Bản án số 152/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 152/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 152/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 152/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 152/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Qui Nhơn (TAND tỉnh Bình Định) |
| Số hiệu: | 152/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp đòi tiền góp hụi |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 152/2024/DSST
Ngày: 05-7-2024
V/v “Tranh chấp đòi
lại tiền góp hụi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Ngọc Đông;
- Ông Nguyễn Cảnh Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLST- DS ngày 04 tháng 3 năm 2024
về việc “Tranh chấp đòi lại tiền góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
137/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà
số: 115/2024/QĐST- DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Vũ Việt N, sinh năm 1987
Địa chỉ: C T, tổ B, phường B, Quận H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1964
Địa chỉ: C T, tổ B, phường B, Quận H, thành phố Đà Nẵng.
(Theo giấy uỷ quyền ngày 18/3/2024)
* Bị đơn: Chị Mai Thị Ngọc H , sinh năm 1969
Địa chỉ: Tổ E khu V phường T, TP Q, tỉnh Bình Định.
* Người làm chứng: Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1964.
Địa chỉ: C T, tổ B, phường B, Quận H, thành phố Đà Nẵng.
(Tại phiên toà bà N, bà M, bà H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án
người đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn là chị Trần Thị Tuyết M khai:

Bà Mai Thị Ngọc H là chỗ quen biết, nên vào ngày 16/10/2021 (Âm lịch) bà H
có mời con chị M là Vũ Việt N vô 1 phần hụi, thời gian 12 tháng, mỗi tháng nộp
20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng chẵn) x 12 tháng là 240.000.000 đồng (Hai
trăm bốn mươi triệu đồng chẵn), trừ 1 phần chị ra là 20.000.000 đồng (Hai mươi
triệu đồng chẵn) còn 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng chẵn). Chị N
đã nộp đủ 01 lần cho bà Mai Thị Ngọc H với số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm
hai mươi triệu đồng chẵn), trừ 10 phần lãi là 40.000.000 đồng và 6.000.000 đồng
tiền chủ hụi còn lại chị N giao cho bà H là 174.000000 đồng (Một trăm bảy mươi
bốn triệu đồng chẵn), có ghi giấy nhận tiền vào ngày 16/10/2021 âm lịch, thời gian
12 tháng kể từ ngày 16/10/2021(Âm lịch) nhằm ngày 20/11/2021 đến ngày
16/9/2022 Âm lịch (nhằm ngày 11/10/2022 dương lịch) là kết thúc, thì bà Mai Thị
Ngọc H chồng trả đủ cho chị N đủ số tiền trên là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai
mươi triệu đồng chẵn).
Ngày 15/8/2022 bà H đã trả 12.000.000 đồng, ngày 15/ 01/2023 bà H đã trả
30.000.000 đồng, còn lại 178.000.000 đồng bà H không chịu trả. Nhiều lần chị đến
nhà bà để đòi nhưng bà H không trả.
Nay chị N yêu cầu bà Mai Thị Ngọc H phải trả cho chị N số tiền 178.000.000
đồng và tính lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật 10%/năm trên số tiền hụi phải
trả từ tháng 16/9/2022 âm lịch (nhằm ngày 11/10/2022 dương lịch) (Tính lãi trừ
theo thời gian trả 42.000.000 đồng vào 15/01/2023 và 15/8/2022).
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Mai Thị Ngọc H
khai:
Vào ngày 16/10/2021, chị có nhận tiền từ bà Trần Thị Tuyết M, tức mẹ chồng
của bà N, số tiền là 174.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu đồng chẵn) về
việc tham gia đóng hụi giữa các cá nhân. Đúng 12 tháng sau, vì tình hình dịch bệnh
Covid quá khó khăn, các thành viên trong dây hụi của chị, người vì bệnh tật, người
thì không có khả năng thanh toán, người thì trả chậm trả nhỏ... nên dẫn đến việc chị
không có tiền để trả cho bà Vũ Việt N theo như thỏa thuận.
Với tư cách là người chịu trách nhiệm, chị có khắc phục tạm thời cho chị N,
bằng việc: Tháng 08/2022, chị có mua bán và dành dụm số tiền 12.000.000 đồng
(Mười hai triệu đồng chẵn), chuyển vào tài khoản của chị Trần Thị Tuyết M. Khoảng
tháng 01/2023, chị tiếp tục chuyển trả 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn)
vào tài khoản của chị M, nhằm mục đích khắc phục một phần số tiền trên của chị N.
Nay, vì tình hình kinh tế gia đình chị quá khó khăn, cũng như ý thức được việc
trả nợ của chị, chị đồng ý còn nợ tiền hụi của chị N là 178.000.000 đồng. Chị xin
tiền lãi hụi là 40.000.000 đồng, nên chỉ trả 138.000.000 đồng, tiền lãi chậm trả chị
không đồng ý.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn
phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết

vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người làm chứng đã chấp hành
đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 78 của Bộ luật tố tụng dân
sự; Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng
dân sự
Hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 274, 280, 357,
468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 18, 22 23, Nghị định 19/2019/NĐ-CP
ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Việt N, buộc bà Mai Thị Ngọc H phải trả cho bà
N số tiền hụi còn nợ là 178.000.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày
16/9/2022 âm lịch (nhằm ngày 11/10/2022 dương lịch) trừ theo thời gian trả
12.000.000 đồng vào ngày 15/8/2022, trả 30.000.000 đồng vào ngày 15/01/2023.
Về án phí: Bà Mai Thị Ngọc H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu coù trong hoà sô vuï aùn ñöôïc thaåm
tra taïi phieân toøa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, H1 ñoàng xeùt
xöû nhaän ñònh :
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị Tuyến M1, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị
Vũ Việt N và là người làm chứng có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Mai Thị Ngọc
H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không có lý do,
không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định khoản 2
Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử vẫn
tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn khai: Ngày 16/10/2021(Âm lịch) chị Vũ Việt N có tham gia chơi
01 chân hụi do bà Mai Thị Ngọc H là chủ hụi, thời gian 12 tháng, mỗi tháng nộp
20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng chẵn) x 12 tháng là 240.000.000 đồng (Hai
trăm bốn mươi triệu đồng chẵn), trừ 1 phần chị ra là 20.000.000 đồng (Hai mươi
triệu đồng chẵn), còn 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng chẵn), chị N
đã nộp đủ 01 lần cho bà H với số tiền là 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu
đồng chẵn), trừ 10 phần tiền lãi hụi là 40.000.000 đồng, và 6.000.000 đồng tiền chủ
hụi còn lại N giao cho bà H là 174.000000 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu đồng
chẵn), có ghi giấy nhận tiền vào ngày 16/10/2021 âm lịch, thời gian 12 tháng kể từ
ngày 16/10/2021 (Âm lịch) nhằm ngày 20/11/2021 đến ngày 16/9/2022 âm lịch
(nhằm ngày 11/10/2022 dương lịch) là kết thúc, thì bà Mai Thị Ngọc H chồng trả đủ
cho chị N số tiền: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng chẵn). Tuy nhiên

đến ngày kết thúc bà H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền hụi đầy đủ cho chị N mặc
dù chị N, bà M1 đã nhiều lần yêu cầu. Tính đến ngày 26/4/2024, bà H đã trả cho chị
N số tiền là 42.000.000 đồng. Cụ thể ngày 15/8/2022 trả bà H trả cho chị N
12.000.000 đồng, ngày 15/01/2023 bà H trả cho chị N trả 30.000.000 đồng. Còn lại
178.000.000 đồng bà H còn nợ chưa trả.
Nay chị N yêu cầu bà Mai Thị Ngọc H phải trả cho chị N số tiền trên
178.000.000 đồng và tính lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật 10%/năm trên số
tiền hụi phải trả từ tháng 16/9/2022 âm lịch (Tính lãi trừ theo thời gian trả 42.000.000
đồng vào 15/8/2022 và 15/01/2023).
Bị đơn chị Mai Thị Ngọc H khai: Vào ngày 16/10/2021, chị có nhận tiền từ bà
Trần Thị Tuyết M, tức mẹ chồng của bà N, số tiền là 174.000.000 đồng (Một trăm
bảy mươi bốn triệu đồng chẵn) về việc tham gia đóng hụi giữa các cá nhân. Đúng
12 tháng sau, vì tình hình dịch bệnh Covid quá khó khăn, nên dẫn đến việc chị H
không có tiền để trả cho chị N như thỏa thuận. Tháng 08/2022, chị H trả 12.000.000
đồng (Mười hai triệu đồng chẵn), chuyển vào tài khoản của bà Trần Thị Tuyết M,
khoảng tháng 01/2023, chị tiếp tục chuyển trả 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng
chẵn) vào tài khoản của bà M. Nay chị đồng ý còn nợ tiền hụi của chị N là
178.000.000 đồng, chị xin tiền lãi hụi là 40.000.000 đồng, nên chỉ trả 138.000.000
đồng, tiền lãi chậm trả chị không đồng ý.
Các bên đương sự thống nhất số tiền hụi còn nợ là 178.000.000 đồng, Nguyên
đơn chị N yêu cầu bà H trả 01 lần và tính lãi chậm trả 10%. Bị đơn xin tiền lãi hụi
40.000.000 đồng, chỉ trả 138.000.000 đồng và không đồng ý tính lãi chậm trả.
HĐXX xét: Hụi, họ (hụi) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên
cơ sở thỏa thuận của một nhóm người, nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân
được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự. Đến kỳ hạn, bị đơn là thành viên đã
lĩnh hụi không góp hụi theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Vì vậy, nguyên đơn
khởi kiện yêu cầu bị đơn trả phần hụi mà nguyên đơn đã góp cho bị đơn là phù hợp
quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn đồng ý còn nợ tiền góp hụi chủa Chị N là 178.000.000 đồng, nhưng nay
xin tiền lãi hụi là 40.000.000 đồng, chỉ trả 138.000.000 đồng. Yêu cầu này không
được nguyên đơn chấp nhận. Vì vậy, buộc bà H có trách nhiệm trả cho chị N số tiền
178.000.000 đồng.
Về yêu cầu trả lãi chậm trả của nguyên đơn, HĐXX xét: Ngày 16/9/2022 âm
lịch tức ngày (nhằm ngày 11/10/2022 dương lịch) là ngày bà H phải giao tiền hụi
cho chị N nhưng bà H không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ trả tiền, thì phải trả lãi
đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả đến ngày xét xử là phù
hợp với Điều 468 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Cụ thể số tiền lãi chậm trả bà H
phải trả cho chị N là:
- Từ 11/10/2022 đến ngày 15/01/2023
208.000.000 đồng x 10%/năm x 3 tháng 5 ngày = 5.484.932 đồng.

- Từ ngày 15/01/2023 đến ngày 05/7/2024
178.000.000 đồng x 10%/năm x 1 năm 5 tháng 21 ngày = 26.240.776 đồng.
Tổng cộng: 31.725.708 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà
H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.486.285 đồng.
[4] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 274, 280, 357, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 18, 22 23, Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019
của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Toà án
Tuyên xử:
1. Bà Mai Thị Ngọc H có nghĩa vụ trả cho chị Vũ Việt N số tiền hụi nợ gốc
là: 178.000.000 đồng, tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ là 31.725.708 đồng.
Tổng cộng: 209.725.708 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu bảy trăm hai mươi lăm
nghìn bảy trăm lẻ tám đồng).
2. Không chấp nhận lời khai chỉ đồng ý trả 138.000.000 đồng và xin không tính
lãi của bà Mai Thị Ngọc H .
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bà Mai Thị Ngọc H phải chịu 10.486.285 đồng đồng.
3.2. Hoàn trả cho chị Vũ Việt N: 4.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên
lai thu tiền số 0000552 ngày 04/3/2024 Của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Quy Nhơn.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn , bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án
hoặc bản án được niêm yết theo quy định của BLTTDS.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND Tp. Quy Nhơn;
- CQ THA DS Tp. Quy Nhơn;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn Tài
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Bản án số 118/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm