Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 19/05/2025 của TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 16/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 16/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 16/2025/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 16/2025/DS-ST ngày 19/05/2025 của TAND huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Cù Lao Dung (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
Số hiệu: | 16/2025/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 19/05/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ông T tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà P |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 16/2025/DS-ST
Ngày: 19-5-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Tâm.
Ông Võ Thành Phước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung,
tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2024/TLST-DS ngày 18
tháng 10 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 12/2025/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số B Đường T, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có
mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Thị Thanh P, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện lập ngày 10 tháng 10 năm 2024 và các lời khai trong
quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh
Nguyễn Thanh T trình bày:
Anh Nguyễn Thanh T và bà Phan Thị Thanh P có quen biết nhau, bà P
có hỏi vay tiền của anh T cụ thể như sau:

2
Vào ngày 22/02/2023, anh T có cho bà Phan Thị Thanh P vay số tiền
50.000.000 đồng, sau khi nhận tiền thì bà P có ký tên xác nhận vào “giấy cho
vay tiền”. Theo thỏa thuận khi vay tiền thì bà P thống nhất hàng tháng bà P trả
tiền lãi cho anh T với mức lãi theo thỏa thuận, thời hạn trả nợ gốc và lãi là
ngày 22/6/2023. Đến ngày 15/5/2023, anh T có cho bà Phan Thị Thanh P vay
số tiền 50.000.000 đồng, sau khi nhận tiền thì bà P có ký tên xác nhận vào
“giấy cho vay tiền”. Theo thỏa thuận khi vay tiền thì bà P thống nhất hàng
tháng bà P trả tiền lãi cho anh T với mức lãi suất 5%/1 tháng, thời hạn trả nợ
gốc và lãi là tết âm lịch năm 2024. Sau khi bà P đã nhận đủ số tiền vay của
anh T là 100.000.000 đồng thì hàng tháng bà P không có trả tiền lãi, khi đến
thời hạn trả nợ, bà P không có trả tiền vay vốn gốc cho anh T. Anh T1 có đến
nhà bà P để đòi tiền nhiều lần thì bà P cứ hẹn lần hẹn lựa không chịu trả.
Xét thấy bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận trong hợp
đồng khi vay tiền, sau khi nhận tiền vay 02 lần với số tiền 100.000.000 đồng
thì hàng tháng bà P không trả tiền gốc cũng không có trả tiền lãi như cam kết,
bà P đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của anh T1 nên anh T1 khởi kiện
yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh T1.
Nay anh T1 yêu cầu như sau:
Yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Phan Thị Thanh P có trách
nhiệm hoàn trả lại cho anh T1 số tiền vay vốn gốc là 100.000.000 đồng. Anh
T1 không yêu cầu tính lãi, yêu cầu trả đủ một lần.
Đối với bị đơn bà Phan Thị Thanh P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban
hành thông báo thụ lý vụ án số: 59/TB-TLVA ngày 18 tháng 10 năm 2024,
tống đạt hợp lệ cho bà Phan Thị Thanh P tại địa chỉ nhà của bà Phan Thị
Thanh P tại ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, thì Trưởng Ban N, thị
trấn C xác định đúng nhà của bà Phan Thị Thanh P và hiện nay bà P không có
mặt tại địa phương nên Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết theo quy định tại
Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà P không có văn bản trình bày ý kiến
của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh T. Tòa án đã tiến
hành triệu tập hợp lệ đối với bà P để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà P vắng mặt không có
lý do, nguyên đơn có yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên
bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của bà P trong
hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ
án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp
luật của những người tham gia tố tụng là người đại diện theo ủy quyền của

3
nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị
đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy, bị đơn vay tiền của nguyên đơn
có làm biên nhận nợ nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn
phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền vay vốn gốc theo yêu cầu của
nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền
giải quyết: Khi nộp đơn khởi kiện, người bị kiện là bà Phan Thị Thanh P có
địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người khởi kiện anh Nguyễn Thanh T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân
dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng buộc bà Phan Thị Thanh P trả cho
anh T số tiền vay vốn gốc tổng cộng 100.000.000 đồng. Tòa án nhân dân
huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho anh Nguyễn
Thanh T nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và anh T đã thực
hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, Tòa án nhân dân
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của anh Nguyễn
Thanh T và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay
tài sản là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định
tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều
191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về xác định địa chỉ nơi cư trú của bị đơn bà Phan Thị Thanh P:
[1.2.1] Theo đơn khởi kiện, ông Nguyễn Thanh T căn cứ vào các “Giấy
cho vay tiền” lập ngày 22/02/2023 và ngày 15/5/2023, đều ghi địa chỉ của bà
Phan Thị Thanh P tại ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và có ghi số
căn cước công dân, ngày cấp, nơi cấp thể hiện địa chỉ thường trú và chỗ ở hiện
tại là ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên, khi Tòa án tống đạt
hợp lệ cho bà Phan Thị Thanh P tại địa chỉ nơi thường trú và địa chỉ nơi ở của
bà P tại ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, thì được Trưởng Ban N, thị
trấn C xác định đúng nhà của bà Phan Thị Thanh P và hiện nay bà P không có
mặt tại địa phương. Tòa án thông báo cho nguyên đơn cung cấp địa chỉ nơi cư

4
trú hiện nay của bà Phan Thị Thanh P, thì nguyên đơn cho rằng bà P cố tình
trốn tránh việc trả nợ cho nguyên đơn nên bà P không cung cấp địa chỉ nơi cư
trú hiện nay của bà P cho nguyên đơn nên không cung cấp được địa chỉ nơi cư
trú hiện nay cho Tòa án và nguyên đơn căn cứ vào địa chỉ của bà P ghi trong
các “Giấy cho vay tiền” lập ngày 22/02/2023 và ngày 15/5/2023, đều ghi địa
chỉ của bà Phan Thị Thanh P tại ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng,
nguyên đơn đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn nên yêu cầu Tòa án tiếp tục giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.2.2] Theo khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP
ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
tại điểm d khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số
92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện lại vụ án
(sau đây gọi tắt là: Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao), quy định: “Người khởi kiện đã
cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của
pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện
mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác
chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015”.
[1.2.3] Tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về
nơi cư trú của cá nhân như sau: “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự
thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo
cho bên kia biết về nơi cư trú mới”.
[1.2.4] Căn cứ theo khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số: 04/2017/NQ-
HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì
nguyên đơn đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn như trong “Giấy cho vay tiền”. Bị
đơn là người vay tiền của nguyên đơn, bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không
thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới là vi phạm theo quy định tại
khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[1.2.5] Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định địa chỉ của bị đơn
Phan Thị Thanh P tại ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng là đúng theo
quy định của pháp luật.
[1.3] Bị đơn bà Phan Thị Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến
lần thứ hai và vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều
227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định
tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Phan Thị Thanh P.

5
[2] Về nội dung:
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm,
nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T yêu cầu bị đơn bà Phan Thị Thanh P phải trả
cho anh T số tiền vay vốn gốc là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi
suất.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T về việc yêu cầu bà
Phan Thị Thanh P phải có nghĩa vụ trả cho anh T số tiền vay vốn gốc tổng
cộng 100.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, tại “Giấy cho vay tiền” lập
ngày 22/02/2023 thể hiện nội dung: “Bên cho vay (Bên A) là anh Nguyễn
Thanh T. Bên vay (Bên B) là bà Phan Thị Thanh P, sinh ngày 26/3/1965,
CCCC số 089165000013, ngày cấp 26/4/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý
hành chính về trật tự xã hội; địa chỉ thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp C, thị
trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Bên A đồng ý cho Bên B vay số tiền
50.000.000 đồng. Mức lãi suất cho vay: thỏa thuận. Phương thức thanh toán:
tiền mặt. Thời điểm thanh toán lãi ngày 22 hàng tháng. Thời điểm thanh toán
gốc: ngày 22/6/2023. Bên vay ký tên và ghi họ tên Phan Thị Thanh P” và tại
“Giấy cho vay tiền” lập ngày 15/5/2023 thể hiện nội dung: “Bên cho vay (Bên
A) là anh Nguyễn Thanh T. Bên vay (Bên B) là bà Phan Thị Thanh P, sinh
ngày 26/3/1965, CCCC số 089165000013; chỗ ở hiện nay: Ấp C, thị trấn C,
huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Bên A đồng ý cho Bên B vay số tiền 50.000.000
đồng. Mức lãi suất cho vay: 5%/tháng. Phương thức thanh toán: tiền mặt. Thời
điểm thanh toán lãi ngày 15 tây hàng tháng. Thời điểm thanh toán gốc: Tết âm
lịch. Bên vay ký tên và ghi họ tên Phan Thị Thanh P”. Trong quá trình giải
quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị Thanh P không có văn bản trả lời cho Tòa án
về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T, Tòa án không lấy được lời
khai của bà P. Tòa án thông báo yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng
cứ khác chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, thì
nguyên đơn cung cấp: 01 USB nhãn hiệu Kingston, DT101 G2, 2GB có chứa
đoạn video ghi hình, âm thanh việc bà P vay tiền của anh T và Tờ tường trình
lập ngày 11/3/2025 với nội dung: “Trình bày về xuất xứ của đoạn video quay
lại hình ảnh và việc nói chuyện thỏa thuận anh T cho bà P vay số tiền
50.000.000 đồng vào thứ Hai ngày 15/5/2023 tại quán C, địa chỉ số A Đường
T, Khóm E, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi anh T và bà Phan
Thị Thanh P thỏa thuận việc anh T cho bà P vay số tiền 50.000.000 đồng thì
anh T đưa giấy cho bà P ký tên, ghi họ tên tại mục bên vay, anh T nhờ vợ anh
T là chị Võ Thị B T2 giao tiền cho bà P, còn anh T là người trực tiếp quay
đoạn video ghi lại hình ảnh bà P ký vào Giấy cho vay tiền và nhận số tiền
50.000.000 đồng. Việc thỏa thuận cho vay tiền còn có bà Phùng Mỹ H là chủ
quán cà phê chứng kiến”. Tại biên bản lấy lời khai lập ngày 26/3/2025, bà
Phùng Mỹ H; địa chỉ liên hệ A Đường T, Khóm E, Phường F, thành phố S,
tỉnh Sóc Trăng là chủ quán cà phê Thư P1 khai: “Vào thời gian hơi lâu, bà H

6
không nhớ rõ, ông T (Nguyễn Thanh T) có đến quán cà phê của bà H tại số A
Đường T, Khóm E, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để uống cà phê và
có thỏa thuận cho một người phụ nữ vay tiền, người này cũng hay đến quán cà
phê của bà H uống cà phê, bà H có thấy giao tiền nhưng không rõ số tiền các
bên thỏa thuận vay bao nhiêu, bà H không biết địa chỉ cụ thể của người phụ nữ
này. Hiện nay, bà H không thấy người phụ nữ này đến quán của bà H để uống
cà phê nữa”. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã xem lại đoạn video
chứa trong USB nhãn hiệu Kingston, DT101 G2, 2GB do anh T giao nộp cho
Tòa án, anh T khẳng định người ký vào “Giấy cho vay tiền” là bà Phan Thị
Thanh P và thể hiện có giao nhận số tiền 50.000.000 đồng vào thứ Hai ngày
15/5/2023. Tại “Giấy cho vay tiền” lập ngày 22/02/2023 thể hiện bà Phan Thị
Thanh P vay tiền của anh T số tiền 50.000.000 đồng và có ký tên, ghi họ tên
tại mục bên vay. Do đó, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định bà Phan
Thị Thanh P có vay tiền của anh T vào ngày 22/02/2023 số tiền 50.000.000
đồng và vay ngày 15/5/2023 số tiền 50.000.000 đồng, tổng cộng là
100.000.000 đồng là có thật. Căn cứ vào Điều 463 Bộ luật Dân sự quy định
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao
tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài
sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định” và tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy
định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Tuy nhiên, khi
đến hạn trả tiền, bên vay tài sản là bà Phan Thị Thanh P không trả tiền cho bên
cho vay là nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T theo thỏa thuận. Do đó, yêu cầu
của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà Phan Thị Thanh P phải trả cho
nguyên đơn số tiền vay vốn gốc tổng cộng 100.000.000 đồng là có cơ sở nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Từ những nhận định tại đoạn [4] Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T về yêu cầu bị đơn bà
Phan Thị Thanh P phải có nghĩa vụ trả cho anh T toàn bộ số tiền vay vốn gốc
vay vào ngày 22/02/2023 số tiền 50.000.000 đồng và vay ngày 15/5/2023 số
tiền 50.000.000 đồng, tổng cộng là 100.000.000 đồng.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm:
[7.1] Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ
vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị đơn bà Phan
Thị Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền
5.000.000 đồng.

7
[7.2] Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm, nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 3 Điều 40; Điều 357; Điều 463 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định
về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tại điểm d khoản 1,
khoản 2 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả
lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện lại vụ án;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn
Thanh T đối với bị đơn bà Phan Thị Thanh P.
2. Xử buộc bị đơn bà Phan Thị Thanh P phải có nghĩa vụ trả cho nguyên
đơn anh Nguyễn Thanh T số tiền vay vốn gốc tổng cộng 100.000.000 đồng
(một trăm triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn anh Nguyễn
Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các
khoản tiền, thì hàng tháng bị đơn bà Phan Thị Thanh P còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí:
3.1. Bị đơn bà Phan Thị Thanh P phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu
đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
3.2. Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000 đồng
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004526 ngày 17 tháng
10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc
Trăng.
8
4. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể nhận được
bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử
theo trình tự phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Cù Lao Dung;
- Chi cục THADS huyện Cù Lao Dung;
- TAND tỉnh Sóc Trăng
(P.TTKT & THA);
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Đặng Phước Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Bản án số 905/2025/DS-PT ngày 13/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 865/2025/DS-PT ngày 05/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm