Bản án số 17/2022/DS-ST ngày 22/04/2022 của TAND TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2022/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 17/2022/DS-ST ngày 22/04/2022 của TAND TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Trà Vinh (TAND tỉnh Trà Vinh)
Số hiệu: 17/2022/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/04/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Hào.
2. Bà Thạch Thị Mỹ Kim.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham
gia phiên tòa: Ông Đặng Chí Thiện, Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà
Vinh, tỉnh Trà Vinh mphiên tòa xét xử thẩm công khai vụ án thụ số:
90/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2021, về việc Tranh chấp hợp đồng bảo
lãnh, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐST-DS ngày 11 tháng
3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2022/QĐST-DS ngày 31/3/2022,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Qũy n dụng nhân dân cơ sở L, do ông Võ Quốc T, sinh
năm 1987, là Chủ tịch Hội đồng quản trị - đại diện theo pháp luật.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Vinh Q, sinh năm 1990, người đại
diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/3/2021), có mặt.
Địa chỉ: Số 48C, đường L, phường B, thành phố T, tỉnh T.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1969, vắng mặt.
Địa chỉ: Số 19/9 đường Q, khóm N, phường B, thành phố T, tỉnh T.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Lê Văn T, sinh năm 1956, vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T.
2/ Anh Lê Minh Th, sinh năm 1982 (chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Thống:
2.1. Chị Phạm Thị M, sinh năm 1983; vắng mặt.
2.2. Anh Lê Hải L, sinh năm 2008, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T.
3/ Bà Phạm Thị Bé T, sinh năm 1962;
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 17/2022/DS-ST
Ngày: 22/4/2022
“V/v Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
4/ Chị Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1987;
5/ Anh Lê Minh H, sinh năm 1984.
Người đại diện hợp pháp của chị Thanh, anh Hải: Phạm Thị T,
người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 17/3/2022 và ngày
11/3/2022), có mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T.
6/ Bà Đỗ Thị Phương H, sinh năm 1948.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh T.
Người đại diện hợp pháp của bà Huyền: Ông Trần Văn L, sinh năm 1956;
là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 26/3/2021), có mặt.
Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T.
7/ Ông Trần Văn L, sinh năm 1956; có mặt.
8/ Bà Trần Thị E, sinh năm 1963; có mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T.
9/ Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T, đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Số 208, đường 2/9, khóm H, thị trấn CT, huyện C, tỉnh T.
10/ Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh,
đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: khóm H, thị trấn CT, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ
Vinh Q là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:
Vào ngày 23/9/2005, Qũy n dụng nhân dân sở L (sau đây gọi tắt Qũy
tín dng) và bà Nguyễn Thị Kim Q có giao kết hợp đồng tín dụng, theo hợp đồng
thì Qũy tín dụng nhân dân cơ sở L cho bà Q vay số tiền 80.000.000 đồng, với lãi
suất 1,6%/tháng, lãi quá hạn 2,4%/tháng. Để đảm bảo cho khoảng vay này thì bà
Phạm Thị Bé T, ông Văn T có đứng ra kết hợp đồng bảo lãnh 26/9/BL ngày
15/9/2005 với nội dung dùng quyền sử dụng đất tại các thửa đất:
- Thửa đất số 328, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số G 982192
cấp ngày 25/12/1995 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T cấp cho hộ Phạm
Thị Bé T;
- Thửa đất số 392, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số G 982193
cấp ngày 25/12/1995 cho hộ bà Phạm Thị Bé T;
- Thửa đất số 1766, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hồ sơ gốc số
30/GCN cấp ngày 14/6/2005, cấp cho ông Lê Văn T và bà Phạm Thị Bé T.
Còn cha bà Q ông Nguyễn Văn T đã dùng tài sản của mình là thửa đất số
98, diện tích 134,9m
2
tọa lạc tại khóm 5, phường 4, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà
Vinh, do ông Nguyễn n T đứng tên để bảo lãnh theo tờ bảo lãnh ngày
20/9/2005.
Do bà Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng nthỏa thuận nên vào ngày
25/12/2006 thì nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thị xã T (nay là
3
thành phố T) để yêu cầu Q trả số nợ đã vay nêu trên. Nếu trường hợp Q
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vtr nợ của Hợp đồng tín dụng
thế chấp cầm cố ngày 23/9/2005 thì Qũy tín dụng nhân dân sLong Bình
được quyền yêu cầu xử lý phát mãi tài sản bảo lãnh mà bà Bé T, ông T đã ký tên
bảo lãnh theo hợp đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày 15/9/2005 để Qũy tín dụng thu
hồi nợ.
Ti Bản án thẩm số 44/2007/DS-ST ngày 24/5/2007 của Tòa án nhân
dân thị T (nay là thành phố T) tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Bà Bé T, ông T kháng cáo. Bản án phúc thẩm số 290/2007/DS-
ST ngày 24/9/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh T bác kháng cáo, giữ nguyên bản án
thẩm. Sau đó, Quyết định giám đốc thẩm số 384/2011/DS-GĐT ngày
23/5/2011 của Tòa án nhân dân tối cao đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và bản án
phúc thẩm nêu trên. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thị xã T thụ giải quyết lại.
Bản án thẩm số 06/2013/DS-ST ngày 21/6/2013 của a án nhân dân thành
phố T đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vô hiệu hợp
đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày 15/9/2005. Nguyên đơn kháng cáo. Bản án phúc
thẩm s09/2014/DS-ST ngày 04/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh T đã bác kháng
cáo của nguyên đơn. Sau đó Quyết định giám đốc thẩm số 48/2017/DS-GĐT ngày
18/12/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H đã hủy toàn bộ bản án
phúc thẩm số 09/2014/DS-ST ngày 04/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh T giao
hồ cho Tòa án nhân dân tỉnh T để xét xử phúc thẩm lại. Bản án dân sự phúc
thẩm số 92/2020/DS-PT ngày 11/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T đã tuyên xử
hủy một phần bản án thẩm số 06/2013/DS-ST ngày 21/6/2013 của a án nhân
dân thành phố T đối với phần giải quyết hợp đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày
15/9/2005 giữa Qũy tín dụng với bà Bé T, ông T.
Đồng thời ngày 09/6/2014 Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T có Quyết định
công nhận sthỏa thuận giữa các đương sự số 51/2014/QĐST-DS về việc “Công
nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số số 328, diện tích đất 4.000 m
2
cho ông
Trần Văn L Trần Thị E”. Nên đến năm 2015, ông L E đã được Ủy
ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
nêu trên.
Dẫn đến tình trạng hiện nay, tại thửa đất số 328, tồn tại song song 02 bản
gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Số G 982192 cấp ngày 25/12/1995 cấp cho hộ Phạm ThịT thì do Qũy tín
dụng nhân dân s L đang giữ, còn giấy chứng nhận số BV 238885 ngày
14/4/2015 cấp ông L, bà E đứng tên thì ông L, bà E đang giữ).
Nay trong vụ án này, nguyên đơn ý kiến yêu cầu như sau: Vấn đề
nguyên đơn yêu cầu bà Q trả nợ tiền vay thì đã được Tòa án xét xử bằng Bản án
sơ thẩm số 06/2013/DS-ST ngày 21/6/2013 của Tòa án nhân dân thành phố T
Bản án dân sự phúc thẩm số 92/2020/DS-PT ngày 11/9/2020 của Tòa án nhân dân
tỉnh T đã hiệu lực pháp luật thì nguyên đơn thống nhất, không ý kiến gì.
Nguyên đơn sẽ yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành các bản án này.
Nay nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp Q không thực hiện đúng nghĩa
vụ thanh toán nợ của hợp đồng tín dng s 61/9/05 ngày 23/9/2005 thì nguyên
4
đơn yêu cầu xử phát mãi tài sản mà T, ông T bảo lãnh theo Hợp đồng
bảo lãnh số 26/9/BL ngày 15/9/2005 để thu hồi nợ cho nguyên đơn. Nếu trường
hợp Hợp đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày 15/9/2005 hiệu ttrong vụ án này
nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về bồi thường thiệt hại khi
hợp đồng vô hiệu vì tính đến thời điểm hiện nay thì nguyên đơn chưa yêu cầu thi
hành án đối với bà Q, nên tạm thời chưa phát sinh thiệt hại, khi nào có yêu cầu thì
nguyên đơn sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.
Quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn bà Nguyễn ThKim Q đều vắng mặt
các lần triệu tập của Tòa án nên không lời khai. Lời trình bày của Q
trong hồ sơ vụ án trước đây như sau:
Bà Q thừa nhận có vay của Qũy tín dụng nhân dân cơ sở L và dùng các tài
sản của bà Phạm Thị Bé T và ông Lê Văn T, ông Nguyễn Văn T bảo lãnh để đảm
bảo cho khoản nợ vay như Qũy tín dụng nhân dân sở L trình bày đúng. Ngày
29/10/2009 Thi hành án dân sự thị xã T (nay là Chi cục Thị hành ánn sự thành
phố T) đã phát mãi tài sản của ông Nguyễn Văn T đthanh toán cho Qũy tín dụng
nhân dân sở L số tiền ngốc bằng 31.271.000 đồng và lãi là 23.064.540 đồng.
Hiện nay, bà còn nợ lại Qũy tín dụng nhân dân sở L số tiền vay gốc
48.729.000 đồng và tiền lãi từ ngày 22/01/2006. Nay bà không có khả năng thanh
toán số nợ trên nên yêu cầu phát mãi tài sản do T, ông T trước đây đã
bảo lãnh để Qũy tín dụng nhân dân cơ sở L thu hồi nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Bé T và bà Bé T đồng
thời là người đại diện hợp pháp của anh Minh H, chị Lê Thị Mỹ T trình bày và
có yêu cầu như sau:
Phạm Thị T thừa nhận hợp đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày
15/9/2005 để dùng tài sản bảo lãnh cho bà Q vay tiền tại Qũy tín dụng nhân dân
sở L. Tuy nhiên, khi kết thì các tài sản trên tài sản chung của vợ chồng
bà với ông Lê Văn T và chung của hộ gia đình , lúc đó bà không được sự đồng
ý của chồng và các con một mình tên vào hợp đồng bảo lãnh. Chữ
trong hợp đồng bảo lãnh không phải là chữa ký của ông Lê Văn T. Đồng thời do
Q không thực hiện như thỏa thuận ban đầu với khi vay được tiền, Q
không giao lại cho tiền vay. Do đó, nay không đồng ý phát mãi tài sản theo
yêu cầu của nguyên đơn.
Ngoài ra, thửa đất số 328, diện tích đất 4.000 m
2
, theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất SG 982192 cấp ngày 25/12/1995 do Ủy ban nhân dân huyện
C, tỉnh T cấp cho hộ Phạm Thị T thì trước đây đã cầm cho Đỗ Thị
Phương H hiện nay bà H đã chuyển nhượng cho bà Eông L. Đã được Tòa
án nhân dân huyện C giải quyết tranh chấp Công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự theo Quyết định số 51/2014/QĐST-DS ngày 09/6/2014. Do đó, ông L,
bà E đã được cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.
Nay trong vụ án này không đồng ý phát mãi tài sản bảo lãnh theo yêu
cầu của nguyên đơn, yêu cầu Qũy tín dụng nhân dân sở L phải trả lại cho
hộ gia đình bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa đất:
5
- Thửa đất số 392, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số G 982193
cấp ngày 25/12/1995 cho hộ bà Phạm Thị Bé T;
- Thửa đất số 1766, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hồ sơ gốc số
30/GCN cấp ngày 14/6/2005, cấp cho ông Lê Văn T và bà Phạm Thị Bé T.
Riêng đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 328, theo
giấy chứng nhận quyền sdụng đất Số G 982192 cấp ngày 25/12/1995 do Ủy ban
nhân dân huyện C, tỉnh T cấp cho hộ bà Phạm Thị T thì không yêu cầu
Qũy tín dụng nhân dân sở L trả cho hộ gia đình yêu cầu Qũy tín dụng
nhân dân cơ sở L giao lại cho Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi và hủy bỏ;
Nếu trường hợp Hợp đồng bảo lãnh s26/9/BL ngày 15/9/2005 vô hiệu thì
trong vụ án này và các thành viên trong hộ gia đình bà không yêu cầu Tòa án
xem xét giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu, khi nào
yêu cầu thì skhởi kiện bằng một vụ án khác.và chị T, anh H không yêu
cầu độc lập trong vụ án này.
Các con của là Minh H Thị Mỹ T y quyền cho thống
nhất với toàn bộ ý kiến và yêu cầu của bà.
Qúa trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Văn T vắng mặt nên không có lời khai. Lời trình bày của ông T trong hồ sơ vụ
án trước đây như sau:
Việc bà Phạm Thị Bé T ký hợp đồng bảo lãnh quyền sử dụng đất cho bà Q
vay tiền tại Qũy tín dụng nhân dân sở L thì ông không biết, ông cũng không
tên trong hợp đồng bảo lãnh. Nên ông không đồng ý với yêu cầu phát mãi tài
sản của Qũyn dụng nhân dân cơ sở L nêu trên.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L Trần Thị E
ông L đồng thời người đại diện hợp pháp của Đỗ Thị Phương H trình
bày và có yêu cầu như sau:
Vào năm 1994, ông L E nhận chuyển nhượng thửa đất số 328, diện
tích đất 4.000 m
2
, tọa lạc tại ấp L, S, huyện C, tỉnh T, của Đỗ Thị Phương
H. Năm 2015, Tòa án huyện C đã quyết định công nhận thỏa thuận về việc
công nhận diện tích đất này cho ông, . Hiện ông, bà đã được Ủy ban nhân dân
huyện C, tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số BV 238885
ngày 14/4/2015 đối với thửa đất này. Nay trong vụ án, ông L E yêu cầu Tòa
án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, công nhận cho ông, bà
được quyền sở hữu hợp pháp đối với thửa đất số 328, diện tích đất 4.000 m
2
theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất
số BV 238885 ngày 14/4/2015 đã cấp cho ông, bà.
Bà Đỗ Thị Phương H ủy quyền cho ông L và thống nhất với toàn bộ ý kiến
và yêu cầu của ông L.
Ông L, bà E, bà H không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T
có đơn xin xét xử vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến như sau:
6
Ngày 14/4/2015, thửa đất số 328, tờ bản đsố 1, diện tích 4000m
2
, loại đất
LUC, tọa lạc tại ấp L, xã S, huyện C, tỉnh T được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn L và bà Trần Thị E
(do nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 51/2014/QĐST-DS ngày
09/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T). Việc Ủy ban nhân dân huyện C,
tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn
liền với thửa đất trên cho ông Trần Văn L và bà Trần Thị E là đúng trình tự, thủ
tục theo quy định của Luật đất đai tại thời điểm cấp giấy. Hiện giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản gắn liền với thửa đất số BV
238885 đã cấp cho ông Trần Văn L bà Trần Thị E vào ngày 14/4/2015 là còn
giá trị pháp lý; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cấp cho
hộ Phạm Thị T vào ngày 26/12/1995 không còn giá trị pháp lý, Uỷ ban nhân
dân huyện C đã thu hồi hủy bỏ tại Quyết định số 1432/QĐ-UBND ngày
06/4/2015 nhưng chưa thu hồi được với do Phạm Thị T không giao
nộp, cũng như bà Bé T đã làm thất lạc giấy.
Trong vụ án này, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T xin được xét xử vắng
mặt và yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục thi hành án dân sự huyện
C, tỉnh T có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày:
Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xin được xét
xử vắng mặt và yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp
luật. Ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự người đại diện hợp pháp của đương
sự mặt vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày như trên, không thay đổi, bổ sung ý
kiến, yêu cầu gì thêm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán
từ khi thụ vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
về phiên tòa thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xhiệu
hợp đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày 15/9/2005 và giải quyết hậu quả pháp lý khi
hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Riêng vấn đề bồi thường thiệt hại
khi hợp đồng vô hiệu thì do các đương skhông ai yêu cầu nên đề nghị Hội đồng
xét xử không đặt ra xe xét, giải quyết. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí chi
phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, ý kiến phát biểu vị đại diện Viện
kiểm sát;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
V th tc t tng:
[1] Ti phiên tòa hôm nay, các đương sự người đại din hp pháp ca
đương sự đều đã đưc Tòa án triu tp hp l đến ln th hai để tham gia phiên
tòa nhưng b đơn Nguyễn Th Kim Q ngưi quyn lợi, nghĩa vụ liên quan
7
ông Lê Văn T, người kế tha quyền và nghĩa vụ t tng ca anh Lê Minh T là ch
Phm Th M anhHi L cùng vng mt không do không người
đại din hp pháp tham gia phiên tòa, người quyn li, nghĩa vụ liên quan Chi
cc thi hành án dân s huyn C, tnh T, y ban nhân dân huyn C, tnh T cùng có
đơn xin xét xử vng mt. Căn cứ quy định tại Điu 227, 228, 238 B lut t tng
dân s, Tòa án tiến hành xét x vng mt các đương sự nêu trên.
[2] Nguyên đơn Qũy tín dụng nhân dân s L khi kin yêu cu b đơn
Nguyn Th Kim Q phi thc hiện nghĩa v thanh toán n ca hợp đng tín
dng s 61/9/05 ngày 23/9/2005 yêu cu nếu trường hp b đơn không thc
hiện đúng nghĩa v tr n thì nguyên đơn được quyn yêu cu x tài sn bo
lãnh theo hợp đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày 15/9/2005 giữa y tín dụng với
bà Phạm Thị T, ông Lê Văn T để thu hi n. Quá trình gii quyết v án đã qua
nhiu cp xét x. Xét thy Bản án dân sự phúc thẩm số 92/2020/DS-PT ngày
11/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T đã tuyên xử hủy một phần bản án sơ thẩm
số 06/2013/DS-ST ngày 21/6/2013 của a án nhân dân thành phố T đối với phần
giải quyết hợp đồng bảo lãnh số 26/9/BL ngày 15/9/2005 giữa y tín dụng nhân
dân với T, ông T. Các phần quyết định khác của bản án thẩm số
06/2013/DS-ST ngày 21/6/2013 của Tòa án nhân dân thành phố T không kháng
cáo, không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng
nghị. Như vậy, mi quan h pháp lut v việc “tranh chp hợp đồng tín dng” đã
đưc gii quyết xong bng bn án dân s thm s 06/2013/DS-ST ngày
21/6/2013 ca Tòa án nhân dân thành ph T Bn án dân s phúc thm s
92/2020/DS-PT ngày 11/9/2020 ca Tòa án nhân dân tnh T. Trong v án này s
không xem xét, gii quyết li yêu cầu tranh chp hợp đồng tín dng”, chỉ
xem xét gii quyết đối vi tranh chp hợp đồng bo lãnh gia các bên. Nên mi
quan h pháp lut tranh chp trong v án là “tranh chp hợp đồng bo lãnh”.
[3] Trong v án ông Nguyễn Văn T, bà Nguyn Th Ng và Công ty TNHH
bán đấu giá tài sn T trước đây đã được xác định là người có quyn lợi, nghĩa vụ
liên quan. Tuy nhiên, do v án đã được gii quyết nhiu ln và giai đoạn thi hành
án theo bản án thẩm s 44/2007/DS-ST ngày 24/5/2007 ca Tòa án nhân dân
th T (nay thành ph T) bn án phúc thm s 290/2007/DS-PT ngày
24/9/2007 ca Tòa án nhân dân tnh T, ông Nguyễn Văn T không kháng cáo.
Ngày 29/10/2009 quan Thi hành án đã phát mãi căn nhà và đt din tích
134,9m
2
thuc thửa đất s 98 ca ông Nguyễn Văn Tám để thu hi n cho Ngân
hàng Nông nghip phát trin nông thôn Việt Nam và Qũy tín dng nhân dân
sở L. Do đó, đối vi phn tài sn bo lãnh ca ông Nguyễn Văn T đã được gii
quyết và Thi hành án xong. Đồng thi bn án dân s thẩm s 06/2013/DS-ST
ngày 21/6/2013 ca Tòa án nhân dân thành ph T Bn án dân s phúc thm s
92/2020/DS-PT ngày 11/9/2020 ca Tòa án nhân dân tnh T đã giải quyết xong
yêu cu v việc tranh chp hợp đồng tín dng”. Do đó, ông Nguyễn Văn T,
Nguyn Th Ng Công ty TNHH bán đu giá tài sn T không còn quyn li,
nghĩa vụ liên quan gì trong v án này. Nên Tòa án không triu tập các đương s
này tham gia t tng trong v án.
Về nội dung vụ án:
8
[4] Nguyên đơn yêu cu nếu trường hp bà Nguyn Th Kim Q không thc
hiện nghĩa vụ thanh toán n ca hợp đồng tín dng s 61/9/05 ngày 23/9/2005 thì
nguyên đơn được quyn yêu cu xphát mãi ti sn bo lãnh là quyn s dng
đất ti thửa đất s 328, tha đất s 392, cùng t bản đồ s 1, ta lc ti p L, xã S,
huyn C, tnh T, do h bà Phm Th Bé T đứng tên trong giy chng nhn quyn
s dụng đt thửa đất s 1766 căn nhà trên đất, cũng ta lc ti p L, S,
huyn C, tnh T do Phm Th T và ông Văn T đứng tên, đ thu hi n
ca bà Q vay nguyên đơn: Xét thy, quyn s dụng đất và tài sn gn lin với đt
ti thửa đất s 328, 392 nêu trên là ca h gia đình bà Phạm Th Bé T do bà Bé T
đại din h đứng tên và ti thửa đất s 1766 có căn nhà trên đt là do bà Bé T
ông T đứng tên. Ông T cho rng bn thân ông không có trc tiếp tham gia ký kết
vào hợp đng này. Năm 2005, T mt mình tên vào hp đồng bo lãnh
s 26/9/BL ngày 15/9/2005 đ dùng các tài sn trên bo lãnh thc hiện nghĩa vụ
tr n cho Q ti hợp đồng tín dng với Qũy tín dụng nhân dân s L
không s đồng ý ca ông các thành viên trong h gia đình khi đó. Đồng
thi, ti Kết lun giám đnh ca Phòng k thut hình s Công an tnh T kết lun
ch trong hợp đồng Bo lãnh s 26/9/BL ngày 15/9/2005 không phi ch
ký của ông Lê Văn T. Trong hợp đồng cũng không có sự tham gia ký kết ca các
thành viên khác trong h B khi đó đủ năng lc tham gia giao kết anh
Minh T ch Th M T. Do đó, hợp đồng Bo lãnh s 26/9/BL ngày 15/9/2005
đưc xác lp giữa các bên là không đúng quy đnh ca pháp luật, không đúng chủ
th tham gia giao kết hợp đồng, trái với quy định tại Điều 109, 219 B lut dân
s năm 2005. Căn cứ Điu 122, 127 B lut dân s năm 2005 thì hợp đồng Bo
lãnh s 26/9/BL ngày 15/9/2005 vô hiu. Nên yêu cu của nguyên đơn về vic
yêu cu phát mãi tài sn bo lãnh nêu trên là không có cơ sở chp nhn.
[5] T nhận đnh mc [4] nên hợp đồng Bo lãnh s 26/9/BL ngày
15/9/2005 giữa Qũy tín dụng nhân dân s L vi Phm Th T, ông
Văn T là vô hiu. n cứ Điu 137 B lut dân s năm 2005, Hợp đồng Bo lãnh
này không làm phát sinh, thay đổi, chm dt quyền, nghĩa vụ dân s ca các bên
k t thời điểm xác lp, các bên khôi phc li tình trạng ban đầu, hoàn tr cho
nhau những gì đã nhận. Do đó, cần buộc Qũy tín dụng nhân dân s L phi giao
tr li cho h Phm Th T bn gc giy chng nhn quyn s dụng đất ti
thửa đất số 392, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số G 982193 cấp ngày
25/12/1995, cấp cho hộ bà Phạm Thị Bé T; đồng thời trả lại cho ông Lê Văn T
Phạm Thị T bn gc giy chng nhn quyn s dụng đất ti thửa đất số
1766, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hồ gốc số 30/GCN cấp ngày
14/6/2005, cấp cho ông Lê Văn T và bà Phạm Thị Bé T.
Riêng đối vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số G 982192 cấp ngày
25/12/1995 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T cấp cho hộ Phạm Thị Bé T tại
thửa đất số 328, tờ bản đồ số 1, diện tích 4000m
2
, loại đất LUC, tọa lạc tại ấp L,
S, huyện C, tỉnh T thì Uỷ ban nhân dân huyện C đã thu hồi hủy bỏ tại Quyết
định số 1432/QĐ-UBND ngày 06/4/2015 nhưng chưa thu hồi được. Hiện Ủy ban
nhân dân huyện C, tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất
số 328 nêu trên cho ông Trần Văn L bà Trần Thị E (do nhận quyền sử dụng đất
9
theo Quyết định số 51/2014/QĐST-DS ngày 09/6/2014 của Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh). Tại Văn bản s 2847/UBND-NN ngày
19/7/2021 (BL 831) thì Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T cho rằng việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu ntài sản gắn liền với thửa
đất trên cho ông Trần Văn L Trần Thị E đúng trình tự, thủ tục theo quy
định của Luật đất đai tại thời điểm cấp giấy. Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp cho ông L, bà E là còn giá trị pháp lý. Đồng thời nay bà Bé T đại diện hộ
gia đình không yêu cầu Qũy tín dụng nhân dân cơ sở L trả cho hộ gia đình bản
gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 328 nêu trên yêu
cầu Qũy n dụng nhân dân cơ sở L giao lại cho Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi
và hủy bỏ. Stự nguyện này của bà Bé T phù hợp với quy định của pháp luật,
không trái đạo đức hội, đồng thời cũng thuận tiện cho việc thi hành ánn Hội
đồng xét xử chấp nhận. Buộc Qũy tín dụng nhân dân sở L phải giao lại bản gốc
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số G 982192 cấp ngày 25/12/1995 do Ủy ban
nhân dân huyện C, tỉnh T cấp cho hộ Phạm Thị T cho Ủy ban nhân dân
huyện C để Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi và hủy bỏ.
[6] Đối vi vấn đề bồi thường thit hi khi hợp đồng Bo lãnh s 26/9/BL
ngày 15/9/2005 hiu thì các đương sự không ai yêu cu nên Hội đồng xét x
không đặt ra xem xét, gii quyết trong v án này. Dành cho các bên mt v kin
khác khi có yêu cu, thi hiu khi kin, quyn khi kin và trình t th tc khi
kiện theo quy định ca B lut t tng dân s.
[7] Xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với thửa đất số BV 238885 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh T cấp cho
ông Trần Văn L Trần Thị E tại thửa đất số 328, tờ bản đồ số 1, diện tích
4000m
2
, loại đất LUC, tọa lạc tại ấp L, S, huyện C, tỉnh T cấp dựa trên Quyết
định số 51/2014/QĐST-DS ngày 09/6/2014 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T
đang hiệu lực pháp luật. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông L, bà E là hợp pháp. Nên ông L, bà E được quyền sử dụng đất đúng như
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
thửa đất như trên đã cấp cho ông, bà.
[8] Về án phí dân sự thẩm chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên
đơn không được chấp nhận, căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết
s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi, buc
nguyên đơn phải chu toàn b s tin án phí dân s sơ thm 300.000 đồng (ba
trăm ngàn đng); đồng thi phi chu toàn b s tin chi phí t tng (chi phí yêu
cu cung cp thông tin) 242.500 đồng (hai trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm
đồng), được cn tr vào s tin tm ng chi phí t tụng 242.500 đồng nguyên đơn
đã np tm ng theo phiếu thu ngày 28/3/2022 ti Tòa án nhân dân thành ph Trà
Vinh. Riêng đối vi s tin tm ứng án phí trước đây nguyên đơn đã np tm ng,
chi phí giám định, án phí đã được gii quyết xong bng bn án dân s sơ thẩm s
06/2013/DS-ST ngày 21/6/2013 ca Tòa án nhân dân thành ph T và Bn án dân
s phúc thm s 92/2020/DS-PT ngày 11/9/2020 ca Tòa án nhân dân tnh T đã
có hiu lc pháp lut nên Hội đng xét x không đặt ra xem xét, gii quyết li.
10
[9] Xét ni dung phát biu ca kiểm sát viên tham gia phiên tòa đúng
pháp lut, nên Hội đồng xét x chp nhn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điu 26; Điều 35; Điu 39; Điều 91; Điều 92; Điu 147; Điu 177;
Điều 227; Điều 228; Điu 273, 280 B lut t tng dân s năm 2015;
Căn cứ Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban
thưng v Quc hội khóa 14 quy đnh v mc thu, min, gim, thu np, qun
và s dng án phí và l phí Tòa án;
Áp dụng các Điu 109, 219, 122, 127, 137, 361, 362 B lut dân s năm
2005;
Áp dụng Điều 688 B lut dân s năm 2015;
Tuyên x:
Không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn Qũy tín dng nhân
dân sở L v vic yêu cu nếu trường hp Nguyn Th Kim Q không thc
hiện nghĩa vụ thanh toán n ca hợp đồng tín dng s 61/9/05 ngày 23/9/2005 thì
nguyên đơn được quyn yêu cu xphát mãi ti sn bo lãnh là quyn s dng
đất ti thửa đất s 328, thửa đất s 392, cùng t bản đồ s 1, ta lc ti p L, xã S,
huyn C, tnh T, do h bà Phm Th Bé T đứng tên trong giy chng nhn quyn
s dng đất thửa đất s 1766 căn nhà trên đt, cùng ta lc ti p L, xã S,
huyn C, tnh T do Phm Th T và ông Văn T đứng tên, đ thu hi n
ca bà Q.
hiu hp đng Bo lãnh s 26/9/BL ngày 15/9/2005 được giao kết gia
Qũy tín dụng nhân dân cơ sở L vi bà Phm ThT, ông Lê Văn T. Hợp đồng
Bảo lãnh này không làm phát sinh, thay đi, chm dt quyền, nghĩa vụ dân s ca
các bên k t thời điểm xác lp.
Buộc Qũy tín dụng nhân dân sở Long B phi giao tr li cho h bà Phm
Th T bn gc giy chng nhn quyn s dụng đất ti thửa đất số 392, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số G 982193 cấp ngày 25/12/1995, cấp cho
hộ bà Phạm Thị Bé T;
Buộc Qũy tín dụng nhân dân cơ s L phi giao tr li cho ông Lê Văn T
Phạm Thị T bn gc giy chng nhn quyn s dụng đất ti thửa đất số
1766, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hồ gốc số 30/GCN cấp ngày
14/6/2005, cấp cho ông Lê Văn T và bà Phạm Thị Bé T.
Buộc Qũy n dụng nhân dân sở L phi giao bn gc giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất Số G 982192 cấp ngày 25/12/1995 do Ủy ban nhân dân huyện
C, tỉnh T cấp cho hộ Phạm Thị T tại thửa đất số 328, tờ bản đồ số 1, diện
tích 4000m
2
, loại đất LUC, tọa lạc tại ấp L, S, huyện C, tỉnh T cho Ủy ban nhân
dân huyện Ch, tỉnh T để Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi và hủy bỏ.
Đối vi vấn đề bồi thường thit hi khi hợp đồng Bo lãnh s 26/9/BL ngày
15/9/2005 vô hiu thì các đương sự không ai yêu cu nên Hi đồng xét x không
đặt ra xem xét, gii quyết trong v án này. Dành cho các bên đương s mt v
11
kin khác khi có yêu cu, thi hiu khi kin, quyn khi kin và trình t th tc
khi kin thc hin theo quy định ca B lut t tng dân s.
Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng): Buộc Qũy
tín dụng nhân dân sở L phải chịu toàn bộ số tiền án phí 300.000 đồng (ba
trăm ngàn đồng).
Về chi phí tố tụng là 242.500 đồng (hai trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm
đồng): Buc Qũy tín dụng nhân dân sở L phi chu toàn b s tin chi phí t
tụng 242.500 đồng (hai trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm đồng), được cn tr
vào s tin tm ứng nguyên đơn đã nộp tm ng theo phiếu thu ngày 28/3/2022
ti Tòa án nhân dân thành ph T, nên nguyên đơn không phải np thêm.
Đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể tngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp được quyền kháng nghị bản án trong thời
hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị bản án trong
thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án,
phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu
cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhn:
- TAND tnh TV;
- VKSND TPTV;
- Chi cc THADSTPTV;
- Các đương s;
- Lưu VP, h sơ.
TM. HI ĐỒNG XÉT X SƠ THM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Trang
Tải về
Bản án số 17/2022/DS-ST Bản án số 17/2022/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất