Bản án số 88/2026/HS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 88/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 88/2026/HS-PT ngày 28/05/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 88/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Văn Đ - Cố ý gây thương tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 88/2026/HS-PT Bản án số 88/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 88/2026/HS-PT Bản án số 88/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 88/2026/HS-PT
Ngày: 28/5/2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên t: Ông Nguyễn Ngọc Chung
Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Chuyền, ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư phiên toà: Ông Chu Quang Duy - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T- Kiểm
sát viên trung cấp.
Ngày 28/6/2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm
công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 121/2026/TLPT-HS ngày 01/4/2026 đối
với bị cáo Nguyễn Văn Đ, do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ đối với bản án
hình sự thẩm số 62/2026/HSST ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 -
Bắc Ninh, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 258/2026/QĐXXPT-HS ngày
15/5/2026.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983. HKTT: Tổ dân phố T, phường H, tỉnh Bắc
Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới
tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh
năm 1957 bà Nguyễn Thị Q ã chết); Gia đình 03 anh em, bị cáo con th
hai; Vợ Trần Thị N, sinh năm 1982; Con: 02 con; con lớn sinh năm 2009, con
nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án số 03/HSST ngày 27/01/2000, Đông bTòa án nhân dân
huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xphạt 10 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách 24 tháng vtội Trộm cắp tài sản của hội chủ nghĩaquy định tại
khoản 1 Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 1985 (thời điểm phạm tội Đông 16 tuổi 3
tháng). Đ đã nộp án phí HSST, chưa bồi thường trách nhiệm dân sự.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi trú” từ ngày 04/11/2025. (Có
mặt tại phiên tòa).
2
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật Nguyễn Xuân D Công ty L1, Đoàn
luật sư thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: Số F P, K, Hà Nội.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970
Địa chỉ: Thôn X, xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn X, xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1983
Địa chỉ: TDP T, phường H, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)
3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1952
Địa chỉ: TDP T, phường H, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung ván
được tóm tắt như sau:
Năm 2003, ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1957, HKTT: Tổ dân phố T, phường
H, tỉnh Bắc Ninh tách thửa đất diện tích 85m
2
trên tổng diện tích đất của ông Đ1 hơn
500m
2
tổ dân phố T, phường H, tỉnh Bắc Ninh để bán cho Trần Thị Bích L.
Ngày 19/01/2004, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 2103 cho h Trần Thị Bích L được quyền sử dụng
85m
2
đất tại thửa đất số 50, tbản đsố 03, địa chỉ: tổ dân phố T, phường H, tỉnh
Bắc Ninh. Khoảng tháng 04/2021, bà L chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Nguyễn
Văn P và bà Lê Thị C (vợ ông P). Ngày 22/4/2021, Chi nhánh Văn phòng Đăng kí đất
đai thành phố B hoàn thiện hồ sơ chuyển nhượng thửa đất số 50, tờ bản đồ số 03, diện
tích 85m
2
từ bà L cho vợ chồng ông P, C. Sau khi mua thửa đất trên, ông P chưa
có nhu cầu sử dụng nên không tiến hành xây dựng trên thửa đất này.
Nguyễn Văn Đ (là con ông Đ1) cho rằng việc mua bán thửa đất trên không
đúng quy định nên phần 85m
2
đất mang tên ông P vẫn thuộc quyền quản của gia
đình Đ nên đã tự ý sử dụng các tấm tôn quây kín thành hàng rào, cửa ra vào phía
giáp đường Q (hướng phường H đi cầu Hồ). Phía bên trong thửa đất Đông sử dụng để
chứa nhiều hàng phế liệu như thanh sắt, chai, lọ nhựa, tấm kính... (Do bản thân Đ làm
nghề thu mua phế liệu). Ông P đã nhiều lần yêu cầu Đ tháo dỡ dọn dẹp toàn bộ hàng
rào và tài sản trên thửa đất để trả lại mặt bằng cho ông P nhưng Đ không đồng ý. Sau
đó ông P đã gửi đơn tố cáo hành vi trên của Đ đến UBND phường H UBND thành
phố B. Ngày 20/3/2024, UBND thành phố B ra thông báo số 44/TB-UBND về việc
kết luận của Chủ tịch UBND thành phố B tại buổi họp nghe báo cáo kết quả, đôn đốc
tiến độ bàn tháo gỡ kkhăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết đơn thư trên
địa bàn thành phố B trong đó có nội dung “Đơn của ông Nguyễn Văn P L, huyện
3
T, tỉnh Bắc Ninh, giao Ủy ban nhân dân phường H thông báo cho hộ ông Nguyễn
Văn Đ tháo dỡ, di chuyển tài sản trên đất của ông Nguyễn Văn P. Đồng thời, tổ chức
lực lượng hỗ trợ ông Nguyễn Văn P quây lại phần diện tích đất của gia đình xong
trong tháng 3/2024”.
Ngày 26/3/2024, UBND phường H tổ chức buổi làm việc liên quan đến thửa đất
số 50, tờ bản đồ số 03, diện tích 85m
2
địa chỉ tại khu T, phường H, thành phố B, tỉnh
Bắc Ninh với đầy đủ thành phần tham gia sự mặt của Đ ông P, tại buổi làm
việc Đ không ký vào biên bản. Cùng ngày, UBND phường H ra thông báo số 25/TB-
UBND “Yêu cầu gia đình ông Đ phải tự tháo dỡ và di chuyển toàn bộ tài sản, vật liệu
ra khỏi thửa đất số 50, tờ bản đồ số 03 để không gây cản trở việc sử dụng đất của hộ
gia đình ông P. Thời hạn thực hiện xong trước ngày 29/3/2024. Giao công chức địa
chính, xây dựng phường đôn đốc hộ ông Nguyễn Văn Đ thực hiện thông báo”.
Đến khoảng 08 giờ 55 phút ngày 29/3/2024, ông P cùng anh Hoàng Tiến M,
sinh năm 1977, anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1981, anh Nguyễn Xuân S, sinh năm
1987 và anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1987 là người cùng T, tỉnh Bắc Ninh đến
thửa đất. Sau đó, ông Nguyễn Văn H1 (chồng L), sinh năm 1972 cùng anh Nguyễn
Tuấn A, sinh năm 1983 anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1983 (anh Tuấn A anh
C2 cháu ông H1) cùng đến thửa đất để hỗ trợ ông P tháo dỡ tài sản do Đ xây dựng
trái phép trên thửa đất của ông P, bà C. Quá trình nhóm ông P tháo dỡ những tấm tôn
hàng rào mặt tiền (hướng ra Quốc lộ C cũ) của thửa đất tĐ đứng bên ngoài chửi
bới đuổi nhóm ông P. Sau khi dỡ được 03 tấm tôn, ông P anh V đi vào bên
trong thửa đất. Sau đó, Đ đi về nhà lấy 01 con dao (dạng dao chặt xương) dài 38cm,
cán bọc bằng gỗ màu nâu dài 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm, bản rộng
nhất 8cm cầm trên tay phải chửi bới dọa chém nhóm tháo dỡ bên ngoài (gồm:
anh S, anh Tuấn A, anh M...). Thấy vậy, cả nhóm bên ngoài shãi bỏ chạy ra ngoài
đường thì Đ cầm con dao đi vào bên trong thửa đất. Lúc này, ông P đang cùng anh V
đứng phần đầu của thửa đất tnghe tiếng chửi “Địt mẹ mày, tao giết mày”, ông P
quay lại thì thấy Đ cách vị trí ông P khoảng 4m trên tay phải cầm 01 con dao chạy
đến vị tông P. Thấy vậy, anh V và ông P bỏ chạy về phía cuối thửa đất, khi ông P
chạy được khoảng 2m thì bị trượt chân ngã nghiêng bên phải vào đống phế liệu (ông
P nằm nghiêng bên phải, đầu hướng Quốc lộ C (mới), hai chân hướng về thửa đất),
ông P quay đầu nhìn thì thấy Đ tiến lại gần đứng cách ông P khoảng 50cm. Lúc
này, Đ cầm con dao trên tay phải lên chém phần sống dao 01 nhát theo hướng từ
trên phần mặt trong đầu gối trái của ông P. Khi ông P co người lại, tay trái dơ lên che
mặt thì Đ dùng sống dao chém 02 nhát theo hướng từ trên xuống vào phần lưng và
sườn trái ông P, sau đó Đ dừng lại không chém ông P nữa và quay sang nhìn anh V
(lúc này anh V đứng cách vị trí ông P và Đ khoảng 5m). Thấy vậy, ông P ngồi dậy bỏ
chạy về phía sau thửa đất rồi vòng ngược qua nhà “Quý Mèo” để đi ra khu mặt tiền
thửa đất, ông P bị nhiều vết sây sát trên cơ thể. Đ tiếp tục cầm con dao đi ra mặt trước
4
thửa đất đứng chửi bới không cho mọi người tháo dỡ các tấm tôn trên thửa đất. Sau
đó, lực lượng Công an phường H, thành phố B đến giải quyết vụ việc. Hậu quả, ông P
bị thương được anh C1 đưa đi cấp cứu, điều trị từ 29/3/2024 đến 01/4/2024 thì ra
viện.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B nhận được đơn trình
báo của ông Nguyễn Văn P về việc ông P bị Nguyễn Văn Đ dùng dao chém gây
thương tích.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 con dao dài 38cm, chuôi gỗ màu nâu dài 15cm, lưỡi dao bằng kim loại màu
đen dài 23cm, bản rộng nhất 8cm.
- Mẫu máu của ông Nguyễn Văn P.
- Mẫu tóc của ông P và Nguyễn Văn Đ.
- 05 đoạn video liên quan đến nội dung vụ việc (được lưu trong 03 đĩa DVD).
* Về kết luận giám định:
- Tại giấy chứng nhận thương tích số 102/KH ngày 29/4/2024 của Bệnh viện đa
khoa tỉnh B: Tình trạng thương tích của ông Nguyễn Văn P lúc vào viện: Sưng nề
đỉnh đầu trái kích thước (2x2) cm. Sây sát da gò má phải kích thước (4x0,5) cm; giữa
trán, cung mày kích thước (2x0,3) cm; Sây sát kèm sưng nề cổ, ức đòn phải kích
thước (2x2) cm, ức đòn trái kích thước (1x1) cm; 02 vết bầm tím m y sát da
dọc vùng lưng trái kích thước (10x1) cm, (11x1) cm và 01 vết ngang lưng kích thước
(10x1) cm; Sây sát da dạng trà sát khuỷu, cẳng tay phải kích thước (10x3) cm; sây sát
da mu tay hai bên; Sây sát da khuỷu phải, mặt sau cánh tay phải; Sây sát da cánh tay
phải kích thước (3x2) cm vị trí 1/3 dưới vùng trước ngoài cánh tay phải; Sây sát da
cẳng tay phải kích thước (15x3) cm; Sây sát da sưng nề gối trái kích thước (7x2) cm;
gối phải kích thước (3x2) cm; Sây sát da vùng sau vai phải kích thước (4x2) cm.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 83/KLTTCT-
PYQG ngày 18/6/2024 của V1 kết luận:
1. Các kết quả chính: 01 vết biến đổi sắc tố da phải; 01 vết biến đổi sắc
tố da vùng khuỷu phải; 02 vết biến đổi sắc tố da bàn tay phải; 02 vết biến đổi sắc tố
da cẳng tay phải; Sẹo vùng bả vai phải kích thước nhỏ; Sẹo gối phải kích thước nhỏ;
01 vết biến đổi sắc tố da vùng khuỷu trái. 01 vết sẹo cánh tay trái, nằm sát mỏm
khuỷu kích thước nhỏ; 01 vết biến đổi sắc tố da mu bàn tay trái; Sẹo mu bàn tay trái
kích thước nhỏ; Gãy cung sau xương sườn 11 bên trái; Các vết bầm tím, sưng nề
khác trên cơ thể hiện không còn dấu tích.
2. Kết luận:
+ Căn cứ Thông số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ
phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định y tâm thần,
xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn P tại thời điểm giám định
: 10% (Mười phần trăm), áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư.
5
+ chế: Các thương tích của Nguyễn Văn P do vật tày vật tày cạnh tác
động gây nên.
+ Vật gây thương tích: Không sở xác định con dao gửi đến giám định
vật gây thương tích cho Nguyễn Văn P.
* Tại văn bản số 423/PYQG-của V1 xác định: 01 vết biến đổi sắc tố da
phải, xếp tỷ lệ: 0,5%; 01 vết biến đổi sắc tố da vùng khuỷu phải, xếp tỷ lệ: 0,5%;
02 vết biến đổi sắc tố da bàn tay phải, xếp tỷ lệ: 0,5%; 02 vết biến đổi sắc tố da cẳng
tay phải, xếp tỷ lệ: 0,5%; Sẹo vùng bả vai phải kích thước nhỏ, xếp tỷ lệ: 01%; Sẹo
gối phải kích thước nhỏ, xếp tỷ lệ: 01%; 01 vết biến đổi sắc tố da vùng khuỷu trái:
0,5%; 01 vết sẹo cánh tay trái, nằm sát mỏm khuỷu kích thước nhỏ: 01%; 01 vết biến
đổi sắc tố da mu bàn tay trái: 0,5%; Sẹo mu bàn tay trái kích thước nhỏ: 01%; Gãy
cung sau xương sườn 11 bên trái: 02%.
+ chế: Các thương tích do sự tác động tương hỗ giữa vật và cơ thể nạn nhân
gây nên. Không xác định được vật tác động vào thể hay thể tác động vào vật
gây thương tích.
+ Không sxác định các đồ vật tại hiện trường xảy ra sự việc vật nào
gây thương tích cho Nguyễn Văn P.
* Tại bản kết luận giám định số 1260/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K
Công an tỉnh B kết luận: Trên 01 con dao gửi giám định không bám dính máu
người.
* Tại bản kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K
Công an tỉnh B kết luận:
+ Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp
video mẫu cần giám định.
+ Kèm theo kết luận giám định: Bản ảnh gồm 06 ảnh.
- Tại bản kết luận giám định số 1371/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K
Công an tỉnh B kết luận:
+ Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video
mẫu cần giám định.
+ Đã trích xuất 05 ảnh trong tệp video mẫu cần giám định (chi tiết thể hiện
trong bản ảnh giám định).
* Tại bản kết luận giám định số 1635/KL-KTHS ngày 07/7/2024 của Phòng K
Công an tỉnh B kết luận:
+ Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp
video mẫu cần giám định.
+ Đã trích xuất 04 bản ảnh trong 02 tệp video mẫu cần giám định (chi tiết thể
hiện trong bản ảnh giám định).
6
Ngày 25/7/2024, quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định
trưng cầu giám định số 2062 trưng cầu V2 Bộ C4 giám định trên con dao gửi giám
định có ADN của Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn Đ hay không.
Ngày 28/02/2025, quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bàn giao hồ
sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.
* Ngày 23/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B nhận được kết luận
giám định số 5179 ngày 27/8/2024 của V2 Bộ C4 kết luận:
+ Trên lưỡi dao gửi giám định có ADN của Nguyễn Văn P.
+ Không phát hiện thấy ADN của Nguyễn Văn Đ trên lưỡi dao gửi giám định.
(BL 285-286
- Ngày 13/8/2025, V2 Bộ C4 văn bản giải thích nội dung kết luận giám
định số 5179:
+ Quá trình giám định dấu vết trên lưỡi con dao gửi giám định, giám định viên
đã quan sát (bằng mắt thường, kính hiển vi) trên toàn bộ bề mặt lưỡi dao không
thấy dấu vết đặc biệt; Tiến hành thử định hướng xác định dấu vết nghi máu (nếu
có) trên bề mặt lưỡi dao, kết quả: Âm tính. Sau đó, giám định viên lau toàn bộ bề
mặt lưỡi dao bằng tăm bông khuẩn để thu dấu ADN. Qua kết quả phân tích
kiểu gen từ dấu vết thu được, V2 kết luận: Trên lưỡi dao gửi giám định ADN
của Nguyễn Văn P, không phát hiện thấy ADN của Nguyễn Văn Đ. Dấu vết ADN tồn
tại trên bmặt lưỡi dao dạng vi vết, không đủ sở để xác định dấu vết ADN này
từ loại dịch, mô (tổ chức) cơ thể nào.
+ Để xác định con dao thể gây ra thương tích nào trên thể của Nguyễn
Văn P phải căn cứ vào nghiên cứu con dao, hồ sơ bệnh án, quá trình điều trị và khám
giám định trực tiếp trên cơ thể Nguyễn Văn P.
+ Với nội dung câu hỏi trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B cần tiến
hành trưng cầu giám định thì V2 mới sở tiến hành nghiên cứu, giám định
ban hành kết luận giám định đảm bảo giá trị pháp lý.
* Tại biên bản làm việc ngày 07/11/2025 xác định: Theo nội dung yêu cầu giám
định xác định dấu vết nghi vấn bám dính trên phần lưỡi của con dao gửi giám định
(toàn bộ bề mặt phần kim loại của con dao, là phần được niêm phong kín), sau khi sử
dụng các thiết bị, phương tiện nhưng không xác định được cụ thể vị trí của dấu vết
nghi vấn trên lưỡi dao, các giám định viên đã tiến hành lau toàn bộ bề mặt lưỡi dao
(toàn bộ bề mặt phần kim loại: cả phần sống dao, phần lưỡi sắc, phần mũi dao
phần thân lưỡi dao) bằng tăm bông vô khuẩn để thu dấu vết ADN.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số 8838/KL-
KTHS ngày 24/11/2025 của V2 Bộ C4 kết luận:
1. Các kết quả chính:
+ Vùng lưng, sườn bên trái, mặt trước, trong gối trái không còn dấu vết thương
tích.
7
+ Con dao gửi giám định: Phần lưỡi dao đặc điểm của vật sắc, phần sống
sao và các phần còn lại của con dao có đặc điểm của vật tày và vật tày có cạnh.
2. Kết luận:
+ Vùng lưng, sườn bên trái, mặt trước trong gối trái của anh Nguyễn Văn P
không còn dấu vết thương tích nên không sxác định phần sống dao của con
dao gửi giám định gây ra thương tích tại mặt trước, trong đầu gối trái, vùng lưng
và vùng sườn bên trái của anh Nguyễn Văn P ngày 29/3/2024 hay không.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ông P yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường stiền 20.000.000 đồng (Hai mươi
triệu đồng) bao gồm tiền viện phí, thuốc, tổn thất sức khỏe, tinh thần. Hiện Đ chưa
bồi thường cho ông P.
Với nội dung trên, Cáo trạng s54/CT-VKS-KV6 ngày 19/12/2025 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 6 Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn Đông về tội “Cố ý
gây thương tích” theo điểm a, khoản 1, Điều 134 BLHS.
Với nội dung trên bản án hình sự thẩm số 62/2026/HSST ngày 30/01/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6 - tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và quyết định:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2.Về hình phạt:
- Áp dụng Điểm a, Khoản 1, Điều 134; Điểm i Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều
38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt
bị cáo để thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự;
Điều 7 Nghị quyết 02 ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị
định 293/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn P
số tiền 14.844.661 đồng.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 03/02/2026, bị cáo Nguyễn Văn Đ
đơn kháng cáo kêu oan.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Đ cho rằng bị cáo không chém anh P như bị hại
khai tại quan điều tra tại phiên toà hôm nay. Do bức xúc bị hại cho người đến
tháo dỡ chắn tôn của gia đình bị cáo nên bị cáo sợ mọi người sẽ đánh bị cáo, nên bị
cáo đã chạy vào bếp lấy một con dao cầm tay phải đuổi những người đến tháo dỡ.
Khi bị cáo đuổi thì mọi người chạy hết ra ngoài đường, bị cáo quay lại thấy bị hại
một người nữa vẫn còn trong khu vực đất nhà bcáo. Do vậy bcáo tay cầm dao
chạy vào, do bị hại sợ lên lùi xuống và ngã vào đống phế liệu của gia đình bị cáo, sau
đó mọi người chạy ra ngoài. Bị cáo xác định bị cáo không chém bị hại và cũng không
8
đuổi đánh anh V. Vết thương tích trên người bị hại là do bị hại ngã vào đống phế liệu
gây ra. Trong quá trình cãi, chửi nhau bị cáo và bị hại không có sự giằng co với nhau.
Do bị cáo không chém bị hại, nên bị cáo không có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
Đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến đối với các bản kết luận giám
định quan điều tra đã thông báo cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo xác định các vết
thương của anh P ttrước khi xảy ra sự việc, đã khô không phải do bị cáo gây
ra. Bị cáo không dùng dao chém anh P. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Tại phiên toà hôm nay bị hại mặt trình bày: Khoảng tháng 4/2021, ông
mua lại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 03 của chị Trần Thị Bích L, đã hoàn tất thủ tục
chuyển nhượng. Do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông bỏ trống thửa đất. Nguyễn Văn
Đ đã hành vi quây hàng rào tôn trước mặt tiền thửa đất, trồng cây lâu năm làm
nơi tập kết phế liệu. Ông nhiều lần yêu cầu Đ trả lại mặt bằng nhưng Đ không nghe
nên ngày 7/12/2021 anh khởi kiện ra TAND thành phố Bắc Ninh được hướng dẫn
đến UBND thành phố B giải quyết.
UBND phường H lập biên bản làm việc: yêu cầu Đ phải tháo dỡ, di dời trước
ngày 29/3/2024 nhưng Đ chưa tháo dỡ. Ngày 29/3/2024, ông cùng Nguyễn Văn V,
Hoàng Anh M1, Nguyễn Xuân S, Nguyễn Xuân C3, Nguyễn Văn M2 đến tháo dỡ các
tấm tôn trên phần đất tranh chấp.
Khi tháo d, Nguyễn Văn Đ đứng va hè chi bi sau đó chy v nhà ly 01
con dao, cm bng tay phi và giơ lên lao v phía nhóm anh. Khi cách khong 03m
thì anh b chy và b vp ngã xung đống st phế liu. Đ chạy đuổi theo ông ch
khoảng 01m, Đông chém ông 0 nhát, Đ cầm con dao trên tay phải lên chém phần
sống dao 01 nhát theo hướng ttrên xuống vào phần mặt trong đầu gối trái của ông
P. Khi ông P co người lại, tay trái lên che mặt thì Đ dùng sống dao chém 02 nhát
theo hướng từ trên xuống vào phần lưng sườn trái ông P. Quá trình chém ông P
thấy Đ sdụng phần sống dao để chém chứ không dùng phần lưỡi dao. Sau đó ông
vùng dậy và bỏ chạy được thì anh Đ tiếp tục đuổi anh Nguyễn Văn V. Khi ông và anh
V bỏ chạy ra ngoài thì Đ không đuổi nữa. Ông xác định bản án sơ thẩm xử bcáo
đúng người, đúng tội và diễn biến sự việc xảy ra và ông không có ý kiến gì thêm.
Nguyễn Thị H mặt tại phiên toà trình bày: Khoảng 8 giờ 45 phút ngày
29/3/2024 khi đang cân bìa phế liệu phía sau nĐ thấy có chửi bới tại bãi đất
trống đang quây tôn, bà H ra nhìn thấy Đ đang cầm trên tay phải 01 con dao dạng dao
rựa, lưỡi sắt chuôi gỗ đuổi theo 2 người đàn ông (sau này biết ông P anh V),
ông P và anh V bỏ chạy, anh V chạy trước ông P, ông P bị vấp ngã ngay đầu dốc, ngã
vào đống phế liệu dưới đất. Đ cầm dao khua về phía lưng ông P đang nằm ngang
khoảng 2, 3 nhát, việc có trúng hay không bà H không nhìn rõ. Sau đó ông P bỏ chạy.
Trong quá trình đó bà nhìn thấy Đ cầm dao khua về phía trước anh P, bà có bảo với Đ
là đừng chém người mà vi phạm pháp luật.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi
phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do
9
bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa
ra đề nghị xem xét các vấn đkháng cáo bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị
HĐXX.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự thẩm
số 60/2026/HSST ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - tỉnh Bắc Ninh
đã tuyên.
- Áp dụng Đ2 a Khoản 1 Điều 134; Điểm i Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38
Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 (Mười) tháng về tội “Cố ý gây
thương tích”; Thời hạn tính từ ngày bị cáo tnguyện hoặc bắt bị cáo để thi hành
án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự; Điều
7 Nghị quyết 02 ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị định
293/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn P
14.844.661 đồng; bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự
sơ thẩm và 742.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí hình sphúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng
án phí hình sự phúc thẩm.
*Luật bảo chữa cho bị cáo trình bày bảo chữa: Luật không nhất trí với bài
phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Đề nghị hội đồng xét xxem
xét các lỗi vi phạm trong quá trình điều tra vụ án như: Các biên bản hỏi cung bị can
tại cơ quan điều tra thường bỏ trống tại trang cuối của biên bản hỏi cung, biên bản ghi
lời khai của Kiểm sát viên tiến hành đối với ông P không ghi ngày, tháng chỉ ghi
năm. Việc lấy lời khai của 1 số người làm chứng chỉ duy nhất lấy một lời khai. Lời
khai của bị hại tại quan điều tra sự mâu thuẫn nhau về thế ngã. Ngoài ra
quan điều tra không điều tra xem xét hành vi huỷ hoại tài sản của nhóm anh P. ng
như trong quá trình điều tra quan điều tra vi phạm trong thực nghiệm điều tra
không bị cáo tham gia cùng (cụ thể vết thương đầu gối 2 vết thương sau lưng
anh P) mục đích để xem vết thương đó như thế nào. Tại giấy chứng thương không
xác định vết thương gẫy xương sườn số 11, nhưng tại kết luận giám định lại xác
định vết thương gẫy xương sườn số 11. Kết luận giám định xác định ADN của
anh P trên con dao. Tuy nhiên KLGĐ cũng không xác định được ADN đó tồn tại trên
bề mặt tloại dịch, như nào. Từ phân tích trên, Luật đề nghị hội đồng xét xử
áp dụng các Điều 13, Điều 15; Điều 85; Điều 87; Điều 157; Điều 172; Điều 204;
Điều 358; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự. Huỷ bản án hình sthẩm để điều tra
lại hoặc đình chỉ vụ án.
*Bị cáo nhất trí với bài bảo chữa của Luật không ý kiến trình bày
thêm.
10
* Viện kiểm sát đối đáp với ý kiến tranh luận của Luật sư bảo chữa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh khẳng định bản án thẩm đã
xét xử đối với bị cáo Đ về tội Cố ý gây thương tích theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật
Hình sự căn cứ. Tại phiên toà bị cáo không nhận thương tích của bị hại do bị
cáo gây ra, tuy nhiên bị cáo khai nhận đã cầm dao đuổi theo ông Nguyễn Văn P, ông
P chạy và bị ngã. Bị cáo không thừa nhận việc cầm dao chém vào người ông P và các
vết thương trên người ông P do bị cáo gây ra. Căn cứ các bản kết luận giám định,
biên bản làm việc nhận thấy trên bmặt phần lưỡi con dao Đ sử dụng AND
của ông P; toàn bộ quá trình xảy ra sự việc chỉ một mình Đ sdụng con dao, ông
P không giằng co, cầm, nắm.. con dao. Ngoài ra Luật sư cho rằng các một số biên bản
ghi lời khai của bị cáo thường bỏ trống c trang. Tuy nhiên Luật sư không đưa ra tài
liệu nào chứng minh cho việc quan điều tra thêm bớt nội dung trong các biên bản.
Việc quan điều tra chỉ lấy lời khai người làm chứng một bản chưa triệt để
nhưng nội dung các biên bản được tiến hành đã phù hợp với diễn biến sự việc xảy ra
TAND tỉnh Bắc Ninh đã triệu tập những người làm chứng này tham gia phiên toà
phúc thẩm để đảm bảo theo quy định của pháp luật. Việc Luật sư cho rằng có việc bỏ
lọt hành vi huỷ hoại tài sản của ông P. Tại bản kết luận điều tra; Cáo trạng; Bản án sơ
thẩm đã thể hiện do bị hại đến tháo dcông trình đã được UBND phường làm
việc yêu cầu Đ phải tháo dỡ trước ngày 29/3/2024 nhưng bị cáo không thực hiện,
nếu bị cáo Luật bào chữa cho bị cáo tài liệu chứng cứ chứng minh việc ông
P hành vi huỷ hoại tài sản thì thể làm đơn, cung cấp tài liệu cho quan điều
tra để giải quyết theo quy định của Pháp luật. Việc thực nghiệm điều tra để làm rõ các
vết thương của bị hại, quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra nhưng
không bị cáo tham gia thực nghiệm bị cáo không nhận tội. Vụ việc này không
thuộc trường hợp phải dựng lại hiện trường ngay sau khi sự việc xảy ra quan
điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường đảm bảo theo đúng quy định của pháp
luật. Kết luận giám định xác định bị hại gẫy xương sườn số 11 các vết thương
khác nhận thấy bị cáo đã nhận được các thông báo vkết luận giám định nhưng bị
cáo không khiếu nại gì; tại phiên toà bị cáo xác định giữa bị cáo bị hại trong
quá trình xô sát không có việc giằng co, ôm nhau do đó có thể khẳng định việc bị cáo
đã dùng dao chém vào vùng thể của bị hại nên mới dấu vết AND như kết luận
giám định đã nêu. Từ những phân tích trên, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên các
nội dung tại bài phát biểu vừa trình bầy tại phiên toà; việc Luật đề nghị Huỷ bản
án sơ thẩm để điều tra bổ xung là không có căn cứ nên không chấp nhận.
Các bên không có đối đáp gì thêm và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và
đối đáp.
Bị hại nhất trí với bài phát biểu của Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo. Bị cáo
không dùng dao chém bị hại.
11
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn
Đ nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp
cần được chấp nhận để xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xthẩm tại phiên tòa hôm nay bị cáo
không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên lời khai của bị o tại các BL 325, 327,
332, 336 và các lời khai tiếp theo bị cáo đều thừa nhận nội dung bị cáo cầm dao đuổi
đánh anh P, anh P bỏ chạy bị ngã vào đống sắt phế liệu. Bị cáo không thừa nhận
việc cầm dao chém vào người anh P các vết thương trên người anh P không phải
do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, tại kết luận giám định số 5179 ngày 27/8/2024 của V2
Bộ C4 kết luận: “+ Trên lưỡi dao gửi giám định có ADN của Nguyễn Văn P”. Căn
cứ bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số 83/KLTTCT-PYQG
ngày 18/6/2024 của V1; bản kết luận giám định số 1260/KL-KTHS ngày 27/5/2024
của Phòng K Công an tỉnh B; bản kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày
31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; bản kết luận giám định số 1635/KL-KTHS
ngày 07/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; kết luận giám định số 5179 ngày
27/8/2024 của V2 Bộ C4; bản kết luận giám định tổn thương thtrên người sống
số 8838/KL-KTHS ngày 24/11/2025 của V2 Bộ C4, lời khai của bị hại Nguyễn Văn
P phù hợp với lời khai của những người làm chứng là bà H tại phiên toà hôm nay;
Lời khai của những người làm chứng khác như anh Tuấn A, anh V, phù hợp với các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. HĐXX thấy có
cơ sở kết luận:
Khoảng 8 giờ 55 phút ngày 29/3/2024, tại thửa đất số 50, tbản đồ số 03 thuộc
khu T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay tổ dân phố T, phường H, tỉnh
Bắc Ninh), Nguyễn Văn Đ hành vi cầm 01 con dao dài 38cm, chuôi gỗ màu nâu
dài 15cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 23cm, bản rộng nhất 8cm đuổi theo
ông Nguyễn Văn P và anh Nguyễn Văn V đang đứng ở trong thửa đất. Thấy vậy, anh
V ông P chạy về phía cuối thửa đất thì ông P bị ngã vào đống phế liệu, sau đó Đ
dùng sống dao chém 03 nhát vào vùng mặt trong đầu gối trái, vùng lưng, sườn trái
ông P. Hậu quả, ông P bị thương ch với tỷ lệ tổn thương thể 10%. Tại phiên toà
hôm nay, Luật sư đề nghị hội đồng xét xử Huỷ bản án hình sự sơ thẩm để trả hồ
điều tra bổ xung và đình chỉ vụ án là không có căn cứ chấp nhận.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe
của người khác được pháp luật bảo vệ. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có đầy
12
đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình vi
phạm pháp luật, mặc dù chỉ có mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo có hành vi dùng dao là hung
khí nguy hiểm đuổi đánh anh Nguyễn Văn P, khiến anh P hoảng sợ, bỏ chạy ngã
gây thương tích. Điều này thhiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ của
người khác của bị cáo.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương
tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp
dùng hung khí nguy hiểm). Do đó, bản án thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây
thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc
trường hợp dùng hung khí nguy hiểm) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp
luật, không oan.
[4] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị cáo Nguyễn Văn Đ:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý hình sự, nay bị cáo tiếp
tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy bị cáo là người không chịu rèn luyện, không
chấp hành pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo cung cấp
xác nhận có thời gian bị cáo tham gia quân ngũ, bị cáo có bố đẻ là thương binh nên bị
cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2, Điều 51
Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Bản án thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi
của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 tháng tù về tội “Cố ý gây
thương tích” hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị
cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa thẩm, ông Nguyễn Văn P đề nghị bị cáo bồi thường số tiền
20.000.000 đồng (hai ơi triệu đồng) gồm tiền viện phí, thuốc men, tổn thất sức
khỏe, tinh thần. HĐXX đã căn cứ các hóa đơn chứng tdo ông P cung cấp trong
hồ sơ vụ án, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn P tổng
số tiền là 14.844.661 đồng gồm: Chi pkhám bệnh, chữa bệnh ông P cung cấp hóa
đơn 2.053.303 đồng; Chi phí bồi dưỡng sức khỏe trong 3 ngày nằm viện
(29/3/2024 đến 01/4/2024) = 4.730.000 đồng / 26 x 3 = 545.769 đồng; Thu nhập thực
tế bị mất: 4.730.000 đồng / 26 x 3 = 545.769 đồng; Thiệt hại tổn thất tinh thần bằng 5
lần tháng lương cơ sở = 11.700.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 590
13
Bộ luật Dân sự; Điều 7 Nghị quyết 02 ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán
TAND tối cao; Nghị định 293/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ quy định mức
lương tối thiểu vùng. Tại phiên toà Phúc thẩm m nay bị hại không ý kiến về
phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm. Bị cáo không thừa nhận chém anh P nên
không trách nhiệm bồi thường. Hội đồng xét xử xét thấy bản án thẩm đã giải
quyết về phần trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng Pháp luật.
[6]. Xử lý vật chứng:
Đối với 01 con dao dài 38cm, chuôi gỗ màu nâu dài 15cm, lưỡi dao bằng kim
loại màu đen, bản rộng nhất 8cm không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì
mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên Hội đồng xét xử thấy không
có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm
đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Bắc Ninh tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự thẩm, án phí
dân sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cvào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bcáo Nguyễn Văn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự
thẩm số 62/2026/HSST ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - tỉnh
Bắc Ninh.
1.1.Về hình phạt:
- Áp dụng Đ2 a Khoản 1 Điều 134; Điểm i Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38
Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 (Mười) tháng về tội “Cố ý gây
thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bắt để thi hành án.
1.2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự;
Điều 7 Nghị quyết 02 ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị
định 293/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn P
số tiền 14.844.661 đồng (Mười bốn triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm u
mươi mốt ngìn) .
1.4.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao dài 38cm, chuôi gỗ màu nâu dài 15cm, lưỡi dao
bằng kim loại màu đen, bản rộng nhất 8cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 47 ngày 22/12/2025 giữa Công an tỉnh B
với Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Bắc Ninh).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
14
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự thẩm
742.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an
tỉnh Bắc Ninh
- Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- CA, VKS, TA khu vực 6- Bắc
Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo;
- Lưu HS, HCTP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Ngọc Chung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 88/2026/HS-PT Bản án số 88/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 88/2026/HS-PT Bản án số 88/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất