Bản án số 16/2025/HNGĐ-PT ngày 05/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 16/2025/HNGĐ-PT ngày 05/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ninh
Số hiệu: 16/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 16/2025/HNGĐ-PT
Ngày 05/9/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đng xt x phúc thẩm gm c:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên ta: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Dương Mạnh Chiến
Ông Nguyễn Nhật Duật
Thư ký Ta án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên ta: Bà Lam
Thị Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xử án số 4 - Trụ sở Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia
đình phúc thẩm thụ số: 07/2025/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 về
việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; chia tài sản khi ly hôn”. Do Bản án Hôn
nhân và Gia đình sơ thẩm số: 17/2025/HN-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân
dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (nay Tòa án nhân dân Khu vực 2-
Quảng Ninh) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:
10/2025/QĐHN-PT ngày 23 tháng 7 năm 2025 các Quyết định hoãn phiên
tòa số: 11/2025/QĐHNGĐ-PT ngày 12/8/2025, số: 12/2025/QĐHNGĐ-PT ngày
28/8/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ChTrần Thị Hng T, sinh năm 1983; CCCD 035183006413;
nơi thường trú: tổ D, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh nay tổ D,
khu C, phường U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T1
Luật sư, Công ty L1 thuộc Đoàn Luật thành phố H; địa chỉ liên hệ: số A Chợ
Đ, thôn T, Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên nay s111 Chợ Đ2, N, tỉnh Hưng
Yên. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Đăng G, sinh năm 1979; CCCD 022079015780; nơi
thường trú: tổ B, khu H, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh nay là tổ B, khu
H, phường U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
Người đại diện của bị đơn: Ông Hà Anh B; địa chỉ liên hệ: tổ F, khu V,
phường M, tỉnh Quảng Ninh, người đại diện theo ủy quyền theo Hợp đồng ủy
quyền lập ngày 07/3/2024, có mặt.
2
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T2 bà Bùi Thị
B1; cùng i thường trú: thôn Đ, xã N, huyện B, tỉnh Nam nay Đội 3, xã B,
tỉnh Ninh Bình (Tòa án không triệu tập).
4. Người kháng cáo: nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị
Hồng T trình bày:
Chị Trần Thị Hồng T kết hôn với anh Trần Đăng G vào năm 2002, có đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh trên sở
hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sống tại tổ B, khu H,
phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng phát
sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan
điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau; đã sống ly thân từ
khoảng tháng 5/2022 cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng chị đã được hai bên gia
đình động viên, hòa giải nhưng không kết quả, chị T xác định tình cảm vợ
chồng không còn, chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.
Về con chung: chị T anh G ba con chung Trần Thị Anh T3, sinh ngày
21/9/2003; Trần Đăng Q, sinh ngày 13/9/2008 Trần Ngọc Linh Đ, sinh ngày
06/12/2024. Con chung Trần Thị Anh T3 đã trưởng thành, chị T không đề nghị
Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Đối với con chung Trần Đăng Q,
chị T đề nghị anh Trần Đăng G người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con
thành niên (đủ 18 tuổi) và chị T không phải cấp dưỡng cho con. Đối với con chung
Trần Ngọc Linh Đ, chị T thừa nhận đây không phải con chung của chị T anh
G, nhưng con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T anh G nên về
mặt pháp luật tanh G vẫn bố hợp pháp (chT chưa đi làm Giấy khai sinh cho
con Trần Ngọc Linh Đ nên chị T cung cấp cho Tòa án 01 Giấy chứng sinh do Bệnh
viện P cấp). Chị T nhận nuôi con Trần Ngọc Linh Đ đến tuổi trưởng thành
không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh G yêu
cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân. Quan
điểm của chị T như sau:
- Trong trường hợp anh G chỉ yêu cầu chia 01(một) tài sản là: ngôi nhà 02 tầng
được xây dựng trên thửa đất diện tích 150m
2
; tại địa chỉ: khu K, phường K,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nguồn gốc nhà đất do nhận chuyển nhượng của
Phạm Thị H vào năm 2016; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 789354
do Ủy ban nhân dân thị xã Đ cấp ngày 20/9/2007 mang tên bà Phạm Thị H (viết tắt
là nhà đất phường K) thì chị T đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị T được quyền
sở hữu nhà đất, chị T strách nhiệm thanh toán cho anh G 1/2 giá trị nhà đất
theo kết quả định giá tài sản chị T sẽ có trách nhiệm trả cho ông T2 - bà B1 (là
bố mẹ đẻ của chị T) số tiền 700.000.000 đồng, khoản nợ chung trong thời kỳ
hôn nhân của chị T anh G. Cụ thể là: m 2023, chị T anh G vay Ngân hàng
TMCP S - Chi nhánh Q1 - Phòng G1 số tiền 800.000.000 đồng, thế chấp bằng
nhà đất tại phường K. Khi đến hạn trả nợ ngân hàng thì vợ chồng không có tiền trả
3
nên đã nhờ bố mẹ đẻ của chị T đứng ra vay Quỹ tín dụng nhân dân N số tiền
700.000.000 đồng đưa cho chị T để trả nợ ngân hàng. Ngày 28/11/2024, chị T đã
trả toàn bộ số tiền gốc và lãi là 716.906.400 đồng cho Quỹ tín dụng nhân dân xã N.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, ông Hoàng Văn T1
trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chT anh G;
công nhận sự thoả thuận về con chung giữa chị T và anh G như quan điểm của chị
T anh G u trên; về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu a án giải
quyết tốn kém án phí, sau đó anh G đã đề nghị chia ba tài sản chung nợ
chung. Toà án đã tiến nh các thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài
sản nhưng nay anh G lại chỉ đề nghị chia 01 (một) tài sản chung tại phường K.
Thực tế ba tài sản chung do chị T đứng ra lăn lộn vay Ngân hàng để tạo ra, nay
anh G thủ đoạn chỉ đề nghị chia 01 (một) tài sản, còn 02 (hai) tài sản kia thì sao? ai
quản lý? nên điều bất hợp lý. Số nợ cũng phải chia, nay chị T vẫn người
phải trả nợ Ngân hàng. Đề nghị Toà án xem xét phải chia cả 03 (ba) tài sản hoặc
phải ngng phiên toà để chị T làm đơn đề nghị chia 03 (ba) tài sản. Còn trường
hợp chỉ chia 01 (một) tài sản tại phường K thì tài sản trên tạo dựng được là do công
sức lớn của chị T nên đề nghị Hội đồng xét xử chia cho chị T, chT sẽ trách
nhiệm trả cho anh G 1/2 giá trị tài sản theo kết quả định giá tài sản.
* Theo đơn khi kin phn t yêu cu chia tài sn chung trong quá trình t
tng b đơn anh Trần Đăng G người đại din theo u quyn ca b đơn ông
Hà Anh B cùng trình bày:
Anh Trần Đăng G nhất trí với lời trình bày của chị T vtình trạng hôn nhân.
Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh G, anh G đồng ý.
Về con chung: anh G nhất trí với lời trình bày của chị T về phần con chung.
Khi ly hôn, anh G đồng ý với quan điểm của chị T: anh G người trực tiếp nuôi
dưỡng con chung Trần Đăng Q, sinh ngày 13/9/2008 cho đến khi con chung thành
niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng cho con; đối với con Trần
Thị Anh T3, sinh ngày 21/9/2003, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án
giải quyết việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng; đối với con chung Trần Ngọc Linh Đ, anh
G quan điểm như sau: đây con do chị T ngoại tình có, không phải con
của anh G nhưng được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh G chị T nên
về mặt pháp luật thì con chung. Anh G đồng ý để chị T người trực tiếp nuôi
dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh G không phải cấp dưỡng.
Anh G yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân,
như sau:
- 01 ngôi nhà 02 tầng được xây dựng trên thửa đất diện tích 150m
2
tại khu
K, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nguồn gốc là do nhận chuyển
nhượng của bà Phạm Thị H vào năm 2016; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AH 789354 do Ủy ban nhân dân thị Đ cấp ngày 20/9/2007 mang tên Phạm
Thị H (viết tắt là nhà đất tại phường K).
- 01 thửa đất có diện tích 144,8m
2
tại thửa đất số 27C, tờ bản đồ số 60; địa chỉ:
khu E, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; Giấy chứng nhận quyền sử dụng
4
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CY 935459 do y ban
nhân dân thành phố U cấp ngày 02/11/2021 mang tên anh Trần Đăng G chị
Trần Thị Hồng T (viết tắt là thửa đất tại phường B).
- 01 ngôi nhà mái bằng cấp 4 rộng khoảng 50m
2
và hệ thống mái tôn bao quanh
được xây dựng trên thửa đất diện tích 121,2m
2
thửa đất số 49, tờ bản đồ số 78;
địa chỉ: khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 965442 do
Ủy ban nhân dân thành phố U cấp ngày 21/12/2021 mang tên anh Trần Đăng G
chị Trần Thị Hồng T (viết tắt nđất tại phường T). Tài sản này hiện đang thế
chấp tại Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1, thể hiện tại Hợp đồng tín
dụng số 069/2022/SGB-TTH.Thắm/HĐTDTL-CN ngày 22/9/2022. Tính đến ngày
23/02/2024, số tiền còn nợ (cả gốc và lãi) là 1.131.848.044 đồng.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử tại phiên tòa, anh G rút một phần yêu cầu
chia tài sản chung: anh G chỉ yêu cầu Tòa án chia 01 (một) tài sản nhà đất tại
phường K, không yêu cầu chia 02 (hai) tài sản còn lại không yêu cầu giải quyết
khoản nợ chung vay tại Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1, thế chấp
bằng nhà đất tại phường T.
Anh G yêu cầu Tòa án chia cho anh G được sở hữu nđất tại phường K, anh
G sẽ trách nhiệm trả cho chị T 1/2 giá trị tài sản này theo kết quả định giá tài
sản do Hội đồng định giá tài sản do Tòa án quyết định thành lập đã xác định.
Anh G không thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân, anh G chị T nợ của bố
mẹ đẻ chị T số tiền 700.000.000 đồng như chị T trình bày nêu trên. Nên anh G
không đồng ý ng chị T trả số tiền 700.000.000 đồng cho bố mẹ đẻ chị T theo
tài liệu chị T cung cấp cho Tòa án thể hiện chị T vay bố mẹ đẻ chị T số tiền
700.000.000 đồng để chị T trkhoản nợ chung của anh G chị T tại Ngân hàng
TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1. Nhưng thời điểm chị T vay tiền của bố m
chị T ngày 16/10/2023, vay sau thời điểm anh G chị T đã tất toán khoản
vay của ngân hàng (ngày 22/9/2023). Mặt khác, các tài liệu có trong hồ tại thời
điểm này thể hiện chị T cũng đã trả số tiền 700.000.000 đồng cho ông T2 - bà B1.
* Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn
T2 và bà Bùi Thị B1 đều trình bày:
Ngày 16/10/2023, ông T2 - B1 kết Hợp đồng tín dụng thỏa thuận số
3388/HĐTD để vay Quỹ tín dụng nhân dân N, huyện B, tỉnh Nam với số
tiền 700.000.000 đồng. do vay số tiền trên do con gái của ông chị
Trần Thị Hồng T hỏi vay tiền để mua nhà ở tại phường T, thành phố U, tỉnh Quảng
Ninh vchồng ông lại không tiền nên vợ chồng ông đứng ra vay quỹ
tín dụng giúp cho vợ chồng chị T anh G. Đến nay chị T anh G không được
với nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông bà đề nghị Tòa án buộc
chị T và anh G phải có trách nhiệm trả cho ông bà số tiền trên để ông bà trả nợ cho
Quỹ tín dụng nhân dân xã N.
* Trong quá trình tố tụng, người làm chứng chị Thị Thùy C trình bày: tháng
12/2021, cháu Trần Thị Hồng T điện hỏi vay tiền vợ chồng chị C với số tiền
400.000.000 đồng để mua đất phục vụ làm ăn của cháu T. tình cảm người
5
nhà nên vợ chồng chị C chuyển khoản cho cháu T vay số tiền trên vào lúc 10
giờ 20 phút ngày 29/12/2021. Trong suốt thời gian trên cháu T vẫn trả lãi đầy đủ
cho đến tháng 10/2023, cháu T muốn hỏi vay thêm một số tiền nữa để trả ngân
hàng nhưng chị C không còn nữa. vậy cháu T đã nhờ bố mẹ đẻ thế chấp vay
Quỹ tín dụng lấy tiền trả cho chị C. Đến ngày 17/10/2023, cháu T đã trả chị C đủ
số tiền 400.000.000 đồng.
* Trong quá trình tố tụng, người làm chứng chị Trần Thị Đ1 trình y: ngày
22/9/2023, cháu T hỏi vay vợ chồng chị Đ1 số tiền 300.000.000 đồng.
người nhà nên vợ chồng chị Đ1 không viết giấy tvay nợ, khi gọi điện vay tiền
cháu T hỏi vay đtrả Ngân hàng khoản nợ đến hạn. Khi cho cháu T vay tiền, chị
Đ1 cho vay bằng hình thức chuyển khoản. Đến 12 giờ 15 phút ngày 22/9/2023, chị
Đ1 chuyển cho cháu T vay số tiền 300.000.000 đồng. Đến ngày 07/10/2023, khi
chị Đ1 cần tiền n chị Đ1 yêu cầu cháu T trả. Sau đó cháu T nhờ bố mđẻ
ông Trần Văn T2 và bà Bùi Thị B1 vay hngân hàng để trả tiền cho chị Đ1. Ngày
17/10/2023, cháu T đã trả cho chị Đ1 đủ số tiền 300.000.000 đồng.
* Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/4/2024, thể hiện: thửa đất đang
tranh chấp tại khu K, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh tổng diện tích
hiện nay 215,4m
2
(tăng so với diện tích đất được ghi trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 65,4m
2
). Quan điểm của UBND thị (nay thành phố)
Đông Triều thì phần diện tích đất tăng thêm 65,4m
2
so với Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp đất công do Ủy ban nhân dân phường K quản lý, không
thuộc quyền sử dụng của ông Trần Đăng G Trần Thị Hồng T, do đó không
nằm trong phần tài sản giải quyết chia tài sản; trường hợp Tòa án tuyên án một bên
đương sự được quyền sử dụng, quản toàn bộ thửa đất tài sản khác gắn liền
với đất thì bên đương sự đó được quyền sử dụng diện tích giới hạn bởi các điểm 8-
4-5-6-7-8, diện tích 150m
2
theo đồ xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
09/4/2024.
* Biên bản định giá tài sản ngày 23/5/2024 Phụ biểu đính chính, thể hiện:
giá trị thửa đất tài sản gắn liền với đất (nhà đất tại phường K) 1.543.593.500
đồng (một tỷ năm trăm bốn mươi ba triệu năm trăm chín mươi ba nghìn năm trăm
đồng).
Với nội dung trên, tại Bản án Hôn nhân Gia đình thẩm số:
17/2025/HNGĐ-ST ngày 09/4/2025 của Ta án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh
Quảng Ninh nay là Ta án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh, quyết định như sau:
Căn cứ các Điều 29, 33, 55, 57, 58, 59, 62, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân
Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, các Điều 157, 158, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 8 Điều 26, các điểm a, b khoản 5 Điều 27; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
6
- Về quan hệ hôn nhân: công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng T
và anh Trần Đăng G.
- Về con chung: công nhận sự thỏa thuận về nuôi con giữa chị Trần Thị Hồng
T và anh Trần Đăng G như sau:
Anh Trần Đăng G quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung tên Trần Đăng Q, sinh ngày 13/9/2008, kể từ ngày
09/4/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Chị Trần Thị Hồng T quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung dự định đặt tên là Trần Ngọc Linh Đ, sinh ngày
06/12/2024 (theo Giấy chứng sinh số 57, quyển số 01/2025 do Bệnh viện P cấp lại
ngày 02/4/2025), kể từ ngày 09/4/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18
tuổi).
Chị Trần Thị Hồng T anh Trần Đăng G không phải cấp dưỡng cho con. Chị
Trần Thị Hồng T Trần Đăng G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Chị Trần Thị
Hồng T và anh Trần Đăng G cùng các thành viên trong gia đình không được cản
trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm c, nuôi dưỡng,
giáo dục con.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:
- Anh Trần Đăng G được quyền quản lý, sử dụng thửa đất diện ch 150m
2
(được giới hạn bởi các điểm 8-4-5-6-7-8) và sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với đất
gồm 01 ngôi nhà 02 tầng, diện tích sàn tầng 1 là 63,7m
2
, tổng diện tích là 127,4m
2
;
công trình phụ (nhà tắm, nhà vệ sinh, nhà bếp) có tổng diện tích là 12,7m
2
; nhà kho
diện tích 6,1m
2
; sân lát gạch đỏ diện tích 57,6m
2
theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AH 789354; số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất HO 2476 do UBND thị (nay thành phố) Đông Triều cấp ngày 20/9/2007
mang tên bà Phạm Thị H (đã chuyển nhượng cho ông Trần Đăng G và bà Trần Thị
Hồng T vào ngày 04/10/2016).
- Anh Trần Đăng G phải thanh toán cho chị Trần Thị Hồng T số tiền
771.796.750đ (bảy trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn bảy
trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày chị Trần Thị Hồng T đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Trần
Đăng G không trả số tiền nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương
ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự.
(Có đồ hiện trạng thửa đất ngày 09/4/2024, kèm theo biên bản xem xét,
thẩm định tại chỗ ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, kèm
theo Bản án và đây là phần không thể tách rời của Bản án này).
3. Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu phản tố của bị đơn anh Trần
Đăng G về việc yêu cầu chia tài sản chung nợ chung của vợ chồng khi ly hôn,
cụ thể: đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung 01 (một) thửa đất
diện tích 144,8m
2
tại khu E, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh 01
ngôi nhà mái bằng cấp 4 rộng khoảng 50m
2
hthống mái tôn bao quanh được
xây dựng trên thửa đất có diện tích 121,2m
2
tại khu C, phường T, thành phố U, tỉnh
7
Quảng Ninh; đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia nợ chung nợ Ngân hàng
TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1 tạm tính đến ngày 23/02/2024
1.131.848.044 đ (một tỷ một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn
không trăm bốn mươi bốn đồng).
Ngoài ra, còn quyết định về nghĩa vụ chậm trả, về chi phí tố tụng, về án phí
quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Ngày 17/4/2025, nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T kháng cáo một phần bản
án thẩm: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, giao cho chị T
được quyền sở hữu nhà đất tại Đ hoặc hủy phần chia tài sản chung của bản án
thẩm để chia 03 tài sản của chT và anh G.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T gi nguyên yêu cu khi kiện, giữ nguyên
nội dung kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Trần Đăng G, là ông Hà Anh B
trình bày: anh G vẫn giữ nguyên yêu cầu chia nhà đất tại phường K.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T trình bày nội dung kháng cáo và căn cứ
của việc kháng cáo: chị T lấy anh G người khuyết tật, chị đã bươn chải vay
mượn để kinh doanh tạo lập lên các i sản chung hiện nay vẫn còn các khoản
nợ của bố mẹ đẻ chị T và Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1. Khi chị
T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh G, chị T không yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung và giải quyết nợ chung đvợ chồng tự thỏa thuận giải quyết với
nhau. Nhưng anh G đã yêu cầu Tòa án chia tài sản chung giải quyết nợ chung.
Ngày 17/02/2025, anh G rút một phần yêu cầu chia tài sản rút yêu cầu giải
quyết nợ chung; chị T đề nghị chia 03 tài sản và trả nợ chung. Sau ngày
17/02/2025, Tòa án cấp thẩm yêu cầu chị T không được làm đơn mà khởi kiện
bằng vụ án khác; tại phiên tòa sơ thẩm luật sư của chị T cũng đề nghị nhưng không
được chấp nhận. Chị T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy phần chia tài sản tại bản
án thẩm để chia cả 03 (ba) tài sản chung giải quyết nợ chung của chị T
anh G để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của chị T hiện nay chị T chưa
quyền sở hữu tài sản chung nào, vẫn đang trả nợ ngân hàng đúng hạn. Nếu Tòa án
cấp phúc thẩm không hủy phần chia tài sản thì giao cho chị T sở hữu nhà đất tại
phường K vì chT là người có nhiều công sức tạo lập nên tài sản này.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Trần Đăng G, là ông Hà Anh B
trình bày ý kiến của bị đơn về nội dung kháng cáo của nguyên đơn đề nghị của
bị đơn: anh G vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án chia 01 (một) tài sản chung là nhà
đất tại phường K để anh G con chung Trần Đăng Q chỗ ở ổn định khi ly hôn
kinh doanh. Anh G không chấp nhận kháng cáo của chị T, đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm giữ nguyên phần chia tài sản của bản án sơ thẩm.
- Các đương sự và Kiểm sát viên đều không xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
8
- Về ttụng: những người tiến hành ttụng đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của
mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong giai
đoạn thẩm và kết quả làm tại phiên toà hôm nay, đủ căn cxác định: Tòa án
cấp sơ thẩm đã tiến hành các thủ tục tố tụng giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị T
và anh G đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu chia tài sản
chung của anh G là căn cứ. Do đó, kháng cáo của chị T về phần chia tài sản
chung của bản án thẩm không căn cứ để chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử, giữ nguyên phần chia tài
sản tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 17/2025/HNGĐ-ST ngày
09/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh nay là Tòa án
nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng c trong hồ vụ án, được thẩm tra
tại phiên ta, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên ta, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T làm trong
hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nên Hội
đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T,
ông Hoàng Văn T1 vắng tại phiên tòa (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
Nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T đồng ý về việc vắng mặt của ông Hoàng Văn T1
vắng tại phiên tòa. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Ttụng n sự,…số: 85/2025/QH15, Tòa án
tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn chị Trần Thị Hồng T, Hội đồng
xét xử xét thấy:
[2.1] Ch Trần Thị Hồng T anh Trần Đăng G kết hôn tự nguyện năm 2002,
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ
chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống,… nên thường xuyên xảy ra i
vã, xúc phạm nhau; đã sống ly thân từ khoảng tháng 5/2022 cho đến nay. Chị T
anh G đều xác định quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên thuận tình ly
hôn và thỏa thuận được với nhau về phần nuôi con chung khi ly hôn.
[2.2] Về tài sản chung, nợ chung:
Tại Cấp thẩm, chị T không khởi kiện yêu cầu a án chia tài sản chung, nợ
chung của vchồng trong thời kỳ hôn nhân; anh G ban đầu khởi kiện yêu cầu Tòa
án chia toàn bộ tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, gồm có: nhà đất tại
phường K, thửa đất tại phường B nhà đất tại phường T. Nhà đất tại phường T,
9
hiện đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1 bằng hợp
đồng tín dụng số 069/2022/SGB-TTH.Thắm/HĐTDTL-CN ngày 22/9/2022. Tính
đến ngày 23/02/2024, số tiền còn nợ (cả gốc và lãi) là 1.131.848.044 đồng.
Trong thời hạn chuẩn bị xét x(ngày 17/02/2025) tại phiên a, anh G rút
một phần yêu cầu chia tài sản chung: anh G chỉ yêu cầu Tòa án chia nhà đất tại
phường K. Không yêu cầu chia 02 (hai) tài sản chung còn lại và không yêu cầu giải
quyết khoản nợ chung vay tại Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1 (thế
chấp bằng tài sản là nhà đất tại phường T).
Theo anh G trình bày: hiện nay anh G đang không có chỗ để kinh doanh;
anh G người khuyết tật, khi ly hôn anh G người nuôi dưỡng con chung Trần
Đăng Q, sinh ngày 13/9/2008, còn chị T hiện nay đang ở và kinh doanh tại nhà đất
phường T. Anh G yêu cầu Tòa án chia cho anh G được sở hữu nhà đất tại
phường K, anh G trách nhiệm thanh toán cho chị T 1/2 giá trị nhà đất tại
phường K theo kết quả định giá tài sản là 771.796.750 đồng. Anh G không thừa
nhận việc vợ chồng vay bố mẹ đẻ chị T số tiền 700.000.000 đồng nên anh G
không đồng ý cùng chị T ntài liệu chị T cung cấp cho Tòa án để chứng
minh vay của ông T2 - B1 số tiền 700.000.000 đồng để chị T trả khoản nợ
chung của anh G - chT tại ngân hàng nhưng thời điểm chị T vay của ông T2 -
B1 ngày 16/10/2023, sau khi anh G - chT đã tất toán khoản vay ngân ng
(ngày 22/9/2023). Mặt khác, c tài liệu trong hồ cũng thể hiện chị T đã trả
số tiền 700.000.000 đồng cho ông T2 - bà B1.
Theo chị T trình bày: chT không yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung vì tốn
kém án phí. Chị T xác định: trong thời kỳ hôn nhân chị T và anh G 03 (ba) i
sản chung và 01 khoản nợ chung tại Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng
G1 (thế chấp bằng tài sản nhà đất tại phường T) đúng như anh G trình bày.
Ngoài ra năm 2023,vợ chồng còn vay Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng
G1 stiền 800.000.000 đồng, thế chấp bằng nđất tại phường K. Khi đến hạn
trả nợ ngân hàng thì vchồng không có tiền trả nên đã nhbố mđẻ của chị T
ông Trần Văn T2 Bùi Thị B1 vay Quỹ tín dụng nhân dân N số tiền
700.000.000 đồng đưa cho chị T trả nợ ngân hàng. Ngày 28/11/2024, chị T đã trả
toàn bộ stiền gốc lãi 716.906.400 đồng cho Quỹ tín dụng nhân dân N.
Anh G đã yêu cầu chia tài sản chung nợ chung, Toà án đã tiến hành các thủ tục
xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản nhưng sau đó anh G lại chỉ yêu cầu
chia 01 (một) tài sản nhà đất tại phường K. Chị T không đồng ý với việc anh G
rút yêu cầu chia 02 (hai) tài sản chung còn, chị T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
phải chia cả 03 (ba) tài sản chung nợ chung (nợ Ngân hàng và nợ bố mẹ đẻ chị
T) để giải quyết dứt điểm vụ án. Trong trường hợp chỉ chia nhà đất tại phường K
thì chị T đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị T được quyền sở hữu nhà đất tại
phường K, chị T sẽ thanh toán cho anh G 1/2 giá trị tài sản theo kết quả định giá
tài sản và chị T sẽ có trách nhiệm trả khoản nợ 700.000.000 đồng cho bố mẹ đẻ chị
T (chị T không yêu cầu anh G phải trả khoản nợ này).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, ông Huỳnh Văn T4
quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn: đnghToà án xem xét phải chia cả ba tài
sản hoặc phải ngừng phiên toà để chị T làm đơn đ nghị chia ba tài sản. Còn
10
trường hợp chỉ chia một tài sản tại phường K thì tài sản này tạo dựng được do
công sức lớn của chị T nên đề nghị Hội đồng xét xử chia cho chị T, chị T sẽ
trách nhiệm trả cho anh G 1/2 giá trị tài sản theo kết quả định giá tài sản.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tài liệu, chứng cứ; quan điểm của chị T và anh G
về việc phân chia tài sản chung, xác định: từ khi chị T anh G sống ly thân, anh
G cùng con trai Trần Đăng Q về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn chị T sinh sống
kinh doanh cửa hàng thuốc tại nhà đất phường T; anh G còn người khuyết tật
(dạng khuyết tật vận động, mức đnặng) người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con
chung chưa thành niên khi ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 59 của Luật Hôn nhân
Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia một phần tài sản chung
của anh G: giao cho anh G được quyền sở hữu nhà đất tại phường K, anh G
trách nhiệm thanh toán cho chT 1/2 giá trị nhà đất 771.796.750 đồng. Đối với
đề nghị của chị T vviệc buộc anh G phải trách nhiệm cùng với chị T trả cho
ông T2 - bà B1 số tiền 700.000.000 đồng (là khoản tiền ông T2 - B1 đã đứng ra
vay Quỹ tín dụng nhân n Ngọc L để đưa cho chị T trả khoản vay chung của
chị T và anh G tại Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1 năm 2023):
trong thời hạn chuẩn bị xét xử, chị T không khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết;
ông T2 - B1 không yêu cầu độc lập nên không xem xét giải quyết. Chị T
hoặc ông T2 và bà B1, đều có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Đối với các nội dung kháng cáo của chị T như nêu trên, xét thấy: chị T khởi
kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly n; tại phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 17/02/2025, người đại diện theo ủy
quyền của bị đơn ông Anh B đã giao nộp 01 đơn xin rút một phần yêu cầu
chia tài sản chung của bị đơn anh G, thể hiện nội dung: anh G chỉ yêu cầu Tòa án
chia nhà đất tại phường K, rút yêu cầu chia hai tài sản chung còn lại và rút yêu cầu
giải quyết khoản nợ chung vay tại Ngân hàng TMCP S tại Quảng Ninh - Phòng G1
(thế chấp bằng tài sản nhà đất tại phường T). Nguyên đơn chị T vẫn giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, không thay đổi; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Chị T quan điểm: nếu bị đơn đã đề nghchia tài sản thì phải chia 03 (ba) tài sản
cùng một lúc, còn nếu bị đơn chỉ đề nghị chia 01 (một) tài sản nhà đất tại
phường K thì chị T đề nghị Tòa án chia cho chị T được nhận phần nhà đất ở K, chị
T có trách nhiệm thanh toán cho anh G ½ giá trị tài sản này (theo giá trị tài sản mà
Hội đồng định giá tài sản đã định giá (bút lục 314-315); tại phiên tòa sơ thẩm ngày
09/4/2025, chị T không sửa đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi
kiện. Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết (thể hiện
tại trang 5, 6 của Biên bản phiên tòa thẩm bút lục 479); tại hồ vụ án không
tài liệu, chứng cứ thể hiện: chị T yêu cầu chia tài sản chung, giải quyết n
chung (đơn khởi kiện, đơn đề nghị) hoặc có đơn đề nghị, đơn khiếu nại về việc Tòa
án cấp thẩm không giải quyết yêu cầu chia tài sản chung, giải quyết nợ chung
của chị T.
Chị T kháng cáo đề nghTòa án cấp phúc thẩm giao cho chị T sở hữu nhà đất
tại phường K hoặc hủy phần chia tài sản chung tại bản án thẩm, để giải quyết
chia 03 (ba) tài sản trong thời khôn nhân của chị T anh G, xét thấy: Tòa án
cấp sơ thẩm đã xác định, đánh giá quyết định giao cho anh G sở hữu nhà đất tại
11
phường K nghĩa vụ thanh toán cho chị T ½ giá trị nhà đất này bằng tiền như
nêu trên căn cứ, đảm bảo quyền lợi ích của các đương sự, nên không
căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị T.
[3] Về án phí: Tòa án không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị Hồng T.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,…số: 85/2025/QH15 và khoản 1 Điều
29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án, chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.
[4] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân n tỉnh Quảng Ninh về nội
dung giải quyết vụ án.
[5] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật sửa đổi, b
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,…số: 85/2025/QH15.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị Hồng T. Giữ nguyên phần
chia tài sản chung tại Bản án Hôn nhân Gia đình thẩm số: 17/2025/HN-
ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh nay
Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh.
[2] Về án phí phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,…số:
85/2025/QH15. Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sdụng án plệ phí Tòa án, chị Trần Thị Hồng T phải
chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án pHôn nhân gia đình phúc thẩm.
Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc
thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002912 ngày 23/
4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sthành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh nay
là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Quảng Ninh.
[3] Các quyết định khác của Bản án Hôn nhân Gia đình thẩm không
kháng cáo, kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tnh Qung Ninh;
- TAND Khu vực 2 - Quảng Ninh;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực
2 - Quảng Ninh;
- Lưu HCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐNG XT X
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thúy Hằng
12
13
Tải về
Bản án số 16/2025/HNGĐ-PT Bản án số 16/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2025/HNGĐ-PT Bản án số 16/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất