Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 15/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 15/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 15/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 15/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | của bà Đỗ Thị H đòi bà Lâm Mỷ K trả số tiền 22.500.000 đồng tiền nợ hụi |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 15/2026/DS-PT
Ngày 09 – 01– 2026
V/v tranh chấp hụi
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuý Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Thuý Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 611/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 11
năm 2025 về việc: Tranh chấp hụi.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 602/2025/QĐ-PT ngày 15
tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1962 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 095162003850; Cấp ngày: 18/11/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là: Ấp T, xã A, tỉnh
Cà Mau).
- Bị đơn: Bà Lâm Mỷ K, sinh năm 1970 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 095170002289; Cấp ngày: 12/06/2022; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Địa chỉ cư trú: Khóm B, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (nay là: Khóm
H, phường G, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Bà Lâm Mỷ K, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo bà Đỗ Thị H trình bày:
Vào năm 2019, bà Lâm Mỷ K có tham gia 02 chưng hụi, loại hụi 1.000.000
đồng, do bà Đỗ Thị H làm chủ hụi. Cụ thể:
2
Dây hụi thứ nhất: Loại hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/6/2019 (âm lịch),
15 ngày khui 01 lần, dây hụi gồm 31 chưng, bà K tham gia 01 chưng. Bà K là
người hốt hụi đầu, hốt được số tiền 23.400.000 đồng.
Dây hụi thứ hai: Loại hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 30/10/2019 (âm lịch),
15 ngày khui 01 lần, dây hụi gồm 30 chưng, bà K tham gia 01 chưng. Bà K là
người hốt đầu, hốt được số tiền 22.600.000 đồng.
Bà H xác định giữa bà và bà K có chốt tiền hụi với nhau, bà K còn nợ bà H
số tiền hụi chết phải đóng của 02 dây hụi là 52.900.000 đồng, bà K đã trả được
10.900.000 đồng, còn nợ lại 42.000.000 đồng. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu bà K
trả cho bà H số tiền 42.000.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/4/2025, bà H xác định số tiền hụi chết của
02 dây hụi bà K phải đóng cho bà là 59.000.000 đồng, bà K đã trả được
36.500.000 đồng, nên bà H rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền
19.500.000 đồng, bà H chỉ yêu cầu bà K trả số tiền 22.500.000 đồng.
- Theo bà Lâm Mỷ K trình bày:
Bà K thừa nhận có tham gia chơi 02 chưng hụi, loại hụi 1.000.000 đồng như
bà H trình bày, số tiền hụi chết bà K phải đóng cho bà H là 59.000.000 đồng. Bà bà
K cho rằng đã trả cho bà H được số tiền 42.500.000 đồng, chỉ còn nợ 16.500.000
đồng. Bà Kim C đồng ý trả cho bà H số tiền 16.500.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H đòi bà Lâm Mỷ K trả số tiền
22.500.000 đồng.
Buộc bà Lâm Mỷ K trả cho bà Đỗ Thị H số tiền 22.500.000 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 19.500.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 29/9/2025, bà Lâm Mỷ K có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm, bà K chỉ đồng ý trả cho bà H số tiền 16.500.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lâm Mỷ Kim G nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Bà K phát biểu: Bà chỉ còn nợ bà H số tiền là 16.500.000 đồng, nên bà chỉ
đồng ý trả cho bà H số tiền là 16.500.000 đồng.
Bà H phát biểu: Bà K còn nợ bà số tiền là 22.500.000 đồng chứ không phải
là 16.500.000 đồng như bà K trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Mỷ K, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Xét kháng cáo của bà Lâm Mỷ K, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, bà K thừa nhận bà có tham gia 02 chưng hụi,
loại hụi 1.000.000 đồng, 15 ngày khui 01 lần, do bà H mở ngày 15/6/2019 (âm lịch)
và ngày 30/10/2019 (âm lịch), bà K là người hốt hụi đầu đối với chưng hụi của 02
dây hụi nêu trên và số tiền hụi chết bà K phải đóng lại cho bà H là 59.000.000
đồng. Đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản
2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tuy nhiên, giữa bà H và bà K không thống nhất với nhau về số tiền hụi
chết mà bà K đã đóng và số tiền còn nợ lại bà H. Bà H xác định bà K đã đóng là
36.500.000 đồng, còn nợ lại là 22.500.000 đồng. Bà K xác định đã đóng cho bà H
42.500.000 đồng, chỉ còn nợ lại 16.500.000 đồng, đồng thời bà K cung cấp chứng
cứ là 05 tờ giấy ghi đóng hụi được ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5 có trong hồ sơ để
chứng minh. Qua đối chiếu, bà H thừa nhận có nhận tiền theo các giấy ghi đóng hụi
được ký hiệu A1, A2, A3, tổng số tiền là 34.500.000 đồng và 1.000.000 đồng ngày
10/12/2022 được ghi tại dòng đầu giấy ghi đóng hụi được ký hiệu A4. Từ dòng ghi
ngày 30/02/2023 trở về sau của giấy ghi đóng hụi ký hiệu A4, A5 tổng số tiền là
7.000.000 đồng, thì bà H chỉ thừa nhận có nhận số tiền 1.000.000 đồng do con bà H
là anh Nguyễn Văn T nhận dùm 02 lần (mỗi lần 500.000 đồng), tổng số tiền bà K
đã trả cho bà là 36.500.000 đồng, còn 6.000.000 đồng bà H không thừa nhận có
nhận của bà K. Bà K cho rằng từ dòng ghi ngày 30/02/2023 trở về sau tại tại giấy
ghi đóng hụi ký hiệu A4, A5 số tiền đã trả cho bà H là 7.000.000 đồng do bà H và
02 người con bà H là anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn T1 nhận, nhưng bà K
không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết do bà không nhớ rõ các lần giao tiền do
ai ghi cụ thể. Qua xác minh, anh T1 không thừa nhận có nhận tiền như bà K trình
bày, còn anh T không có mặt ở địa phương nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến
của anh T.
[3] Như vậy, bà K thừa nhận số tiền hụi chết phải đóng cho bà H là
59.000.000 đồng, bà K cho rằng đã đóng cho bà H số tiền 42.500.000 đồng, còn nợ
16.500.000 đồng; nhưng bà H chỉ thừa nhận số tiền bà K đã trả là 36.500.000 đồng,
còn nợ lại 22.500.000 đồng; bà K không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà H
có nhận của bà K số tiền 42.500.000 đồng như bà K trình bày. Do đó, Toà án cấp
sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà K trả cho bà H số tiền
22.500.000 đồng là có căn cứ.
[4] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo bà Lâm Mỷ
K, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà K phải chịu 300.000 đồng, đã dự nộp được
chuyển thu.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
4
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo bà Lâm Mỷ K.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H.
Buộc bà Lâm Mỷ K trả cho bà Đỗ Thị H số tiền 22.500.000 đồng.
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong
khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà K còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H đối với bà Lâm Mỷ
K với số tiền là 19.500.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Mỷ K phải chịu 1.125.000 đồng;Bà Đỗ
Thị H không phải chịu án phí. Ngày 08/10/2024, bà H đã dự nộp 1.050.000 đồng
theo biên lai thu tiền số 0009214 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cà Mau) được nhận lại.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lâm Mỷ K phải chịu 300.000 đồng. Ngày
29/09/2025, bà K đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000559 của
Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 8- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 8- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm