn nhượng đất cho nguyên đơn.
9
Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung hủy toàn bộ các giao dịch giữa bị đơn
và ông Huỳnh Công H3 do vô hiệu, giao dịch giữa bị đơn và ông H3 có tính chất
loại trừ quyền lợi của nguyên đơn. Nếu không tuyên các giao dịch này vô hiệu,
yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn sẽ không th thi hành được trên thực
tế.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trường hợp chấp nhận các vi phạm tố
tụng, thì sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, hủy bỏ các giao dịch giữa bị đơn và ông Huỳnh Công H3 do vô hiệu
vì giả tạo.
- Đại diện Viện Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biu ý
kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án
cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Giữ nguyên nội dung kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng
Viện Kim sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, ý kiến của Luật sư, ý kiến của Kim sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Huỳnh Công H3; người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T là bà Đặng Thị Kim L đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; căn cứ khoản 2 Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/9/2025 nguyên đơn bà Bùi Thị C có
đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm; ngày 01/10/2025, Viện trưởng Viện
Kim sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng
nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm; việc kháng cáo, kháng nghị vẫn trong thời
hạn quy định của pháp luật.
Tại cấp sơ thẩm ông H3 là người đại diện hợp pháp của bị đơn bà L (đại
diện ủy quyền); tại cấp phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà L là
ông Phạm Văn V trình bày bà L đã chấm dứt ủy quyền với ông H3, nhưng Tòa án
cấp phúc thẩm chưa nhận được văn bản này, do đó ông H3 vẫn là người đại diện
hợp pháp cho bà L.
[2] Về nội dung:
[2.1] Hồ sơ vụ án th hiện:
[2.1.1] Bà Đặng Thị Kim L và ông Phạm Văn T là vợ chồng theo Giấy công
nhận kết hôn ngày 25/3/1980 của Ủy ban nhân dân xã U, huyện T, tỉnh Sông Bé.
Ngày 24/02/2023, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa
10
án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định sơ thẩm giải
quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân
sự số 03/2023/QĐST-DS, theo quyết định đã tuyên bố “ông Phạm Văn T, sinh
năm 1956; hộ khẩu thường trú: khu phố D, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương
là người mất năng lực hành vi dân sự”.
Trích lục đăng ký giám hộ số 344/TLGH-BS ngày 04/6/2025 của Ủy ban
nhân dân phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương người giám hộ cho ông Phạm
Văn T là bà Đặng Thị Kim L.
Trích lục đăng ký giám sát việc giám hộ số 02/TLGSVGH ngày 09/6/2025
của Ủy ban nhân dân phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, người giám sát
việc giám hộ cho ông Phạm Văn T là ông Phạm Minh T2.
[2.1.2] Quyền sử dụng đất diện tích 4.920m
2
(đất lúa) thuộc các thửa số 24,
26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 718, tờ bản đồ số 43, tại phường U, thành phố T, tỉnh
Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AI 326149, số vào sổ H02472 ngày 18/6/2007 do Ủy ban
nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Đặng Thị Kim L; đất có nguồn
gốc thừa kế sử dụng năm 1987.
Quyền sử dụng đất diện tích 4.140,7m
2
(đất trồng lúa và đất trồng cây lâu
năm) thuộc các thửa số 38, 39, 40, 41, 42, 1031, tờ bản đồ số 43, tại phường U,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BT 880247, số vào sổ CH03098 ngày 05/3/2015 do Ủy ban nhân dân
thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Đặng Thị Kim L; đất có nguồn gốc cha mẹ
đ lại năm 1990.
Quyền sử dụng đất diện tích 1.291m
2
(đất trồng lúa) thuộc các thửa số 54,
55, 56, 57, tờ bản đồ số 43, tại phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 381493, số vào sổ
CH00767 ngày 26/4/2011 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương cấp
cho bà Đặng Thị Kim L; đất có nguồn gốc bà L nhận chuyn nhượng theo Hợp
đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 1210, quyn số 02-TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/3/2011 tại Văn phòng C giữa bà L với ông Lâm Ngọc T1.
[2.1.3] Ngày 28/12/2021, bà L (bên chuyn nhượng đất – A) và bà C (bên
nhận chuyn nhượng – B) ký kết giấy đặt cọc về việc sang nhượng quyền sử dụng
đất với nội dung: Bà L chuyn nhượng cho bà C 03 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nêu trên, diện tích đo đạc thực tế 10.351,7m
2
; giá chuyn nhượng:
3.000m
2
giá 2.500.000 đồng/m
2
, diện tích còn lại giá 1.100.000.000 đồng/m
2
; bà
C đặt cọc cho bà L 6.000.000.000 đồng, như sau: ngày 28/12/2021, bà C đặt cọc
1.000.000.000 đồng; sau khi công chứng đặt cọc sẽ đưa tiếp 500.000.000 đồng;
01 tháng sau k từ ngày công chứng đặt cọc, bà C sẽ đưa tiếp cho bà L
4.500.000.000 đồng; sau khi đo đạc và hoàn thành đầy đủ giấy tờ chuyn nhượng,
bà L sẽ báo cho bà C biết trước 15 ngày, sau đó ra công chứng chuyn quyền sử
11
dụng đất sang tên cho bà C, bà C sẽ thanh toán số tiền còn lại cho bà L sau khi trừ
đi 300.000.000 đồng đ đóng thuế thu nhập cá nhân cho bà L. Trách nhiệm của
các bên: bà L phải đảm bảo đây là tài sản hợp pháp, không có tranh chấp, đủ điều
kiện chuyn nhượng và không bị quy hoạch, khi nhận cọc của bà C thì bà L cam
kết được sự thống nhất của những người có quyền sở hữu chung mảnh đất; nếu
bà L đổi ý không bán hoặc vì lý do gì không thực hiện được hay thực hiện chậm
việc sang nhượng quyền sử dụng đất cho bà C hoặc bà L không thực hiện đúng
Điều 2.1 của hợp đồng thì bà L phải bồi thường cho bà C số tiền gấp 05 lần số
tiền bà C đã đặt cọc cho bà L; nếu bà C tự ý hủy bỏ việc sang nhượng đất mà
không có sự đồng ý của bà L thì mất số tiền đã đặt cọc cho bà L.
Ngày 04/7/2024, bà L và bà C ký kết Phụ lục giấy đặt cọc số
001/PLGĐC/ĐTKL-BTC/7.2024 có nội dung: Giá chuyn nhượng
15.283.270.000 đồng. Tình trạng hiện nay, hai bên chưa tiến hành ký hợp đồng
chuyn nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng/Văn phòng công chứng, lý do khách
quan và chủ quan. Bà C đã thanh toán tiền cọc và bà L đã nhận tiền cọc là
7.000.000.000 đồng. Bà L làm thủ tục chuyn mục đích sử dụng đất từ đất trồng
cây lâu năm sang đất thổ cư, bà C chịu chi phí chuyn mục đích sử dụng. Sau khi
hoàn thành thủ tục chuyn đất cây lâu năm sang đất thổ cư, trong vòng 15 ngày
k từ ngày bà C đóng thuế chuyn mục đích sử dụng đất từ cây lâu năm sang đất
ở, bà L phải ra Phòng Công chứng đ ký hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng
đất.
Ngày 30/9/2024, bà L và bà C ký kết Phụ lục giấy đặt cọc số
002/PLGĐC/ĐTKL-BTC/9.2024 có nội dung: Giá chuyn nhượng
15.041.130.000 đồng. Số tiền đặt cọc bà C đã giao cho bà L là 6.000.000.000
đồng. Đến nay hai bên chưa ký kết hợp đồng công chứng đặt cọc theo cam kết,
nguyên nhân chậm trễ do ông Phạm Văn T (chồng của bà L) bị mất năng lực hành
vi dân sự và đã có vướng mắc về thủ tục bà L xin giám hộ đối với ông T. Trong
thời hạn 10 ngày, bà L phải có trách nhiệm tiến hành thủ tục xin giám hộ và cử
người giám sát giám hộ theo quy định đ ký kết hợp đồng đặt cọc tại Văn phòng
Công chứng.
Bà C, bà L xác định có ký kết hợp đồng đặt cọc, các phụ lục họp đồng nêu
trên, thống nhất nội dung thỏa thuận và số tiền đặt cọc giao nhận giữa hai bên là
6.000.000.000 đồng, đây là các tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định
tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo thỏa thuận ngày 30/9/2024, trong thời hạn 10 ngày, bà L phải có trách
nhiệm tiến hành thủ tục xin giám hộ và cử người giám sát giám hộ theo quy định
đ ký kết hợp đồng đặt cọc tại Văn phòng Công chứng; còn theo thỏa thuận ngày
04/7/2024, sau khi hoàn thành thủ tục chuyn đất cây lâu năm sang đất thổ cư,
trong vòng 15 ngày k từ ngày bà C đóng thuế chuyn mục đích sử dụng đất từ
cây lâu năm sang đất ở, bà L phải ra Phòng Công chứng đ ký hợp đồng chuyn
nhượng quyền sử dụng đất. Như vậy, thỏa thuận giữa các bên không có thời gian
cụ th ký kết hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, còn
theo thỏa thuận ngày 30/9/2024 (thỏa thuận sau cùng) là ký kết hợp đồng đặt cọc.
12
Ngày 11/3/2025, bà C nộp đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc với
bà L tại Tòa án.
Ngày 04/6/2025, bà Đặng Thị Kim L người giám hộ cho ông Phạm Văn T
(Trích lục đăng ký giám hộ số 344/TLGH-BS ngày 04/6/2025 của Ủy ban nhân
dân phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương).
Ngày 09/6/2025, ông Phạm Minh T2 là người giám sát việc giám hộ cho
ông Phạm Văn T (Trích lục đăng ký giám sát việc giám hộ số 02/TLGSVGH ngày
09/6/2025 của Ủy ban nhân dân phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương).
Tại biên bản hòa giải ngày 10/6/2025 của Tòa án cấp sơ thẩm, người đại
diện hợp pháp của nguyên đơn và đại diện hợp pháp của bị đơn đã thỏa thuận
trong thời hạn 30 ngày k từ ngày có giấy xác nhận ông T2 là người giám sát việc
giám hộ cho ông T thì bà C và bà L có trách nhiệm ký kết, công chứng hợp đồng
chuyn nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, bà C có trách nhiệm thanh
toán toàn bộ số tiền còn lại cho bà L.
Ngày 23/6/2025, bà C yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
“Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với các thửa đất nêu trên.
Ngày 26/6/2025, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2025/QĐ-BPKCTT, phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ đối với các thửa đất do bà Đặng Thị Kim L đứng tên theo các giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Tại đơn xin hoãn phiên tòa, đề nghị triệu tập bổ sung ngày 11/9/2025 và tại
phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu: Xem xét tư cách của ông Huỳnh Công
H3 vừa là người làm chứng vừa là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ án; triệu tập ông Nguyễn Văn P và người đại diện của Văn phòng C tham gia
phiên tòa; đồng thời nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu hủy Giấy
chuyn nhượng đất ngày 13/7/2022, Giấy đặt cọc ngày 14/10/2022, các hợp đồng
đặt cọc ngày 13/5/2025 và ngày 27/6/2025 giữa bà Đặng Thị Kim L và ông Huỳnh
Công H3.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày đến nay thỏa thuận ngày
04/7/2024 về việc chuyn đổi đất nông nghiệp thành đất ở, vẫn chưa thực hiện
được, do chưa được Nhà nước cho phép.
[2.2] Xét, theo các giấy chuyn nhượng đất ngày 13/7/2022, giấy đặt cọc
ngày 14/10/2022 giữa bà L với ông H3 thì bà L chuyn nhượng diện tích 1.291m
2
thuộc các thửa đất số 54, 55, 56, 57 cho ông H3; giấy mượn tiền ngày 19/02/2022
bà L mượn ông H3 số tiền 500.000.000 đồng, hợp đồng vay tiền ngày 26/6/2025
bà L mượn ông H3 2.000.000.000 đồng; hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2025 và
ngày 27/6/2025 giữa bà Đặng Thị Kim L và ông Huỳnh Công H3. Các giao dịch
này liên quan đến các thửa đất tranh chấp giữa bà C với bà L nên phải đưa ông
H3 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ án, thu thập chứng cứ liên quan đến việc công chứng hợp đồng đặt cọc giữa bà
L, ông H3, các vấn đề này phải được xem xét giải quyết trong cùng một vụ án
13
mới đảm bảo tính chính xác, giải quyết triệt đ vụ án; đồng thời, xem xét xác định
lại tư cách tham gia tố tụng của ông H3; trường hợp phải xem xét hủy bỏ các giao
dịch đặt cọc được công chứng tại Văn phòng Công chứng giữa bà L với ông H3
do không đúng quy định pháp luật và phải bồi thường thiệt hại thì đưa Văn phòng
Công chứng vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong vụ án. Mặt khác, giao dịch hiện nay có sự thay đổi về hoàn cảnh, các
bên có quyền đàm phán thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn
hợp lý theo quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự, trường hợp không th thỏa
thuận được về việc sửa đổi hợp đồng thì sẽ giải quyết theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận,
kháng nghị của Viện trưởng Viện Kim sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ
Chí Minh là có cơ sở chấp nhận, cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có
cơ sở chấp nhận.
Quan đim của đại diện Viện Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
là phù hợp.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 và Điều 313 của Bộ luật
Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị C.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS ngày
01/10/2025 của Viện trưởng Viện Kim sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ
Chí Minh.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí
Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Trả cho bà Bùi Thị C 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án
phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0021088 ngày 29/9/2025
của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

14
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 17 – TPHCM;
- TAND khu vực 17 – TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (15),(80).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm