Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 14/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 14/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 17/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Y Lm Niê, bà H H Mô phải trả cho tôi tổng số tiền 904.800.000 đồng, trong đó gồm nợ gốc là 870.000.000 đồng, nợ lãi là 34.800.000 đồng (lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 02/6/2024 đến ngày 02/10/2024) và tiếp tục tính lãi cho đến khi trả nợ xong.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
- 

Bản án số: 17/2025/DS-ST
Ngày: 14/8/2025
V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

  
NHÂN DANH

TÒA ÁN NHÂN DÂN - 
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Thọ;
2. Ông Trương Hữu Vinh. .
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Yến Thư Tòa án nhân dân Khu
vực 8 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Đắk Lắk tham gia phiên
tòa:Trương Thị Thảo Ngọc Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 m 2025, tại trụ sở Tán nhân dân Khu vực 8 - Đắk
Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-DS ngày 18/3/2024
về Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
25/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L;
Địa chỉ: Buôn Đ, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay Buôn Đ, C, tỉnh
Đắk Lắk) - có mặt.
- B đơn:
1. Ông Y Lm Niê;
Địa ch: Buôn T, C, huyn K, tỉnh Đắk Lk (nay là Buôn T, C, tnh
Đắk Lk) - vng mt.
2. Bà H H Mlô;
Địa chỉ: Buôn XA, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay Buôn XA, C,
tỉnh Đắk Lắk) - có mặt.
- Người làm chứng:
2
1. Bà Nguyễn Thị T;
Địa chỉ: Buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk - có mặt.
2. Bà H Ng Mlô;
Địa chỉ: Tổ dân phố C, P, tỉnh Đắk Lắk - vắng mặt (có đơn xin xét xử
vắng mặt).
3. Chị H V Mlô;
Địa chỉ: Buôn XA, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay Buôn XA, C,
tỉnh Đắk Lắk) - có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Êđê cho H H Mlô: Ông Y M Niê - Đội phó
Đội công tác 253 xã C, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Buôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk - mặt.
:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà
nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Do có quan hệ quen biết nên tôi có cho vợ chồng ông Y Lm Niê, H H
Mlô vay các khoản tiền gồm: Vay số tiền 350.000.000 đồng để trả nợ Ngân hàng
V Phòng giao dịch P; vay số tiền 450.000.000 đồng để trả nợ cho H Ng
Mlô; vay số tiền 70.000.000 đồng đnộp tiền án phí của ông Y Lm Niê, bà H H
Mlô.
Thứ nhất, đối với khoản tiền 450.000.000 mà ông Y Lm Niê, bà H H Mlô
vay để trả nợ cho H Ng Mlô, tôi chuyển khoản cho H H 02 lần tổng số
tiền chuyển khoản 405.000.000 đồng đưa tiền mặt cho H H số tiền
45.000.000 đồng để trả choH Ng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo Bản án dân
sự số 20/2023/DSST ngày 08/5/2023 của Toà án nhân dân huyện K. Địa điểm
trả tại Quán cà phê M ở xã P, có 02 chứng từ chuyển khoản vào ngày 18/6/2024,
một lần chuyển khoản số tiền 300.000.000 đồng, một lần chuyển khoản số tiền
105.000.000 đồng.
Thứ hai, đối với khoản tiền 70.000.000 đồng vay để nộp án phí và chi phí
khác trong đó gồm 02 khoản án phí là 18.528.000 đồng + 20.107.000 đồng =
38.635.000 đồng, còn lại số tiền hơn 31.365.000 đồng tôi đưa tiền mặt cho bà H
H để H H lo các khoản chi phí của H H.
Thứ ba, đối với khoản nợ 350.000.000 đồng tôi cho vay để trả cho ngân
hàng nguồn gốc do bị đơn ông Y Lm Niê, bà H H Mlô nợ tiền Ngân hàng
V - Phòng giao dịch P, đến hạn trả nợ theo Quyết định công nhận sự thoả thuận
của các đương sự số 101/2022/QĐST-DS ngày 28/9/2022 của Toà án nhân dân
3
huyện K, với tổng số tiền cả lãi gốc hơn 951.000.000 đồng, sao
thông tin chuyển khoản. Sau khi trả ngân hàng thì bị đơn đã lấy được 03 quyền
sử dụng đất là tài sản thế chấp của bị đơn tại Ngân hàng, gồm:
Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 23, diện tích 4130m
2
, tọa lạc tại xã C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 082296 do Uỷ
ban nhân dân huyện K cấp ngày 11/03/1996, đứng tên ông Y Lm Niê.
Thửa đất số 15, tbản đồ số 101, diện tích 5311m
2
, tọa lạc tại C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 425900
do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/10/2016, đã xác nhận tặng
cho đứng tên ông Y Lm Niê, bà H H Mlô vào ngày 01/11/2019.
Thửa đất số 16, tbản đồ số 33, diện tích 26182m
2
, tọa lạc tại C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 45899
do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/10/2016, đã xác nhận tặng
cho đứng tên ông Y Lm Niê, bà H H Mlô vào ngày 01/11/2019.
Sau khi lấy được các quyền sử dụng đất thì ông Y Lm Niê, H H Mlô
chỉ bán thửa đất số 16, tờ bản đồ số 33, không bán được thửa đất số 15ông Y
Lm Niê, bà H H Mlô bị ông Lê Bá K yêu cầu phong toả cấm chuyển nhượng. Vì
vậy, ông Y Lm Niê, H H Mlô không trả hết được số tiền tôi cho vay trả ngân
hàng mà còn nợ lại số tiền 350.000.000 đồng, đến nay vẫn không trả được nợ.
Tổng số tiền nợ 870.000.000 đồng, số tiền vay là để trả các khoản nợ
chung của bị đơn ông Y Lm Niê, H H Mlô, các khoản nợ đã được ghi nhận
tại Giấy thống nhất số nợ ngày 02/6/2024, thoả thuận thời gian trả nợ là 10 ngày,
tiền lãi 1%/tháng, khi quá hạn trả nợ, tôi đã nhiều lần yêu cầu nhưng bị đơn
không thực hiện việc trả nợ. vậy, tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Y Lm
Niê, bà H H Mô phải trả cho tôi tổng số tiền 904.800.000 đồng, trong đó gồm nợ
gốc là 870.000.000 đồng, nợ lãi 34.800.000 đồng (lãi suất 1%/tháng, tính từ
ngày 02/6/2024 đến ngày 02/10/2024) tiếp tục tính lãi cho đến khi trả nợ
xong.
Tại phiên thôm nay, tôi không yêu cầu ông Y Lm Niê trả cho tôi số
tiền 31.365.000 đồng mà tôi đưa tiền mặt cho bà H H nên tôi chỉ yêu cầu bà H H
Mlô trả, đối với các khoản nợ còn lại thì tôi giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, bđơn H H Mlô trình
bày:
Do quen biết nên vợ chồng tôi Y Lm Niê, H H vay tiền của
bà Nguyễn Thị L để trả nợ các khoản nợ của chúng tôi, cụ thể: Vay 350.000.000
4
đồng đtrả nợ Ngân hàng V Phòng giao dịch P; vay 450.000.000 đồng đtrả
nợ cho H Ng Mô; vay thêm 70.000.000 đồng để nộp tiền án phí chi phí
khác của chúng tôi. Tổng cộng chúng tôi nợ của L 870.000.000 đồng tiền
gốc, sau khi hai bên tính thống nhất số tiền nợ và hẹn 10 ngày thu xếp để trả, lãi
suất 1%/tháng.
Về nguồn gốc của khoản nợ ngân hàng 350.000.000 đồng là do vợ chồng
tôi nợ Ngân hàng V Phòng giao dịch P vào năm 2022 nhưng không trả được
nên phải nhờ bà L cho vay tiền để trả nợ cho Ngân hàng, rút 03 bìa đỏ ra chuyển
nhượng trả nợ, với tổng số tiền gốc lãi trả cho ngân hàng khoảng
950.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi t 03 bìa đất của chúng tôi ra chỉ bán
được thửa đất số 16, tờ bản đồ số 33 trả được cho L một phần tiền, còn
thửa đất số 15, tờ bản đồ số 101 không bán được bị ông K ngăn chặn
nên khoản vay để trả Ngân hàng vợ chồng tôi còn nợ của L số tiền
350.000.000 đồng.
Đối với khoản tiền trả ncho H Ng tiền nợ án phí, do trước đó v
chồng tôi nợ tiền của H Ng đã Bản án xét xử của Toà án, sau khi L
cho vay tiền rút 03 bìa đất ra, khi chuyển nhượng thửa đất rẫy 16, tờ bản đồ số
33, diện tích 26182m
2
do còn nợ tiền của bà H Ng tiền án phí nên không thực
hiện được việc chuyển nhượng. vậy, vợ chồng tôi phải vay tiền của L để
trả nợ cho bà H Ng với tổng số tiền 450.000.000 đồng, bà L đã chuyển khoản và
đưa tiền mặt cho H Ng tại Quán phê M P. Còn tiền án phí 02
khoản 18.528.000 đồng + 20.107.000 đồng = 38.635.000 đồng thì vợ chồng
tôi cũng phải vay tiền của L đtrả, sau đó L đưa tiền mặt cho tôi thêm
khoảng 32.000.000 đồng để lo chi phí làm bìa. Các khoản nợ trên khoản n
chung của tôi và ông Y Lm Niê, hiện nay chúng tôi không còn khả năng trả nợ.
Bà L khởi kiện yêu cầu chúng tôi trả cho L tổng số tiền 904.800.000
đồng, trong đó gồm nợ gốc 870.000.000 đồng, nợ lãi 34.800.000 đồng (lãi
suất 1%/tháng, tính từ ngày 02/6/2024 đến ngày 02/10/2024) tiếp tục tính lãi
cho đến khi trả nợ xong thì tôi đồng ý.
Đối với bị đơn ông Y Lm Niê quá trình giải quyết vụ án đã được cấp,
thông báo các văn bản tố tụng, triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không
lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Người làm chứng Nguyễn Thị T quá trình giải quyết vụ án tại
phiên toà trình bày:
Tôi Nguyễn Thị L đi làm ăn chung với nhau, ngày 09/4/2024, tôi đi
5
cùng với bà L đến Ngân hàng V, Phòng giao dịch P để L cho ông Y Lm Niê,
bà H H Mlô vay tiền trả nợ ngân hàng. Do điện thoại của bà L bị trục trặc nên
L nhtôi chuyển khoản giúp vào tài khoản của H H Mlô tại Ngân hàng V,
Phòng giao dịch P của H H Mlô với số tiền 400.000.000 đồng, chứng từ
chuyển khoản chứng minh việc chuyển khoản. Việc chuyển khoản giúp đã thực
hiện xong, việc giữa tôi L nên tôi không yêu cầu giải quyết bất kỳ
vấn đề gì trong vụ án này.
Người làm chứng bà H Ng Niê Quá trình giải quyết vụ án đã trình bày:
Trước đây, vợ chồng ông Y Lm Niê, bà H H Mlô nợ tiền của tôi
không trả được nên tôi đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện K, đã được xét
xử tại Bản án dân sự thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 08/5/2023, quyết định
buộc ông Y Lm Niê, H H Mlô phải trả cho tôi tổng số tiền 402.677.333 đồng
cả gốc lãi, tiếp tục tính lãi cho đến khi trả nợ xong. Nguyễn Thị L liên
hệ với tôi để hẹn gặp trả nợ tiền cho ông Y Lm Niê, H H Mlô, sau đó tôi
L gặp nhau tại quán phê M để nói chuyện, tôi được biết H H nhờ
L đứng ra trả tiền cho tôi. L đã trả cho H H tiền nợ tôi tổng số tiền
450.000.000 đồng, trong đó L chuyển khoản 2 lần từ số tài khoản của L
sang số tài khoản của tôi, lần một chuyển khoản số tiền 300.000.000 đồng, lần 2
chuyển khoản số tiền 105.000.000 đồng đưa thêm cho tôi 45.000.000 đồng
tiền mặt. Tôi nhận tiền và rút đơn yêu cầu thi hành án đối với ông Y Lm Niê, bà
H H Mlô, từ đó chúng tôi không liên hệ với nhau nữa.
Người làm chứng chị H V Mlô tại phiên toà đã trình bày: Tôi là con của
ông Y Lm Niê, H H Mlô, vào ngày 02/6/2024, tôi mặt khi mẹ tôi H
H viết giấy thống nhất số nợ với L, nhưng tôi không liên quan gì đến việc nợ
nần của bố mẹ tôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ vụ án đến
trước khi mở phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s,
tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư phiên toà đã thực hiện đúng trình tthủ
tục của phiên tòa thẩm. Đối với nguyên đơn, bị đơn H H Mlô, người làm
chứng đã thực hiện đầy đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Y Lm Niê đã được triệu tập tham gia
tố tụng, tham gia phiên toà nhưng đều vắng mặt không do nên việc xét xử
vắng mặt bị đơn ông Y Lm Niê là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227,
khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
6
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 184
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468,
Điều 470 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Y Lm Niê, H H Mlô nghĩa vụ tr lại số tiền nợ gốc
450.000.000 đồng là khoản tiền bà Nguyễn Thị L đã cho mượn để trả tiền cho
H Ng Mlô theo Bản án số 20/2023/DS-ST ngày 08/5/2023 của Toà án nhân dân
huyện K lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 02/6/2024 đến ngày xét xử,
tiếp tục tính lãi suất cho đến khi trả nợ xong.
Buộc bà H H Mlô phải trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị L số tiền nợ gốc
420.000.000 đồng, khoản tiền còn lại trong tổng số nợ gốc 870.000.000
đồng lãi suất phát sinh theo quy định pháp luật từ ngày 02/6/2024 đến ngày
xét xử, tiếp tục tính lãi suất cho đến khi trả nợ xong.
Về án phí: Buộc H H Mlô, ông Y Lm Niê phải chịu án phí dân sự
thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào lời trình bày của đương sự kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây quan hệ tranh chấp về hợp
đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân s
tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông
Búk (nay Toà án nhân dân Khu vực 8 - Đắk Lắk) theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Y Lm Niê đã được Toà án triệu tập
nhưng vắng mặt tại phiên toà đến lần thhai không do, người làm chứng
H Ng Mlô đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
mặt bị đơn ông Y Lm Niê, người làm chứng H Ng Mlô đúng quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Y Lm Niê, H H Mlô phải trả tổng số tiền
904.800.000 đồng, trong đó gồm n gốc 870.000.000 đồng, nợ lãi
34.800.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 02/6/2024 đến ngày
02/10/2024 tiếp tục tính lãi cho đến khi trả nxong, Hội đồng xét xử xét
thấy:
7
[3.1] Theo giấy thống nhất số nợ ngày 02/6/2024 giữa bà L và bà H H thể
hiện nội dung hai bên thống nhất snL đứng ra trả nợ thay cho ông Y
Lm Niê, bà H H Mlô gồm: Trả nợ ngân hàng 350.000.000 đồng, trả nợ cho bà H
Ng 450.000.000 đồng, trả nợ các khoản phát sinh 70.000.000 đồng, xét nguồn
gốc từng khoản vay thấy rằng:
Đối với khoản vay 350.000.000 đồng nguồn gốc từ số nợ ông Y Lm
Niê, H H Mlô nợ của Ngân hàng V theo Quyết định công nhận sự thoả thuận
của các đương sự số 101/2022/QĐST-DS ngày 28/9/2022 của Toà án nhân dân
huyện K, giữa nguyên đơn Ngân hàng V bị đơn ông Y Lm Niê, H H Mlô.
Do ông Y Lm Niê, H H Mlô không trả được nợ nên vay tiền của L để
trả nợ. L đã chuyển tiền vào stài khoản của H H Mlô với tổng số tiền
950.000.000 đồng theo các chứng từ chuyển tiền gồm ngày 12/3/2024 chuyển số
tiền 50.000.000 đồng, ngày 09/4/2024 chuyển số tiền 300.000.000 đồng; cũng
trong ngày 09/4/2024 L nhờ Nguyễn Thị T chuyển số tiền 400.000.000
đồng ngày 16/4/2024 chuyển số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản của
H H, việc chuyển tiền là phù hợp với chứng từ chuyển khoản do L sao
cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án. Sau khi trả ngân hàng thì H H rút
tài sản thế chấp 03 quyền sử dụng đất của ông Y Lm Niê, bà H H Mlô gồm:
Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 23, diện tích 4130m
2
, tọa lạc tại C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 082296 do Uỷ
ban nhân dân huyện K cấp ngày 11/03/1996, đứng tên ông Y Lm Niê.
Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 101, diện tích 5311m
2
, tọa lạc tại xã C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 425900 do Sở
Tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/10/2016, đã xác nhận tặng cho
đứng tên ông Y Lm Niê, bà H H Mlô vào ngày 01/11/2019.
Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 33, diện tích 26182m
2
, tọa lạc tại xã C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 45899 do Sở
Tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/10/2016, đã xác nhận tặng cho
đứng tên ông Y Lm Niê, bà H H Mlô vào ngày 01/11/2019.
Sau khi rút tài sản thế chấp ông Y Lm Niê, bà H H Mlô đã chuyển nhượng
thửa đất số 16, tờ bản đồ số 33 để trả nợ cho L được số tiền 550.000.000
đồng, còn thửa đất số 15 không chuyển nhượng được ông Y Lm Niê, H H
Mlô bị ông Lê Bá K khởi kiện và yêu cầu phong toả cấm chuyển dịch nên không
chuyển nhượng được để có tiền trả lại cho bà L. vậy, ông Y Lm Niê, H H
Mlô còn nợ của bà L số tiền 350.000.000 đồng là có thật.
8
Đối với khoản vay 450.000.000 đồng mà bà L đứng ra trả cho bà H Ng
nguồn gốc do ông Y Lm Niê, bà H H Mlô nợ tiền của bà H Ng Mlô theo Bản án
số 20/2023/DSST ngày 08/5/2023 của Toà án nhân dân huyện K, với số tiền n
H Ng bao gồm nợ gốc lãi 402.677.333 đồng tính đến ngày 15/7/2021.
Vì vậy, H H đã vay tiền của L để trả nợ cho H Ng, sau khi giấy
thống nhất nợ, ngày 16/4/2024 L có hẹn H Ng để giao tiền trả nợ thay cho
ông Y Lm Niê, H H Mlô với tổng số tiền 450.000.000 đồng theo chứng từ
chuyển khoản 02 lần vào ngày 16/4/2024 (lần 1 chuyển số tiền 300.000.000
đồng, lần 2 chuyển số tiền 105.000.000 đồng) và đưa trực tiếp tiền mặt cho bà H
Ng Mlô số tiền 45.000.000 đồng. Sự việc này phù hợp với lời trình bày của bà H
H Mlô bà H Ng nên căn cứ xác định H H ông Y Lm nợ L số
tiền 450.000 đồng là có thật.
Đối với khoản nợ 70.000.000 đồng nguồn gốc từ số tiền nợ án pcủa
ông Y Lm Niê, H H Mlô gồm 02 khoản án phí 18.528.000 đồng
20.107.000 đồng, bà H H Mlô vay của L để trả nợ 02 khoản án phí này
38.635.000 đồng và H H vay thêm số tiền 31.365.000 đồng để lo các khoản
chi phí khác của bà H H Mlô, được các đương sự thừa nhận.
Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà bđơn H H xác nhận các
khoản vay trên là đúng. Đối với bị đơn ông Y Lm Niê, quá trình giải quyết vụ án
ông Y Lm Niê không hợp tác làm việc nên không thu thập được lời khai, giấy
thống nhất số nợ không chữ của ông Y Lm Niê. Tuy nhiên, xét về nguồn
gốc số nợ thì các khoản vay nợ gồm số tiền 350.000.000 đồng, s tiền
450.000.000 đồng 38.635.000 đồng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các
khoản nợ phải thi hành trong thời gian chung sống của ông Y Lm Niê, H H
Mlô theo các Quyết định, Bản án đã hiệu lực pháp luật nên cần xác định ông
Y Lm và H H phải cùng nghĩa vụ trả nợ cho L phù hợp. Đối với số
tiền 31.365.000 đồng bà L đưa cho H H sau khi ông Y Lm Niê, bà H H
Mlô không còn chung sống với nhau khoản tiền này H H Mlô dùng vào
mục đích riêng của nhân H H nên không sở để cho rằng số tiền vay
31.365.000 đồng là nợ chung của ông Y Lm Niê, H H Mlô. Tại phiên toà,
L chỉ yêu cầu H H trả số tiền 31.365.000 đồng không yêu cầu ông Y Lm
Niê phải nghĩa vụ cùng H H trả số tiền 31.365.000 đồng căn cứ cần
chấp nhận.
Từ những phân tích nhận định trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
L về việc yêu cầu ông Y Lm Niê, H H Mlô phải trả tổng số n gốc
9
838.635.000 đồng yêu cầu H H phải trả số tiền 31.365.000 đồng phù
hợp với quy định tại Điều 288, Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự
2015.
[3.2] Về yêu cầu tính lãi: Giấy thống nhất nợ thể hiện lãi suất thoả
thuận 1%/tháng thời hạn vay. vậy, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ vay
tài sản giữa hai bên thuộc trường hợp vay thời hạn thỏa thuận về lãi
suất, nên yêu cầu tính lãi của nguyên đơn có căn cứ, phù hợp quy định tại các
Điều 357, Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần chấp
nhận, lãi được tính từ ngày 02/6/2024 đến ngày xét xử vụ án là ngày 14/8/2025,
lãi được tính như sau:
- 838.635.000 đồng x 1%/tháng x 14 tháng 12 ngày (tính t ngày
02/6/2024 đến 14/8/2025) = 120.763.000 đồng (làm tròn số tiền);
- 31.365.000 đồng x 1%/tháng x 14 tháng 12 ngày (tính từ ngày 02/6/2024
đến 14/8/2025) = 4.517.000 đồng (làm tròn số tiền);
Như vậy, tổng số tiền nợ gốc và lãi ông Y Lm Niê, H H Mlô phải trả
cho L tính đến ngày xét xử 14/8/2025 là: 838.635.000 đồng + 120.763.000
đồng = 959.398.000 đồng. Tổng số tiền nợ gốc lãi, H H Mlô phải trả cho
L tính đến ngày xét xử 14/8/2025 31.365.000 đồng + 4.517.000 đồng =
35.882.000 đồng.
Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, thì kể từ ngày tiếp
theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
thoả thuận 1%/tháng phù hợp với quy định khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự
2015.
[5] Về án phí: Căn cứ các Điều 144, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Bị đơn ông Y Lm Niê, H H Mlô phải chịu án phí dân sthẩm số
tiền 40.781.940 đồng là phù hợp.
Bị đơn bà H H Mlô phải chịu án phí dân sự thẩm số tiền 1.794.100
đồng là phù hợp.
Hoàn trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị L số tiền 19.572.000 đồng đã
nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu số AA/2023/0006425 ngày
18/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K (nay Phòng thi hành án
dân sự Khu vực L - Đắk Lắk) là phù hợp.
10
các lẽ trên;

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, Điều 147, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 243, 244,
Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 288, Điều 357, Điều
463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Toà án.
Tuyên x:
1. Chp nhn yêu cu khi kin ca nguyên đơn bà Nguyn Th L.
- Buộc bị đơn ông Y Lm Niê, bà H H Mlô có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn
Nguyễn Thị L tổng số tiền 959.398.000 đồng (Chín trăm năm mươi chín
triệu, ba trăm chín mươi tám nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 838.635.000 đồng,
nợ lãi 120.763.000 đồng (lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 02/6/2024 đến ngày
xét xử sơ thẩm ngày 14/8/2025).
- Buộc bị đơn bà H H Mlô có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị
L tng số tiền 35.882.000 đồng, trong đó ngốc 31.365.000 đồng, nợ lãi
4.517.000 đồng (lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 02/6/2024 đến ngày xét xử
thẩm ngày 14/8/2025).
Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, thì kể từ ngày tiếp
theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
thoả thuận 1%/tháng phù hợp với quy định khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự
2015.
2. Về án phí:
Bị đơn ông Y Lm Niê, H H Mlô phải chịu số tiền 40.781.940 đồng án
phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn H H Mlô phải chịu số tiền 1.794.100 đồng án phí dân sự
thẩm.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn Nguyễn Thị L số tiền 19.572.000 đồng đã
nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2023/0006425 của Chi cục thi hành
án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay Phòng thi hành án dân sự Khu vực L -
Đắk Lắk)
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà được quyền
kháng cáo bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án. Bđơn
11
vắng mặt tại phiên toà quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
 
- TAND tỉnh Đắk Lắk;  
- VKSND khu vực 8 - Đắk Lắk;
- Các đương sự; (đã ký, đóng dấu)
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 8 - Đắk Lắk;
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.

Tải về
Bản án số 17/2025/DS-ST Bản án số 17/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 17/2025/DS-ST Bản án số 17/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất