Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Càng Long (TAND tỉnh Trà Vinh)
Số hiệu: 15/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/05/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa bà M với ông P
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÀNG LONG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 15/2024/DS - ST
Ngày: 10- 5 - 2024
V/v “ Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Tuyết Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hòa.
2. Ông Nguyễn Văn Xuôi.
- Thư ký phiên tòa: Trần Thị Cẩm Thu Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Thanh Huấn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng
Long xét xử thẩm ng khai vụ án thụ số: 203/2023/TLST - DS, ngày 17
tháng 11 năm 2023; về việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST - DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 Quyết
định Hoãn phiên tòa số: 45/2024/QĐST - DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Huỳnh Thị M, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp B, Đ, huyện
D, tỉnh Trà Vinh. (có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Hữu P, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp Đ (nay ấp Đ1),
Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt không có lý do)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp B, T, huyện G, tỉnh
Bến Tre. (vắng mặt không có lý do)
2/Ông Trần Hoài T1, sinh 1976. Địa chỉ: Ấp R, Đ, huyện C, tỉnh Trà
Vinh. (có đơn xin vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn Huỳnh Thị M trình bày: ông Trần Hữu P không quen biết nhau
được ông Trần Hoài T1 giới thiệu, do nhu cầu mua đất để mở quán kinh
doanh, bà và ông P thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất 2027, tờ bản đồ 30, diện
tích 385m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp R, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh
do ông Nguyễn Thanh T đứng tên với giá 1.250.000.000đồng; ngày 17 tháng 7 năm
2022 ông P lập hợp đồng đặt cọc, bà giao cho ông P 150.000.000đồng
giao kèo đến ngày 17 tháng 10 năm 2022 hai bên sẽ hoàn tất thủ tục chuyển
nhượng thửa đất nói trên theo quy định, giao cho ông P số tiền
1.100.000.000đồng còn lại. Việc giao nhận tiền và lập hợp đồng đặt cọc giữa bà với
ông P ông Trần Hoài T1 chứng kiến. Đến ngày 17 tháng 10 năm 2022 ông
Nguyễn Thanh T chủ đất cùng với bà và ông P đến tại Ủy ban nhân dân Đ
để lập hợp đồng chuyển nhượng, nhưng khi đến thực địa thửa đất tkhông đo đạc
để giao đất được do phần đất ông P chuyển nhượng cho cạnh hướng Bắc
giáp thửa 1988 của bà Nguyễn Thị Đ không thống nhất được ranh đất, từ đó
không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định.
Nay M yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc, buộc ông P trả số tiền
150.000.000đồng tiền lãi 12.995.000đồng (lãi tính 0,83%/tháng từ ngày nhận
tiền 17/7/2022 đến ngày khởi kiện 16/11/2023). Tổng cộng 162.995.000đồng (Một
trăm sáu mươi hai triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Theo lời khai trong quá trình giải quyết ván ông Trần Hữu P trình
bày: Ông chuyển nhượng cho M thửa đất 2027, tờ bản đồ 30, diện tích
385m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp R, Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh do
ông Nguyễn Thanh T là cháu của ông đứng tên với giá là 1.250.000.000đồng; bà M
giao cho ông số tiền cọc 150.000.000đồng, ông cho ông Trần Hoài T1
20.000.000đồng ông nhận 130.000.000đồng; hai bên lập hợp đồng đặt cọc
ngày 17/7/2022 hẹn đến 17/10/2022 sẽ thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo quy định, M giao đủ số tiền 1.100.000.000đồng còn
lại; nhưng khi đến hẹn thỏa thuận để làm thủ tục chuyển nhượng thì phía M cho
rằng đất tranh chấp nên không đồng ý mua nữa; đất hoàn toàn không có tranh chấp
với Đ chỉ do M đổi ý không muốn mua. Nay ông không đồng ý trả tiền cọc
theo yêu cầu của M, do M vi phạm hợp đồng tphải chịu mất tiền cọc, còn
nếu ông vi phạm hợp đồng thì ông đồng ý bồi thường tiền cọc cho bà M.
Theo lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Hoài T1
trình bày: Do ông làm nghề môi giới mua bán đất, ông có giới thiệu cho bà M mua
thửa đất của ông P cụ thể thửa đất 2027, tbản đồ 30, diện tích 385m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp R, Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh với giá tiền
1.250.000.000đồng; bà M có giao cho ông P số tiền 150.000.000đồng và hai bên có
làm hợp đồng đặt cọc, ông tên chứng kiến, hai bên hẹn 03 tháng sau thực
3
hiện thủ tục hợp đồng chuyển nhượng theo quy định, nhưng khi đến thời hạn thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng thì không thực hiện được do đất tranh chấp ranh
với bà Đ.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Thanh T
trình bày: Ông theo ý kiến của ông P, do ông P toàn quyền quyết định trong vụ án
này.
Vị Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long trình bày
quan điểm cho rằng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ đến
thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định theo Điều 48 của Bộ Luật tố
tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án ntiến hành thu thập chứng cứ,
gửi các văn bản tố tụng cho đương sự, cũng như gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát
nghiên cứu đưa vụ án ra xét xử. Việc tuân theo theo pháp luật của Hội đồng xét
xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo trình tự phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp
hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn thực hiện
đúng theo quy định Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện
nghiêm quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ Luật
tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án: Vị đề nghị căn cứ vào quy định của Bộ Luật tố tụng
dân sự; Bộ Luật dân sự và các quy định pháp luật có liên quan.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
Hủy hợp đồng đặt cọc giữa M với ông P lập ngày 17 tháng 7 năm 2004.
Buộc ông P nghĩa vụ trả cho M số tiền 150.000.000đồng tiền lãi
12.995.000đồng. Tổng cộng 162.995.000đồng.
2. Về án phí, chi phí khảo sát: Buộc đương sự có nghĩa vụ chịu án phí dân sự
thẩm trừ trường hợp không phải nộp, miễn nộp; chịu chi phí khảo sát theo quy
định của pháp luật.
Tại phiên tòa Huỳnh Thị M nguyên đơn ông Trần Hoài T1 người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đơn yêu cầu vắng mặt. Ông Trần Hữu P bị
đơn và ông Nguyễn Thanh T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần
thứ hai không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, trên sở
xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự trong vụ án, quan điểm của
đại diện Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với Huỳnh Thị M là nguyên đơn và ông Trần
Hoài T1 người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đơn yêu cầu vắng mặt. Ông
Trần Hữu P bị đơn ông Nguyễn Thanh T người quyền lợi nghĩa vụ liên
4
quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật t
tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Bà M cho rằng trước đây ngày 17 tháng 7 năm 2022
thỏa thuận với ông P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 2027, tờ
bản đồ 30, diện tích 385m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp R, xã Đ, huyện C,
tỉnh Trà Vinh do ông Nguyễn Thanh T đứng tên với số tiền 1.250.000.000đồng; hai
bên làm hợp đồng đặt cọc, M giao cho ông P nhận số tiền
150.000.000đồng thỏa thuận thời gian 03 tháng sẽ thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng theo quy định thì M sẽ giao đủ số tiền còn lại cho ông P. Do đến thời
hạn thực hiện hợp đồng chuyển nhượng theo quy định nhưng hai bên không thực
hiện đo cậm trụ giao đất được do Nguyễn Thị Đ giáp ranh đất chuyển nhượng
tranh chấp ranh đất, từ đó Ủy ban nhân dân Đ không chứng thực được hợp đồng
chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên cho hai bên.
Nay M yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc, yêu cầu ông P trả lại tiền cọc
150.000.000đồng và tiền lãi là 12.995.000đồng (tính lãi 0,83%/tháng từ ngày nhận
tiền 17/7/2022 đến ngày khởi kiện ngày 16/11/2023); tổng cộng 162.995.000đồng
do ông P vi phạm về thời gian không được hợp đồng chuyển nhượng. Ông P
không không đồng ý trả tiền cọc theo yêu cầu của bà M, do bà M vi phạm hợp đồng
thì phải chịu mất tiền cọc.
Xét thấy: Việc bà M và ông P thỏa thuận ký hợp đồng đặt cọc ngày
17/7/2022 để thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 2027, tờ bản đồ
30, diện tích 385m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp R, Đ, huyện C, tỉnh
Trà Vinh là không đúng quy định; bởi lẽ thửa đất 2027 theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất các bên cung cấp tthửa đất này hiện do ông Nguyễn Thanh T đứng
tên chủ shữu, ông P không giấy tờ chứng minh thửa đất 2027 thuộc quyền
sở hữu của ông ông đứng ra chuyển nhượng cho bà M là không căn cứ. Mặt
khác căn cứ lời khai của các bên cũng như kết quả xem xét thẩm định tại chổ thì
thửa đất 2027 hiện đang tranh chấp với hộ giáp ranh là Nguyễn Thị Đ thật,
nên việc M yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc, yêu cầu ông P trả lại tiền cọc
150.000.000đồng là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với tiền lãi: Do hợp đồng đặt cọc giữa bà M và ông P bị hủy, ông P nhận
tiền của bà M thì phải nghĩa vụ trả lãi theo quy định của pháp luật; do vậy bà M
yêu cầu ông P trả lãi 0.83%/tháng từ ngày nhận tiền cọc (17/7/2022) đến ngày khởi
kiện (16/11/2023) hoàn toàn căn cứ; tiền lãi được tính từ ngày nhận cọc đến
ngày khởi kiện 16 tháng thành tiền 19.920.000đồng; tuy nhiên M chỉ yêu
cầu ông P trả lãi với số tiền 12.995.000đồng, đây sự tự nguyện định định đoạt
của bà M được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, buộc ông P nghĩa vụ trả cho M số tiền
150.000.000đồng tiền lãi 12.995.000đồng. Tổng cộng 162.995.000đồng phù
hợp quy định của pháp luật.
5
[3] Quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Càng Long có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí thẩm định: 1.400.000đồng (Một triệu bốn trăm nghìn
đồng); Huỳnh Thị M tự nguyện chịu toàn bộ số tiền này; do M đã nộp tạm
ứng trước và đã chi phí xong, vì vậy bà không phải nộp.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự nghĩa vụ chịu theo quy định của
pháp luật, trừ trường hợp miễn nộp hoặc không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 238, 271 Điều 273
của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 275, 328 khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm
2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị M.
Hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà Huỳnh Thị M với ông Trần Hữu P lập ngày 17
tháng 7 năm 2022. Buộc ông Trần Hữu P nghĩa vụ trả cho Huỳnh Thị M số
tiền 150.000.000đồng tiền lãi 12.995.000đồng. Tổng cộng 162.995.000đồng
(Một trăm sáu mươi hai triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền i của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015.
2. Về chi phí thẩm định: Là 1.400.000đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng);
Huỳnh Thị M tự nguyện chịu toàn bộ số tiền này; do M đã nộp tạm ứng
trước và đã chi phí xong, vì vậy bà không phải nộp.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Huỳnh Thị M không phải chịu án phí thẩm. Đối với số tiền
4.100.000đồng (Bốn triệu một trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu
tiền số 0019656, nộp ngày 16 tháng 11 năm 2023 do Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Càng Long thu được trả lại cho M.
Ông Trần Hữu P nghĩa vụ nộp 8.149.700đồng (Tám triệu một trăm bốn
mươi chín nghìn bảy trăm đồng).
6
Các đương sự quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà
do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc
được niêm yết ”.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Trà Vinh;
- VKSND huyện Càng Long;
- Chi cục THADS;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
ễn Thành Công Nguyễn Hữu
Phƣớc
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đ(Dd(gggggg (Đã ký
(Đã ký)
(
Nguyễn Thị Tuyết Thanh
Nguyễn Thị Tuyết Thanh
Tải về
Bản án số 15/2024/DS-ST Bản án số 15/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2024/DS-ST Bản án số 15/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất