Bản án số 140/2026/HS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 140/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 140/2026/HS-PT ngày 18/09/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 140/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Do The H - Buôn bán hàng cấm và Vận chuyển hàng cấm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 140/2026/HS-PT
Ngày 18 9 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Thanh Gia
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng
Bà Đỗ Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Đỗ
Thị Hòa Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 172/2026/TLPT-HS ngày 03 tháng 8 năm
2026 đối với bị cáo Đỗ Thế H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự
thẩm số: 53/2026/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8
Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Thế H, sinh ngày 15/3/1987 tại tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân:
************; nơi trú: Làng S, I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm ng; trình
độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Đỗ Thế S, sinh năm 1958 Thị H1, sinh năm 1958; vợ: Vợ
thứ nhất tên Ngô Thị Bích H2, sinh năm: 1989 (đã ly hôn năm 2015) vợ thứ hai
tên Đặng Thị T, sinh năm 1989 (đã ly hôn năm 2017); con: Có 03 con, lớn nhất sinh
năm 2011 nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày
25/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt 12 tháng tù
về tội “ Chứa mại dâm” 21 tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm”, tổng hợp hình
phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội 33 tháng tù, bị cáo chấp
hành xong hình phạt vào ngày 22/3/2023 ã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm
giam từ ngày 01/01/2026 cho đến nay hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam
số 2 Công an tỉnh G. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có bcáo Dương Văn P không kháng cáo không bị kháng
cáo, kháng nghị.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/10/2025, Đỗ Thế H sử dụng
điện thoại di động số thuê bao 0963755444 gọi đến số thuê bao 0981818937 của
Dương Văn P nói “Có đi làm không”, tức là đi chở pháo hoa nổ; khi nghe H nói vậy
thì P đồng ý vì trước đó H đã thuê P đi chở pháo hoa nổ hai lần tại khu vực làng S,
xã I, tỉnh Gia Lai. H thỏa thuận với P mỗi chuyến P đi chở pháo hoa nổ cho H sẽ trả
cho P 1.000.000 đồng/chuyến. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H thấy P chạy xe mô
nhãn hiệu Sirius, màu xám đen, không gắn biển kiểm soát (chiếc xe này của H
đưa cho P trước đó) đến vườn khoai lang K3 thuộc làng S, H gặp đưa cho P số
tiền 15.000.000 đồng nói với P Giờ cầm tiền đi qua lấy hàng”, tức đi lấy pháo
hoa nổ, rồi chỉ vị trí cho P. Do trước đó trong quá trình đi làm rẫy tại khu vực làng
S, H đã gặp một người đàn ông tên Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Qua nói chuyện,
H biết người này có bán pháo hoa nổ, H đã đặt mua 48 hộp pháo với giá là 310.000
đồng/hộp, với tổng số tiền 15.000.000 đồng. H đưa cho P cầm số tiền dặn P
chạy đến gặp, đưa tiền cho người đàn ông này rồi chở pháo về. Theo hướng dẫn của
H, P đã chạy xe mô đi đến nhà lợp tole gặp người đàn ông để nhận pháo, còn H
đứng chờ P tại vị trí cũ. Sau khi đưa tiền, nhận 02 bao xác rắn màu trắng bên trong
48 hộp pháo hoa nổ, P cột lên xe chở về, khi đến gần tới T3 (cũ) của Đồn Biên
phòng I thuộc làng S thì gặp lực lượng tuần tra của I Công an I kiểm tra, bắt
quả tang và thu giữ tang vật gồm 48 hộp giấy kín giống nhau (nghi là pháo hoa nổ),
01 xe tô hiệu Yamaha Sirius, không biển kiểm soát và 01 điện thoại di động hiệu
Iphone XS. Thấy P bị bắt, H đã bỏ trốn và sống lang thang.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 16 giờ ngày 01/01/2026, H điều khiển xe biển
kiểm soát 81B1-262.21 đi đến rẫy điều của chị gái Đỗ Thị X thuộc khu vực làng S
với mục đích thăm rẫy giúp chị. Lúc này có một người đàn ông (chưa rõ nhân thân
lai lịch) đến gặp, nói chuyện với H một lúc rồi người đàn ông đó rời đi. Khoảng 17
giờ cùng ngày, người đó quay lại thuê H chở 40 hộp pháo đựng trong 04 bao nilon
màu đen chở về tại khu vực nghĩa địa thuộc làng S để giao cho một người (chưa rõ
nhân thân lai lịch) sau khi người này nhận pháo sẽ trả tiền công cho H 500.000
đồng, H đồng ý rồi đi đến vị trí người đàn ông chỉ, khiêng pháo cột lên xe chở về.
Đến khoảng 20 giờ 15 cùng ngày, H chở 40 hộp pháo đến khu vực đường mòn thuộc
làng S thì bị I Công an I bắt quả tang, lập biên bản thu giữ gồm: 40 hộp giấy
kín giống nhau (nghi pháo hoa nổ) 01 xe nhãn hiệu Sirius, biển kiểm
soát 81B1 – 262.21.
Tại Kết luận giám định số 730/KL-KTHS ngày 04/11/2025, Phòng K Công an
tỉnh G kết luận: 48 hộp giấy kín, bên ngoài mi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước
ngoài và chữ “KS4-4911- BILLION TIME - 49 SHOTS”, bên trong mi hộp đều
49 vật hình trụ dây nối liên kết với nhau đựng trong 02 bao xác rắn chuyển đến
giám định đều là pháo hoa nổ (pháo nổ), tổng khối lượng 83,2 kg.
3
Tại Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 08/01/2026, Phòng K Công an
tỉnh G kết luận: 40 hộp giấy kín, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước
ngoài chữ “KS4-49AB-Brilliant Bloom-49 SHOTS” bên trong mỗi hộp đều
49 vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đựng trong 02 xác rắn màu đen chuyển
đến giám định đều là pháo hoa nổ (pháo nổ), tổng khối lượng là 66,9kg.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã thu giữ:
- 28 hộp giấy, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ
“KS4 – 4911 - BILLION TIME - 49 SHOTS”, tổng khối lượng 48,5 kg, được niêm
phong trong 02 bao xác rắn màu trắng các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN
TỈNH GIA LAI - PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” các chữ ghi htên Nguyễn
Minh T1, Hồ Đình C và Trần Nhật H3 (sau giám định còn lại).
- 24 hộp giấy, bên ngoài mỗi hộp đều dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ
“KS4-49AB-Brilliant Bloom-49 SHOTS”, tổng khối lượng 40,0 kg, được niêm
phong trong 02 bao xác rắn màu đen các dấu hình tròn nội dung “CÔNG AN
TỈNH GIA LAI-PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ghi họ tên Nguyễn
Minh T1, Trịnh Thành N và Nguyễn Văn T2 (sau giám định còn lại).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại SIRIUS, không có biển kiểm soát, số
khung RLCUE710KY298805, số máy E3T6E447064; xe đã qua sử dụng,
không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong. Quá trình điều tra xác định chủ sở
hữu phương tiện đứng tên đăng chị Mah H U (sinh năm 1984; trú tại:
Làng C, I, tỉnh Gia Lai) nhưng chị H U đã bỏ đi khỏi địa phương, không biết đi
đâu, làm xe trên không phải vật chứng hoặc liên quan đến hành vi
phạm tội nào khác, H khai nhận đã mua lại nhưng không sang tên, đổi chủ giao
cho P để vận chuyển hàng cấm.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS, biển kiểm soát 81B1 - 262.21, số khung,
số máy bị hư hỏng, không xác định được; xe mô tô đã qua sử dụng, không kiểm tra
tình trạng máy móc bên trong. Quá trình điều tra xác định biển số xe mô 81B1 -
262.21 không phải của phương tiện trên, H khai nhận đã mua lại cuối năm 2024
để đi làm rẫy, không có giấy đăng ký xe và giấy tờ mua bán, đồng thời, phương tiện
bị hỏng số khung, số máy nên không xác định rõ chính chủ và H đã sử dụng để vận
chuyển hàng cấm.
- 01 điện thoại di động, vỏ màu vàng, hiệu Iphone XS; điện thoại đã qua sử
dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, được thu giữ trên người của P
được P sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên chuyển theo hồ sơ vụ án để xử
lý theo quy định.
Ngoài ra, H còn sử dụng điện thoại di động, sthuê bao 0963755444 để liên
lạc, trao đổi với P về việc vận chuyển pháo nổ nhưng đã làm rơi mất trong quá trình
bỏ trốn nên không thể truy tìm để xử lý theo quy định.
Tại Bản án hình sự thẩm s53/2026/HS-ST ngày 30/6/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 8 Gia Lai đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190, điểm g khoản 2 Điều
191, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo
4
H 07 năm 06 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận
chuyển hàng cấm”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung
của 02 tội là 10 năm tù. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt
bổ sung phạt tiền 20.000.000 đồng đối với bị cáo H, quyết định về phần hình phạt
đối với bị cáo Dương Văn P, phần xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và
quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10/7/2026, bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tại phiên toà,
bị cáo H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của
Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H,
sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo H, xử phạt bị cáo 06 năm tù về
tội “Buôn bán hàng cấm” 02 năm về tội “Vận chuyển hàng cấm”, tổng hợp
hình phạt buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ
sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 28/10/2025 tại khu vực đường mòn làng S,
I, tỉnh Gia Lai, Đỗ Thế H đã hành vi mua 48 hộp pháo hoa nổ với tổng khối lượng
83,2kg rồi thuê Dương Văn P vận chuyển số pháo nêu trên; khi đến gần tới T3
(cũ) của Đồn Biên phòng I thuộc làng S thì P bị lực lượng tuần tra của I và Công an
I kiểm tra, bắt quả tang thu giữ số hộp pháo nêu trên. Tiếp đến vào ngày
01/01/2026 tại làng S, xã I, tỉnh Gia Lai, H có hành vi vận chuyển thuê 66,9kg pháo
nổ trên xe mô tô nhằm mc đích lấy tiền công.
Hành vi buôn bán 83,2kg pháo nvào ngày 28/10/2025 của H đủ yếu tố cấu
thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật
Hình sự và hành vi vận chuyển thuê 66,9kg pháo nổ vào ngày 01/01/2026 của H đủ
yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191
của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 8 Gia Lai đã xét xử bị cáo Đỗ Thế H về các
tội Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự
“Vận chuyển hàng cấmtheo điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự
căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thế H, Hội đồng xét
xử phúc thẩm thấy rằng:
Bị cáo người đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi buôn bán, vận
chuyển pháo nổ (là hàng cấm) của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động trật tự quản
5
kinh tế, là hành vi vi phạm pháp luật nên cần phải xử tương xứng với hành vi
phạm tội của bị cáo.
Bị cáo nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về tội “Tàng trữ hàng cấm” (pháo
nổ) vào năm 2019 nay lại tiếp tục phạm tội với loại tội danh có liên quan đến hàng
cấm (pháo nổ); ngoài ra, khi bị bắt quả tang, kết quả kiểm tra qua phiếu test ma túy
ngày 28/10/2025 thì bị cáo dương tính với ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tại cấp phúc thẩm,
bị cáo các tình tiết giảm nhẹ mới như: Gia đình bị cáo cung cấp thêm giấy xác
nhận cha bị cáo ông Đỗ Thế S đã thời gian tham gia đóng quân tại biên giới
phía Bắc từ năm 1979 đến năm 1983, biên lai nộp tiền hình phạt bổ sung 20.000.000
đồng và án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo đã hai lần ly hôn, 03 con nhỏ lớn nhất sinh
năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2019 đều đang trong độ tuổi đi học; trước đó bị cáo
đang nuôi 02 con chung, có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của Ủy ban nhân dân
xã I, tỉnh Gia Lai). Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s
khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, tại cấp phúc thẩm, bị cáo phát sinh nhiều tình tiết giảm nhẹ mới quy
định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự chưa được Tòa án cấp thẩm xem
xét, bị cáo đã nộp đầy đủ tiền phạt bổ sung 20.000.000 đồng theo quyết định của bản
án sơ thẩm, khối lượng pháo nổ bị cáo dùng để mua bán hoặc vận chuyển nằm
mức định lượng trung bình của khung hình phạt bị truy tố, xét xử. Căn cứ tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân, tình tiết giảm nhđối với bị cáo t
Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt đối với cả hai tội
“Buôn bán hàng cấm” “Vận chuyển hàng cấm” ng đủ tính chất răn đe
phòng ngừa chung.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H, sửa bản án thẩm về phần hình phạt đối với bị
cáo.
[3] Do kháng cáo được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm
nên bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị chấp
nhận kháng cáo xin giảm nhhình phạt của bcáo H, sửa bản án thẩm về phần
hình phạt đối với bị cáo H, xử phạt bị cáo 06 năm về tội “Buôn bán hàng cấm” và
02 năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo H phải
chấp hành hình phạt chung của hai tội 08 năm phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190, điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thế H. Sửa Bản án hình sự thẩm số
53/2026/HS-ST ngày 30/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 Gia Lai về phần
hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thế H.
2. Xử phạt bị cáo Đỗ Thế H 06 (sáu) năm về tội “Buôn bán hàng cấm” và 02
(hai) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đỗ Thế
H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 01/01/2026.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thế H không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 8 Gia Lai;
- VKSND khu vực 8 Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 8 Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Văn Thanh Gia
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 140/2026/HS-PT Bản án số 140/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất