Bản án số 170/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 170/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 170/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 170/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 170/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 170/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà V khởi kiện yêu cầu bà L trả cho bà V số tiền 500 triệu đồng và lãi suất phát sinh |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 170/2024/DS-PT
Ngày: 10-5-2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bằng.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Kim Khánh và bà Lê Thị Thanh Huyền.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thê - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn
Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2024/TLPT-DS ngày 27/02/2024, về việc:
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân
dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐ-PT ngày 27/3/2024 và Quyết
định hoãn phiên tòa số: 152/2024/QĐ-PT ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyên đơn: Bà Hàng Thị Tường V; địa chỉ: B L, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk, có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L; địa chỉ: Số I Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Minh H; địa chỉ: Số E đường A, thôn A,
xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
3. Người kháng cáo: Ông Phan Minh H là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
bà Nguyễn Thị Mỹ L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Hàng Thị Tường V trình bày:
Tôi và bà Nguyễn Thị Mỹ L là bạn bè quen biết nhau trong năm 2015 tôi có cho bà
Nguyễn Thị Mỹ L vay số tiền 2.970.000.000 đồng làm 04 lần, cụ thể: ngày 6/12/2015
vay số tiền 600.000.000 đồng; ngày 23/12/2015 vay số tiền 500.000.000 đồng; ngày
28/12/2015 vay số tiền 1.300.000.000 đồng; ngày 29/12/2015 vay số tiền 570.000.000
đồng. Các lần vay tiền đều có giấy nhận nợ, không hẹn ngày trả nợ, khi nào tôi cần thì
báo trước một thời gian thích hợp thì phải trả cho tôi. Trong giấy vay nợ các bên không
ghi lãi xuất, tuy nhiên chúng tôi có thoả thuận với nhau là 1%/tháng (tức là 12%/năm, số
tiền lãi này bà L cũng đã trả cho tôi hàng tháng và tôi có ghi ra giấy cho bà L giữ).
2
Quá trình thực hiện tôi xác nhận đã nhận lãi số tiền 214.000.000 đồng, là tiền lãi trả
dần hàng năm của tổng 04 khoản nợ và tôi có xác nhận cho bà L. Hiện nay bà L đã trả
cho tôi số tiền gốc 2.470.000.000 đồng tiền gốc và lãi, trả thời gian nào tôi không nhớ vì
trả làm nhiều lần, số tiền còn lại là 500.000.000 đồng của khoản vay 23/12/2015 là chưa
trả cho tôi. Do đó tôi yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà L trả cho tôi số tiền gốc
500.000.000 đồng và lãi suất 1%/tháng từ ngày 23/12/2015 cho đến ngày xét xử xong vụ
án.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Minh H trình bày:
Do quen biết với nhau, bà L có nhu cầu vay tiền trả nợ đáo hạn Ngân hàng, nên
tháng 12 năm 2015 có vay của bà V số tiền 2.970.000.0000 đồng, trong đó có giấy ghi
ngày 23/12/2015 vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay không xác định thời hạn,
không tính lãi. Sau khi vay, bà L đã trả tiền cho bà V vào các ngày trả cụ thể như sau:
Từ ngày 27/10/2016 đến tháng 12/2020 bà L đã trả dần cho bà V số tiền 80 triệu
đồng. Từ tháng 5 đến tháng 12/2020, bà L trả dần cho bà V số tiền 30 triệu đồng. Từ
tháng 01/2021 đã trả 88 triệu đồng. (tất cả các lần trả nợ bà V đã viết giấy nhận số tiền
trên). Ngoài ra, từ ngày 27/10/2022 đến ngày 05/6/2023 con của bà Nguyễn Thị Mỹ L là
anh Huỳnh Đình T, đã chuyển từ tài khoản 1903661073010 Ngân hàng TMCP K1 Chi
nhánh Đ đến tài khoản số 23001010909966 Ngân hàng TMCP H2 của bà V để trả nợ số
tiền là 16 triệu đồng. Như vậy, bà L còn nợ lại bà Hàng Thị Tường V số tiền 286 triệu
đồng.
Bà L đồng ý trả số nợ gốc là 286 triệu, không đồng ý trả nợ lãi như yêu cầu của
nguyên đơn. Vì thực tế số tiền 500 triệu đồng này bà L đã trả cho bà V nhưng bà V không
trả lại giấy mượn tiền.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân
thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã căn cứ: Điều 26, Điều 35, Điều 217 Bộ luật
tố tụng dân sự; các Điều 463, 465, 466, 467, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26
nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Hàng Thị Tường V.
Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L hoàn trả cho bà Hàng Thị Tường V số tiền 768.500.000
đồng (trong đó 500.000.000 đồng tiền gốc và 268.500.000 đồng tiền lãi).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất trong giai đoạn thi hành án, án
phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/01/2024, Ông Phan Minh H là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà
Nguyễn Thị Mỹ L có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk cho rằng: Về tố tụng: Thẩm
phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình
tự, thủ tục giải quyết vụ án. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo
ủy quyền của bị đơn ông Phan Minh H là không có căn cứ. Về án phí: Trong quá trình
giải quyết tại cấp sơ thẩm, bà L là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí
dân sự sơ thẩm, sau khi kháng cáo bà L có đơn xin miễn án phí là có căn cứ chấp nhận.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông
Phan Minh H1, sửa một phần bản án sơ thâmt về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại
phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm,
nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không rút
kháng cáo; các đương sự không tự hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
[1] Xét đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn còn trong hạn,
nên hợp lệ.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Căn cứ vào
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, thể hiện
năm 2015 bà Hàng Thị Tường V có cho bà Nguyễn Thị Mỹ L vay số tiền 2.970.000.000
đồng làm 04 lần: Cụ thể: ngày 06/12/2015 vay số tiền 600.000.000 đồng; ngày
23/12/2015 vay số tiền 500.000.000 đồng; ngày 28/12/2015 vay số tiền 1.300.000.000
đồng; ngày 29/12/2015 vay số tiền 570.000.000 đồng. Bà V cho rằng bà L đã trả tiền cho
bà V số tiền gốc 2.470.000.000 đồng, số tiền còn lại là 500.000.000 đồng của khoản vay
23/12/2015 là chưa trả nên bà yêu cầu bà L phải trả cho bà.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà V xuất trình chứng cứ là giấy vay tiền
gốc ngày 23/12/2015 và bị đơn cũng thừa nhận có khoản vay trên. Đối với ba lần vay
tiền khác, bà L đã trả cho bà V nên bà V đã trả lại giấy vay tiền gốc cho bà L giữ, điều
này hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của các bên. Đối với giấy vay tiền ngày
23/12/2015, bị đơn bà L cho rằng đã trả xong khoản nợ trên nhưng chưa lấy lại Giấy vay
tiền gốc là không có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, bị đơn không cung cấp được tài liệu
chứng cứ chứng minh đã trả số tiền gốc cho nguyên đơn. Do đó, yêu cầu kháng cáo của
bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Về số tiền lãi: Từ năm 2016 đến năm 2021, bị đơn đã chuyển cho nguyên đơn tổng
số tiền 214 triệu đồng, điều này được nguyên đơn bà V thừa nhận và xác định đây là
khoản tiền lãi, không phải tiền gốc. Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích các tài liệu chứng
cứ và xác định lãi suất các bên thỏa thuận 1%/tháng là phù hợp, có cơ sở, đúng thực tế,
đồng thời xác định số tiền lãi 214 triệu đồng trên là khoản tiền lãi của khoản vay ngày
23/12/2015 là phù hợp.
[3] Về án phí:
[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ L là người cao tuổi và có đơn
xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần miễn toàn
bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà L là phù hợp. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng
cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần này.
Bà Hàng Thị Tường V được nhận lại 12.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
(ông Hàng Ninh K nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai
thu số: AA/2022/0003072 ngày 31/7/2023.
[3.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, Hội
đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
4
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần
kháng cáo của ông Phan Minh H là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn
Thị Mỹ L; Sửa Bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân dân
thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần án phí.
2. Áp dụng các Điều 463, 465, 466, 467, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều
12, Điều 26, Điều 29 nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án
phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Hàng Thị Tường V.
Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L hoàn trả cho bà Hàng Thị Tường V số tiền 768.500.000
đồng (trong đó 500.000.000 đồng tiền gốc và 268.500.000 đồng tiền lãi).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ L được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm; Bà
Hàng Thị Tường V được nhận lại 12.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp (ông Hàng
Ninh K nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai thu số:
AA/2022/0003072 ngày 31/7/2023. Bà Nguyễn Thị Mỹ L không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND thành phố Buôn Ma Thuột;
- Chi cục THADS thành phố B;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Bằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm