Bản án số 17/2025/KDTM-PT ngày 30/09/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về cung ứng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2025/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 17/2025/KDTM-PT ngày 30/09/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 17/2025/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương
Bà Lê Thị Thu Hương
- Thư phiên tòa: Thị Út - T Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thu Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 05/2025/TLPT- KDTM ngày 31
tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sthẩm số: 03/2025/KDTM - ST ngày 20 tháng 6 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay Tòa án nhân dân
Khu vực 4 - Vĩnh Long) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2025/QĐ - PT ngày 25
tháng 8 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2025/QĐ PT ngày 22
tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1.
Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, Thành phố Nội (nay phường H,
Thành phố Hà Nội).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng Quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hoàng Trung N, Chức vụ: Phó
Giám đốc, Khối Quản T cấu trúc tài sản. Theo giấy uỷ quyền số: 10772/UQ-
PVB ngày 10/6/2020.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Hoàng Trung N:
1. Ông Võ Tuấn H Giám đốc khách hàng doanh nghiệp (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Thành T1 - Chuyên viên tố tụng (có mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 17/2025/KDTM - PT
Ngày 30 - 9 - 2025
V/v “Tranh chấp
Hợp đồng tín dụng”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
3. Ông Lê Tiến D - Chuyên viên Quản lý tài (vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Hùng V - Chuyên gia Hỗ trợ nghiệp vụ (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Lầu F, A T, phường A, quận N, Thành phố Cần Thơ. Theo giấy
uỷ quyền số: 1880/UQ-PVB, ngày 14/4/2025.
- Bị đơn: ng ty TNHH MTV V1.
Địa chỉ: B ấp H, T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay phường T, tỉnh Vĩnh
Long).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thành Đ Giám đốc (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ G, ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của ông Phan T2 Được: Chị Phan Kim N1, sinh năm
1982 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường T, phường C, quận N, Thành phố Cần Thơ (nay
phường C, Thành phố Cần Thơ). Theo giấy uỷ quyền ngày 26/4/2025.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phan Văn T3, sinh năm 1955 (vắng mặt).
2. Bà Trần Thị Bích T4, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp V, H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay V, tỉnh
Vĩnh Long).
Người đại diện hợp pháp của ông Phan Văn T3, Trần Thị Bích T4: Chị
Phan Kim N1, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Số A, đường T, phường C, quận N, Thành phố Cần Thơ (nay
phường C, Thành phố Cần Thơ). Theo giấy uỷ quyền ngày 03/4/2025.
- Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ1 là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P nay Ngân hàng thương mại cổ phần
Đ1 (viết tắt là P1) trình bày: Vào ngày 01/6/2011, giữa Ngân hàng TMCP Đ1 (P1)
bị đơn D1, nay Công ty TNHH MTV V1 (gọi tắt Công ty V1) kết hợp
đồng tín dụng số 42/2011/HĐHM-DN.VL, cụ thể: Ngân hàng cho Công ty V1
vay số tiền 460.000.000 đồng, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn
vay 12 tháng, lãi suất 26%/năm, áp dụng lãi suất thả nổi thay đổi 01 tháng trên lần
(khế ước nhận nợ ngày 06/12/2011 số tiền 460.000.000 đồng, thời hạn vay 06
tháng). Ông Phan Văn T3, Trần Thị Bích T4 đứng bảo lãnh thế chấp tài sản
gồm: Thửa đất số 320, tờ bản đồ số 4, diện tích 435 m
2
, mục đích sử dụng đất thổ
quả, gắn liền căn nhà cấp 4, tọa lạc ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số B 494981 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày
3
28/8/1993 ông Phan Văn T3 đứng n quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số: 42/2011/HĐTC-DN.VL ngày 01/6/2011.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thực
hiện hợp đồng, tính đến ngày 31/5/2022 còn nợ số tiền vay vốn gốc 76.692.435
đồng, lãi 1.018.156.669 đồng, tổng cộng vốn, lãi bằng 1.094.849.104 đồng. Đến
ngày 06/9/2022 phía bị đơn đã trả được phần vốn gốc 76.692.435 đồng, nợ lãi chưa
thanh toán. Tại phiên họp ngày 12/5/2025, người đại diện của Ngân hàng xác định
bị đơn chỉ nợ số tiền nợ lãi tính đến ngày 05/9/2022 573.272.823 đồng nên chỉ
yêu cầu bị đơn trả nợ lãi với số tiền 573.272.823đồng.
Trường hợp phía bị đơn không thanh toán hết nợ cho Ngân hàng tNgân
hàng quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp đối với thửa đất số 320, diện tích
diện tích 435 m
2
theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 42/2011/HĐTC-
DN.VL ngày 01/6/2011 để thu hồi nợ.
Theo đơn yêu cầu ngày 28/9/2022 lời khai của Phan Kim N1 người
đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH MTV V1, của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T3, Trần Thị Bích T4 trong quá trình giải
quyết vụ án trình bày: Công ty TNHH MTV V1 thừa nhận ngày 01/6/2011, giữa
Ngân hàng TMCP Đ1 bị đơn Công ty TNHH MTV V1 ký kết hợp đồng tín
dụng số 42/2011/HĐHM-DN.VL, cụ thể: Ngân hàng cho Công ty TNHH MTV
V1 vay số tiền 460.000.000 đồng, phía ông T3, ch T4 bảo lãnh thế chấp
quyền sử dụng đất như Ngân hàng trình bày. Đến ngày 31/5/2022, ng ty TNHH
MTV V1 còn nợ Ngân hàng số tiền vay vốn gốc 76.692.435 đồng. Ngày 06/9/2022
phía bị đơn đã trả xong vốn gốc 76.692.435 đồng. Theo yêu cầu khởi kiện của
Ngân hàng thì bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với khoản tiền lãi phát sinh từ
trước ngày 10/11/2021 nên không đồng ý trả cho Ngân hàng phần tiền lãi này; còn
tiền lãi phát sinh từ ngày 10/11/2021 đến ngày 06/9/2022 thì bị đơn đồng ý trả cho
Ngân hàng với lãi suất quá hạn như thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường
hợp bđơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Phan Văn T3, Trần
Thị Bích T4 đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản để thu hồi nợ.
Tại bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 03/2025/KDTM - ST ngày
20/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân
dân Khu vực 4 - Vĩnh Long) đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đ1.
4
Buộc ông Phan Thành Đ chủ sở hữu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành
viên V1 trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền nợ lãi 18.712.954đ
(mười tám triệu bảy trăm mười hai ngàn chín trăm năm mươi bốn đồng).
Trường hợp ông Phan Thành Đ chủ sở hữu Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Một thành viên V1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 thì Ngân hàng được quyền yêu cầu
quan thi hành án thẩm quyền xử tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 42/2011/HĐTC-DN.VL ngày 01/6/2011. Nếu số tiền thu
được tviệc xtài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng t
ông Phan Thành Đ chủ sở hữu Công ty Trách nhiệm hữu hạn V1 vẫn phải có nghĩa
vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại
cổ phần Đ1 về yêu cầu trả lãi tính đến ngày 09/11/2021 với số tiền là 554.559.86
(năm trăm năm mươi bốn triệu năm trăm năm mươi chín ngàn tám trăm sáu mươi
chín đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 7 năm 2025, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1
kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn
không rút yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư đã tiến hành đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa
vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng:
Xét về thẩm quyền thụ giải quyết, ng ty TNHH một thành viên V1
địa chỉ tại T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Công ty chỉ bị thu hồi Giấy chứng nhận
đăng doanh nhưng chưa tiến hành thủ tục giải thể theo quy định pháp luật nên
chưa chấp dứt tình trạng pháp của Công ty. Do đó, Tòa án thẩm quyền thụ
giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, việc Tòa án nhân dân huyện
Long Hquyết định chuyển hồ cho a án nhân dân huyện Trà Ôn thụ giải
quyết không đúng thẩm quyền, cấp thẩm có vi phạm vthủ tục tố tụng. Tuy
5
nhiên, hiện các bên đương sự không ý kiến về thẩm quyền giải quyết của Tòa
án, hơn nữa nếu cấp phúc thẩm hủy án về thẩm giải quyết lại cũng không làm
thay đổi nội dung giải quyết vụ án. Do vậy, cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại
cách tham gia tố tụng bị đơn Công ty TNHH một thành viên V1 và tiếp tục xem
xét giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Vào ngày 01/6/2011, Ngân hàng TMCP P2 (nay là Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đ1) Doanh nghiệp nhân D1 (nay ng ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên V1) kết hợp đồng tín dụng số 42/2011/HĐHM-DN.VL. Ngân hàng
Thương mại cổ phần Đ1 cho Công ty V1 vay stiền 460.000.000 đồng, mục đích
bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay 6 tháng tính từ ngày giải ngân 06/12/2011
đến ngày 06/6/2012, lãi suất 26%/năm. Theo bảng kê chi tiết từ ngày 06/6/2012
đến ngày 09/11/2021 Công ty V1 trả nợ vốn cho Ngân hàng số tiền 383.307.565
đồng, số tiền gốc còn nợ lại 76.692.435 đồng. Ngày 06/6/2022 Ngân hàng làm đơn
khởi kiện yêu cầu Công ty V1 thanh toán nợ gốc 76.692.435 đồng lãi
573.272.823 đồng. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ngày 06/9/2022 Công ty V1
trả hết số tiền nợ gốc 76.692.435 đồng, còn tiền nợ tiền lãi 573.272.823 đồng.
Theo Điều 157 BLDS năm 2015 quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ
án dân sự:
“1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
a) Bên nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình
đối với người khởi kiện;
b) n nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của
mình đối với người khởi kiện;
2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày
xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này”.
Theo quy định nêu trên thì thời hiệu khởi kiện được tính lại 03 năm, t
ngày 09/11/2021 đến ngày 09/11/2024 là hết hạn theo quy định tại Điều 429 BLDS
năm 2015. Ngày 06/6/2022 Ngân hàng đơn khởi kiện, ngày 30/6/2022 Tòa án
thụ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là còn trong thời hiệu khởi kiện 03 năm
theo quy định của pháp luật. Việc Tòa án cấp thẩm nhận định thời hiệu 03 năm
được tính lại đối với số tiền 76.692.435 đồng, kể từ ngày 10/11/2021 đến ngày
05/9/2022 với số tiền lãi 18.712.954 đồng để chấp nhận một phần khởi kiện của
Ngân hàng là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân
hàng. Do vậy, Ngân hàng kháng cáo yêu cầu Công ty TNHH một thành viên V1 trả
số tiền lãi 573.272.823 đồng sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng c trong hồ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về cách bị đơn thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo C căn số:
41/ĐKKD ngày 20/4/2022 (BL 24) của Phòng đăng kinh doanh Sở Kế hoạch
Đầu tỉnh Vĩnh Long tng ty TNHH MTV V1 chỉ bị thu hồi Giấy chứng
nhận đăng doanh nghiệp theo Quyết định số QDTH/69939 ngày 04/9/2019 của
Phòng Đăng ký doanh nghiệp thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh V chứ chưa bị giải
thề theo quy định tại các điều 207, 208, 209, 210 của Luật doanh nghiệp năm 2020
nên chưa chấp dứt tình trạng pháp lý của công ty nên Công ty TNHH MTV V1 vẫn
bị đơn trong vụ án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
Long Hồ nhưng Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn giải quyết không đúng thẩm
quyền. Tuy nhiên, mặc Tòa án cấp thẩm thụ lý, giải quyết không đúng thẩm
quyền nhưng bản chất vụ án vẫn do Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết, không
ảnh hưởng đến quyền lợi lợi ích hợp pháp của các bên đương sự n cấp phúc
thẩm xét thấy không cần thiết phải hủy bản án thẩm mà chỉ rút kinh nghiệm đối
với Tòa án cấp sơ thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày
01/6/2011, giữa Ngân hàng TMCP P2 (nay là Ngân hàng TMCP Đ1) D1 (nay là
Công ty TNHH MTV V1) kết “Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức” số
42/2011/HĐHM-DN.VL ngày 01/6/2011 Khế ước nhận nợ” ngày 06/12/2011,
theo đó: Ngân hàng TMCP P2 cho D1 vay số tiền 460.000.000đ; thời hạn vay là 06
tháng (từ ngày 06/12/2011 đến ngày 06/6/2012); lãi suất tháng đầu 26%/năm,
sau đó điều chỉnh 01 tháng một lần; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh; trả
lãi 01 tháng/kỳ; trả gốc cuối kỳ. Quá trình thực hiện hợp đồng phía bị đơn thanh
toán dần nợ gốc cho nguyên đơn đến ngày 10/11/2021 còn nợ lại tiền gốc
76.692.435 đồng nợ lãi phát sinh. Mặc thời hạn hợp đồng tín dụng 06
tháng nhưng nguyên đơn Ngân ng vẫn cho phía bị đơn trả dần nợ, bị đơn cũng
trả dần đến ngày 10/11/2021 còn nợ lại tiền gốc 76.692.435 đồng tiền lãi phát
sinh. Như vậy, tính đến ngày 10/11/2021, bđơn vẫn thừa nhận nợ đối với nguyên
đơn Ngân hàng bao gồm cả phần nợ gốc nợ lãi phát sinh và bị đơn đã thực hiện
một phần nghĩa vụ trả nợ (trả nợ gốc số tiền 20.000.000 đồng vào ngày
10/11/2021). Theo Điều 157 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định định:
“1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
a) Bên nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của nh
đối với người khởi kiện;
b) n nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vcủa
mình đối với người khởi kiện;
c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.
2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày
xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này”.
7
Do đó, thời hiệu khởi kiện được tính lại từ ngày 10/11/2021 đối với số nợ gốc
76.692.435 đồng nợ lãi. Ngày 06/6/2022, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1
khởi kiện bị đơn yêu cầu trả nợ gốc số tiền 76.692.435 đồng nợ lãi còn thời
hiệu khởi kiện. Ngoài ra, trong qtrình giải quyết vụ án, ngày 06/9/2022 bị đơn
tiếp tục trả số tiền nợ gốc 76.692.435 đồng (BL 52). Việc Tòa án cấp sơ thẩm cho
rằng đối với phần nợ lãi trước ngày 10/11/2021 đã hết thời hiệu khởi kiện nên
được miễn trừ không đúng với quy định trên của pháp luật. Do đó, kháng cáo
của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ lãi tính đến ngày 05/9/2022 với số
tiền là 573.272.823 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như nhận định trên, Hội đồng xét xử xét
thấy có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí kinh doanh thương mai sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH MTV V1
phải chịu 26.930.912 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 22.422.000 đồng tiền tạm ứng án
phí kinh doanh thương mại thẩm theo biên lai số: 0004080 ngày 30/6/2022 của
Chi cục Thi hành án dân shuyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (nay Phòng Thi
hành án dân sự Khu vực 1- Vĩnh Long).
[5] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng
TMCP Đ1 không phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 2.000.000 đồng
tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo biên lai số: 0000097
ngày 14/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Đ1.
Sửa Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 03/2025/KDTM-ST ngày
20/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân
dân Khu vực 4 - Vĩnh Long).
Áp dung các Điều 121, 122, 124, 342, 343, 344, 471, 474, 715 của Bộ luật
Dân sự năm 2005;
Áp dụng các Điều 116, 117, 119, 157, 317, 319, 320, 321, 322, 323, 429, 463,
466 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân ng Thương mại cổ
phần Đ1.
8
Buộc Công ty TNHH MTV V1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số
tiền nợ lãi tính đến ngày 05/9/2022 là 573.272.823 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên
được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức i suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tướng ứng với thời
gian chưa thi hành án.
Trường hợp Công ty TNHH MTV V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc
trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 quyền
yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số: 42/2011/HĐTC-DN.VL ngày 01/6/2011.
2. Về án phí kinh doanh thương mai thẩm: Buộc Công ty TNHH MTV V1
phải chịu 26.930.912 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 22.422.000 đồng tiền tạm ứng án
phí kinh doanh thương mại thẩm theo biên lai số: 0004080 ngày 30/6/2022 của
Chi cục Thi hành án dân shuyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (nay Phòng Thi
hành án dân sự Khu vực 1 - Vĩnh Long).
3. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng
TMCP Đ1 không phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 2.000.000 đồng
tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo biên lai số: 0000097
ngày 14/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Vĩnh Long.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tnguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 4 - Vĩnh Long;
- Phòng THADS Khu vực 4 - Vĩnh Long;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Tải về
Bản án số 17/2025/KDTM-PT Bản án số 17/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 17/2025/KDTM-PT Bản án số 17/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất