Bản án số 16/2026/HS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Sơn La

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 16/2026/HS-PT ngày 06/07/2026 của TAND tỉnh Sơn La
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sơn La
Số hiệu: 16/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lường Văn D, sửa bản án hình sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 16/2026/HS-PT Bản án số 16/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/HS-PT Bản án số 16/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
–––––––––––––––
Bản án số: 16/2026/HS-PT
Ngày 06 - 7 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TA N NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.
Các Thẩm phán:Ông Đỗ Tuấn Long.
Bà Tòng Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Sòi Ngọc An Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2026/TLPT-HS
ngày 15 tháng 5 năm 2026 do có kháng cáo của
bị cáo Lường Văn D đối với Bản
án hình sự sơ thẩm số: 53/2026/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Bị cáo: Lường Văn D, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1985 tại xã P, tỉnh Sơn
La; Số căn cước công dân: ************; Nơi ĐKHKTT: Bản Nhụng Trên, xã
P, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc:
Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn
thể: không; Con ông Lường Văn N (đã chết) và bà Lò Thị P, sinh năm 1952; Bị
cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 160/2007/HSST ngày 04/12/2007 của Toà án
nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là Toà án nhân dân khu vực 4 – Sơn
La) đã xử phạt Lường Văn D 24 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma
tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được xoá
án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến
nay có mặt tại phiên tòa.
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Sơn La. Người đại
diện: Ông Đào Trung H – Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Có đơn xin xét xử
vắng mặt.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cộng đồng bản Nhụng Trên,
xã P, tỉnh Sơn La. Người đại diện: Ông Lò Văn H1 – Trưởng bản. Có đơn xin
xét xử vắng mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, Tòa
án không triệu tập:
+ Lò Văn T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản C, xã P, tỉnh Sơn La.
+ Lò Văn V, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản N, xã P, tỉnh Sơn La.
+ Lường Văn S, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản N, xã P, tỉnh Sơn La.
+ Lò Thị D1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản N, xã P, tỉnh Sơn La.
+ Lường Văn D2, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản N, xã P, tỉnh Sơn La.
Người làm chứng:
+ Hà Thị M, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản N, xã P, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 12/2024, do thiếu đất canh tác nông nghiệp nên Lường Văn D nảy
sinh ý định chặt phá rừng tại khu H thuộc bản Nhụng Trên, xã C, tỉnh Sơn La
(nay là xã P, tỉnh Sơn La) để lấy đất trồng cây nông nghiệp. Dước đã nhờ 05
người trú cùng bản gồm: Lò Văn V, sinh năm 1992; Hà Thị M, sinh năm 1994;
Lường Văn S, sinh năm 1989; Lò Thị D1, sinh năm 1995 và Lường Văn D2,
sinh năm 1983 đi phát nương đổi công cho D (05 người trên không biết khu
nương mà D nhờ đổi công phát dọn là rừng tự nhiên). Sau đó, 06 người sử dụng
dao quắm để chặt phát những dây leo, bụi rậm, cây gỗ tái sinh nhỏ và các bụi
tre, D sử dụng cưa máy cầm tay mượn của Lò Văn T (sinh năm 1995, trú tại bản
Cho Cong, xã P, tỉnh Sơn La) là cháu của D để cưa hạ những cây gỗ to không
chặt được bằng dao. Mọi người cùng nhau chặt, phá trong khoảng 02 ngày thì
chặt hạ được toàn bộ cây trên diện tích 17.355m
2
, rồi chờ cây khô để đốt dọn.
Đến tháng 3/2025, ban Q phụ trách địa bàn phát hiện khu vực rừng tại khu H bị
chặt phá nên đã báo cáo Hạt Kiểm lâm huyện M để kiểm tra xác minh theo quy
định. Hạt Kiểm lâm đã triệu tập Lường Văn D đến trụ sở làm việc. Dước đã khai
nhận toàn bộ hành vi chặt phá, hủy hoại rừng.
Ngày 28/5/2025, Hạt Kiểm lâm huyện M chủ trì tiến hành khám nghiệm
hiện trường, đo diện tích rừng bị chặt phá. Kết quả khám nghiệm hiện trường
xác định:
- Diện tích rừng bị chặt phá là: 17.355m
2
.
- Vị trí:
3
+ Theo Bản đồ giao đất lâm nghiệp, giao rừng (Quyết định số 364/QĐ-
UBND ngày 17/6/2003 của UBND huyện M về việc giao đất lâm nghiệp -giao
rừng) thì vị trí khu vực rừng bị chặt phá thuộc Tiểu khu C, khoảnh 2, lô i.
+ Theo Bản đồ rà soát soát đất lâm nghiệp tỉnh Sơn La theo Quyết định số
326/QĐ-TTg ngày 9/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ được phê duyệt tại Quyết
định số 886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 của UBND tỉnh S thì vị trí khu vực
rừng bị chặt phá thuộc Tiểu khu C, K, lô A (lô _rs).
- Hiện trạng khu vực bị chặt phá: Tại hiện trường cây rừng bị chặt hạ nằm
ngổn ngang, phân bố không đồng đều, chủ yếu là các cây tre, nứa và cây thân gỗ
có chu vi tại vị trí 1,3m từ 31cm đến 160cm, dài từ 3m đến 11m (bao gồm các
loài như: Dẻ, T1 ngạnh, V1 thuốc....). Gốc cây gỗ bị hạ để lại mặt cắt gốc dấu
vết sử dụng cưa máy; các gốc còn lại có dấu vết chặt hạ bằng dao.
Ngày 31/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ban hành
Quyết định trưng cầu giám định số 3231/QĐ-CSKT trưng cầu Giám định viên tư
pháp lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh
S, giám định phương pháp xác định vị trí, diện tích rừng, lâm sản bị thiệt hại;
loại rừng, trạng thái rừng, chủ rừng quản lý.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp ngày
15/8/2025 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S, kết luận:
“1. Diện tích thiệt hại: Phương pháp xác định diện tích vi phạm được nêu
trong Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Canh sát điều tra Công
an tỉnh S phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện M (nay là Hạt Kiểm lâm khu vực
VI), Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn (nay là Viện Kiểm sát nhân dân khu
vực 4) và các thành phần liên quan lập ngày 03/6/2025 là đúng với phương
pháp xác định diện tích rừng bị thiệt hại và đúng theo TCVN 13458:2021 do T2.
- Diện tích vị trí khu vực do Lường Văn D chặt, phá như trong nội dung
sự việc là 17.355m
2
.
2. Xác định vị trí, loại rừng, trạng thái rừng, chủ rừng
2.1. Xác định vị trí, loại rừng
Kết quả đối chiếu, chồng xếp lớp bản đồ thể hiện khu vực vi phạm lên Bản
đồ và hồ sơ giao đất Lâm nghiệp-giao rừng năm 2003; Bản đồ rà soát đất lâm
nghiệp được phê duyệt tại Quyết định số 886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 của
UBND tỉnh S về việc phê duyệt kết quả rà soát đất lâm nghiệp tỉnh Sơn La theo
Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 09/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, có kết
4
quả như sau: - Theo dữ liệu bản đồ và hồ sơ giao đất, giao rừng xã C (nay là xã
P) năm 2003:
+ Vị trí: Khu vực rừng bị chặt hạ nằm trong lô i; khoảnh 2, tiểu khu C.
+ Loại rừng: Rừng phòng hộ.
- Theo Bản đồ rà soát đất lâm nghiệp được phê duyệt tại Quyết định số
886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 của UBND tỉnh S về việc phê duyệt kết quả rà
soát đất lâm nghiệp tỉnh Sơn La theo Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày
09/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
+ Vị trí: Khu vực rừng bị chặt hạ nằm trong lô: (Io-rs)15; thuộc khoảnh
2, tiểu khu C.
+ Loại rừng: Đất rừng sản xuất 17.355m2.
- Tại thời điểm giám định khu vực rừng bị chặt chưa lập hồ sơ phương án
chuyển loại rừng trình cấp có thẩm quyền quyết định chuyển loại rừng từ phòng
hộ sang sản xuất theo quy định của pháp luật về Lâm nghiệp.
3. Trạng thái rừng
- Trạng thải rừng và đât Lâm nghiệp trong bản đô kiêm kê rừng giai đoạn
thuộc lô số 24 khoảnh 2 tiểu khu. 2013-2016: Diện tích rừng tự nhiên Tre/luồng
tự nhiên trên núi đất ký hiệu TLU, - Trạng thái rừng và đất lâm nghiệp: Theo
Bản đồ rà soát đất lâm nghiệp được phê duyệt tại Quyết định số 886/QĐ-UBND
ngày 16/5/2024 của UBND tỉnh S về việc phê duyệt kết quả rà soát đất lâm
nghiệp tỉnh Sơn La theo Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 09/3/2022 của Thủ
tướng Chính phủ: Diện tích rừng tự nhiên Tre/luồng tự nhiên trên núi đất ký
hiệu TLU: (Io-rs)15; thuộc Khoảnh 2, tiếu khu 320: 17.355m? - Trạng thái rừng
theo bảng kê: Theo bảng kê lâm sản được đo đếm ngày 28/5/2025 của ông
Lường Văn D, bản Nhụng Trên, xã C (nay là xã P), sô lượng 244 cây và khối
lượng gỗ: 17,722 m
3
trên diện tích 17.355 m
2
; sô lượng cây tre 926 cây trên
diện tích 17.355 m
2
; và quá trình quan sát bằng mắt thường tại hiện trường; quy
đổi ra theo mật độ trên hécta như sau: Trữ lượng gỗ: 10,21 m' trên một héc ta;
Tre nứa 534 cây trên một héc ta. Diện tích 17.355m2 thuộc khoảnh 2, tiểu khu C
có trạng thái rừng là: Rừng hỗn giao tre nứa trên núi đất (HG).
4. Chủ rừng:
Theo hồ sơ giao đất Lâm nghiệp giao rừng năm 2003, Diện tích 17.355m
2
do ông Lường Văn D, sinh năm 1985, trú tại bản Nhụng Trên, xã C (nay là xã
P), tỉnh Sơn La thực hiện hành vi chặt phá rừng trái pháp luật tại thuộc lô i,
5
khoảnh 2, tiểu khu C chủ rừng do cộng đồng Nhụng Trên, xã C (nay là xã P),
tỉnh Sơn La quản lý, bảo vệ.
5. Xác định phương pháp đo khối lượng lâm sản thiệt hại.
Toàn bộ 244 cây gỗ theo hồ sơ, tài liệu vụ việc do bên trưng cầu cung cấp
có khối lượng 17,722 m
3
bị chặt hạ thuộc đối tượng đề nghị giám định đều là gỗ
thông thường, các loài cây đều không thuộc danh mục (không nằm trong danh
mục) loài nguy cấp, quý hiếm và loài được ưu tiên bảo vệ.”
Ngày 13/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ban hành
Yêu cầu định giá tài sản số 8894/YC-CSKT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng tỉnh Sơn La xác định giá trị rừng bị thiệt hại:
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 02/12/2025
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND tỉnh S kết luận:
“- Diện tích rừng do đối tượng Lường Văn D chặt phá tại bản Nhụng
Trên, xã P: 17.355m
2
.
1. Giá trị lâm sản bị thiệt hại: 70.485.733 đồng.
2. Giá trị quyền sử dụng rừng bị thiệt hại: 5.430.500 đồng.
3. Giá trị môi trường rừng bị thiệt hại: 70.485.733 đồng.
Tổng giá trị rừng bị thiệt hại: 146.401.966 đồng.”
Quá trình điều tra xác định, diện tích rừng thuộc lô i; khoảnh 2, tiểu khu C
tại bản Nhụng Trên, xã C, theo Bản đồ giao đất lâm nghiệp, giao rừng (Quyết
định số 364/QĐ-UBND ngày 17/6/2003 của UBND huyện M về việc giao đất
lâm nghiệp - giao rừng) là rừng phòng hộ nhưng đến năm 2024 đã được chuyển
sang loại rừng sản xuất (Theo Quyết định số 886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024
của UBND tỉnh S). Theo quy định tại điểm 3.4 khoản 1 Điều 1 của Quyết định
trên quy định việc chuyển loại rừng được giao cho Cơ quan chức năng thực
hiện. Tuy đến nay các cơ quan chuyên môn chưa hoàn tất thủ tục hành chính về
chuyển loại rừng nhưng việc xác định tính chất của loại rừng đã được xác định
trong Quyết định 886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 của UBND tỉnh S, việc xác
định đây là rừng sản xuất là có lợi cho bị cáo Lường Văn D trong việc xác định
trách nhiệm hình sự. Do vậy, xác định loại rừng để xử lý vi phạm đối với Lường
Văn D là rừng sản xuất.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2026/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm
2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Sơn La đã quyết định:
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017, 2024, 2025):
6
Tuyên bố bị cáo Lường Văn D phạm tội Hủy hoại rừng. Xử phạt bị cáo
Lường Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi
chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật
dân sự; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Lường Văn D phải bồi
thường giá trị số lâm sản bị thiệt hại số tiền là 146.401.966VNĐ (Một trăm bốn
mươi sáu triệu, bốn trăm linh một nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng) để nộp
vào ngân sách Nhà nước; chấp nhận việc bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000VNĐ
(Mười triệu đồng) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Sơn La; bị cáo còn
phải bồi thường tiếp số tiền là 136.401.966VNĐ (Một trăm ba mươi sáu triệu,
bốn trăm linh một nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng).
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm
bồi thường dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, nguyên đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12 tháng 4 năm 2026 bị cáo Lường Văn D
có đơn kháng cáo một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2026/HS-ST ngày 01
tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 - Sơn La. Đề nghị cấp phúc
thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo để chăm lo cho mẹ già và em trai khuyết
tật.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo được
hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về nội dung
kháng cáo, quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử phúc
thẩm:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 , điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Lường Văn D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2026/HS-ST ngày 01/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La như sau:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017, 2024, 2025): Tuyên bố bị cáo Lường Văn D phạm tội Hủy hoại rừng. Xử
phạt bị cáo Lường Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên
án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân
sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Lường Văn D phải bồi thường giá trị
số lâm sản bị thiệt hại số tiền là 146.401.966VNĐ (Một trăm bốn mươi sáu triệu,
7
bốn trăm linh một nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng) để nộp vào ngân sách
Nhà nước; bị cáo đã nộp tổng số tiền 30.000.000VNĐ (Ba mươi triệu đồng) tại
Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là
116.401.966VNĐ.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo nhất trí không có ý kiến tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem
xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/04/2026 bị cáo Lường
Văn D có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng về
chủ thể và phạm vi kháng cáo nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm
theo quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại
phiên tòa, đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa
án vẫn tiến hành xét xử theo quy định Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời
khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với biên bản khám nghiệm
hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu,
chứng cứ hợp pháp khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã
thực hiện hành vi hủy hoại 17.355m² rừng sản xuất do cộng đồng bản Nhụng
Trên quản lý, gây thiệt hại tổng giá trị 146.401.966 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Hủy hoại rừng theo điểm đ khoản
2 Điều 243 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lường Văn D:
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lường Văn D dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt là 01 năm 06 tháng tù theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự là
có căn cứ, phù hợp với tính chất vai trò hành vi phạm tội của bị cáo.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo xuất
phát từ hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có đất để sản xuất, trồng trọt, bị cáo
thực hiện hành vi phạm tội mục đích để có đất sản xuất nông nghiệp phục vụ cải
thiện đời sống kinh tế của gia đình, bị cáo là lao động chính phải nuôi mẹ già
(mẹ bị cáo 74 tuổi) cùng em trai khuyết tật (có giấy xác nhận khuyết tật của
8
UBND cấp xã); bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế; quá
trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo luôn thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tiếp tục tự
nguyện nộp thêm số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả do hành vi
phạm tội gây ra. Như vậy, tổng số tiền bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho nhà
nước là 30.000.000 đồng. Việc tiếp tục chủ động khắc phục hậu quả sau khi xét
xử sơ thẩm thể hiện thái độ thực sự ăn năn, ý thức tự giác sửa chữa, khắc phục
hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp bổ sung thêm các tài liệu: Biên lai thu
tiền số 0000308 ngày 15/06/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Sơn
La về việc tự nguyện nộp thêm số tiền bồi thường dân sự là 20.000.000 đồng;
Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo hưởng án treo của Trưởng bản
N, xã P, tỉnh Sơn La là nơi bị cáo đang sinh sống, có xác nhận của UBND xã thể
hiện trong thời gian sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
công dân, không vi phạm các quy định của địa phương và có ý thức chấp hành
các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, xét đây là các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng
thêm đối với bị cáo.
Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình
sự như: Có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chấp hành tốt chính sách pháp
luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Việc cho bị cáo hưởng
án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có khả năng tự giác cải tạo,
không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, không cần thiết
phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, việc chuyển biện pháp chấp hành
hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với
bị cáo, đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát là phù hợp.
Về bồi thường dân sự: Trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo đã thực hiện bồi
thường thêm số tiền 20.000.000 đồng tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 –
Sơn La. Tổng cộng số tiền bị cáo đã bồi thường là 30.000.000 đồng. Xét việc
bồi thường của bị cáo là tự nguyện nên cần ghi nhận. Buộc bị cáo có trách
nhiệm tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 116.401.966 đồng.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án
hình sự sơ thẩm số 53/2026/HS-ST ngày 01/04/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Sơn La giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và
bồi thường dân sự.
9
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm, do kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lường Văn D, sửa bản án hình sự sơ
thẩm số: 53/2026/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu
vực 4 - Sơn La như sau:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm
b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật
Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Lường Văn D phạm tội Hủy hoại rừng.
Xử phạt bị cáo Lường Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho
hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày
tuyên án ngày 06/7/2026.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Lường Văn D cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Sơn La, giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều
92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án
treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc
người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó
phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới
theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và
589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Lường Văn D phải
bồi thường giá trị số lâm sản bị thiệt hại số tiền là 146.401.966 đồng (Một trăm
bốn mươi sáu triệu, bốn trăm linh một nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng) để
nộp vào ngân sách Nhà nước; ghi nhận bị cáo đã nộp tổng số tiền 30.000.000
đồng (Ba mươi triệu đồng) theo biên lai thu số 0000081 ngày 09/02/2026 và
biên lai thu số 0000308 ngày 15/06/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực
4 – Sơn La; bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là 116.401.966 đồng (Một
trăm mười sáu triệu, bốn trăm linh một nghìn, chín trăm sáu mươi sáu đồng).
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
10
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
06/7/2026).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7ª, 7
b
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Sơn La;
- TAND khu vực 4 - Sơn La;
- Phòng THADS khu vực 4 - Sơn La;
- Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La;
- Bị cáo;
- Nguyên đơn dân sự;
- Người có QLNVLQ;
- Công an xã Phiêng Cằm, tỉnh Sơn La;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS, AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Điêu Thị Kim Liên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 16/2026/HS-PT Bản án số 16/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2026/HS-PT Bản án số 16/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất