Bản án số 38/2026/KDTM-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về thế chấp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 38/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 38/2026/KDTM-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về thế chấp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 38/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty T8 - Công ty T9
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 38/2026/KDTM-PT Bản án số 38/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 38/2026/KDTM-PT Bản án số 38/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 38/2026/KDTM-PT
Ngày: 11-9-2026
V/v tranh chấp hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt
hại về tài sản, hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp tài sản, trả lại
bản chính giấy tờ, tài liệu, điều
chỉnh dữ liệu tín dụng phân loại
nhóm nợ, cơ cấu khoản nợ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Trịnh Thị Phúc
bà Huỳnh Thị Hồng Vân
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Linh Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Lâm Phượng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 8, ngày 10 và 11 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án
nhân n tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ số
33/2026/TLPT-KDTM ngày 09 tháng 7 năm 2026 về việc Tranh chấp hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về tài sản, hợp đồng tín dụng, hợp
đồng thế chấp tài sản, trả lại bản chính giấy tờ, tài liệu, điều chỉnh dữ liệu tín dụng
và phân loại nhóm nợ, cơ cấu khoản nợ”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 06/2026/KDTM-ST ngày 02
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số 521/2026/QĐ-PT ngày 13 tháng 7
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T8; địa ch trụ sở chính: Ấp E N, B, tỉnh
Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lưu Quốc D (Tổng Giám đốc).
2
Người đại diện theo ủy quyền: ông Tất T, sinh năm 1961; địa chỉ: Số A
đường D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo n bản ủy quyền ngày
18/6/2025).
- Bị đơn (có yêu cầu phản tố): Công ty Cổ phần T9; địa chỉ trụ sở: Tầng M, s
C, 39, 41 đường N, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: bà Phan Thị Ngọc T1 (Tổng Giám đốc).
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1992; và/hoặc:
2. Ông Ngô Đoàn Quang V, sinh năm 2000:
Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng F, số B đường Đ, phường X, Thành phố Hồ Chí
Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 25/6/2025).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Ngọc L, Luật
của Công ty L4 (G) thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: Tầng F, số B
đường Đ, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q1 của các Tổ chức tín dụng
Việt Nam; địa chỉ trụ sở: Số C phố T, phường , Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Trung D1 (Chtịch Hội đồng thành
viên).
2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1); địa chỉ trụ sở: Số B đường A,
phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Đức T2 (Chủ tịch HĐQT).
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hồ Duy L1 (Giám đốc B1 - Chi nhánh S);
địa chỉ liên hệ: Số B A, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L1:
2.1. Ông Lê K (Phó Trưởng phòng Quản lý rủi ro);
2.2. Ông Lê Thượng L2 (Chuyên viên pháp lý);
2.3. Ông Võ Văn H (Cán bộ tín dụng);
(theo Quyết định ủy quyền số 54/QĐ-BIDV.SG ngày 11/7/2024)
2.4. Ông Nguyễn Anh H1 (Chuyên viên khách hàng chuyên trách xnợ,
theo Quyết định ủy quyền số 26/QĐ-BIDV.SG ngày 02/01/2025).
Cùng địa chỉ liên lạc: Số B đường A, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của B1: Nguyễn Thị Ngọc Á,
Luật sư của Công ty L5 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: Tầng E,
Tòa nhà S, D U, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Công ty Cổ phần Đ1; địa chỉ trụ sở: Số D, 46 đường I, khu Dân cư T, xã B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Gia N
4. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2; địa chỉ trụ sở: Số B đường C, Phường
D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Ngô Phúc V1 (Chủ tịch HĐQT).
Người đại diện theo ủy quyền: ông Vũ Quốc T3 (Chuyên viên cao cấp tố tụng,
theo văn bản ủy quyền số 06/2024/UQ-NHNA-06 ngày 05/3/2024).
5. Ủy ban nhân dân tỉnh T; địa chỉ trụ sở: Số F N, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn H2 (Chủ tịch);
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh: Nguyễn Thị
Tuyết A (Phó Trưởng phòng Phòng Đăng cấp giấy chứng nhận Văn phòng
đăng ký đất đai).
6. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T
Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Minh T4 (Giám đốc).
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị Anh T5 (Phó Trưởng phòng
Phòng Hành chính Văn phòng đăng đất đai, theo văn bản ủy quyền ngày
08/4/2026).
7. Chi nhánh Trung tâm phát triển Quỹ đất khu vực B; địa chỉ: Số B Quốc lộ
A, ấp B, xã B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Thành T6 (Giám đốc).
8. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T; địa chỉ trụ sở: Số B Quốc lộ F, phường L,
tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trương Thanh L3 (Trưởng ban).
9. Trung tâm T10 (CIC); địa chỉ: Số D L, phường C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Cao Văn B (Chủ tịch Hội đồng quản
kiêm Tổng Giám đốc).
10. Công ty Trách nhiệm hữu hạn A1; địa chỉ: Số F V, phường G, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Văn Y.
11. Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Tây Ninh
4
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hoàng G (Chủ tịch).
- Người kháng cáo: nguyên đơn Công ty Cổ phần T8, bị đơn Công ty Cổ phần
T9, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện ghi ngày 05/5/2015, ngày 26/11/2015, đơn sửa đổi, bổ
sung đơn khởi kiện ghi ngày 24/8/2020, ngày 31/10/2023, ngày 20/11/2023, ngày
21/11/2023 trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn Công
ty Cổ phần T8 do ông Vũ Tất T người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty Cổ phần T8 (sau đây viết tắt Công ty T8) và Công ty Cổ phần T9
(sau đây viết tắt là Công ty T9) có ký kết hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất (nay
thửa đất số 3263 tờ bản đồ số 3) thuộc Khu công nghiệp N, huyện B, tỉnh Long
An (nay là xã B, Tây Ninh), cụ thể như sau:
Ngày 21/5/2007, ng ty T8 (bên A) Công ty T9 (bên B) Hợp đồng
nguyên tắc số 10-05/HĐTĐ-TY-07 (sau đây viết tắt Hợp đồng nguyên tắc 10-
05), nội dung: Công ty T8 cho Công ty T9 thuê lại quyền sử dụng đất tại các lô
D2, D3, D4 D5, diện tích thuê tạm tính 40.000m
2
(được tăng giảm 10%), giá
thuê 35 USD/m
2
. Tổng giá cho thuê 1.540.000 USD, gồm giá thuê đất
1.400.000 USD và thuế giá trị gia tăng (VAT) 10% là 140.000 USD.
Ngày 12/9/2007, hai bên tiếp Hợp đồng nguyên tắc số 01-09/HĐTĐ-TY-
07 (sau đây viết tắt Hợp đồng nguyên tắc 01-09), nội dung: Công ty T8 cho
Công ty T9 thuê lại quyền sử dụng đất tại các D1 D6, diện tích thuê tạm tính
20.000m
2
(được tăng giảm 10%), giá thuê 38 USD/m
2
. Tổng giá thuê
836.000 USD, bao gồm giá thuê đất là 760.000 USD và VAT 10% là 76.000 USD.
Công ty T9 đã thanh toán cho Công ty T8:
Từ ngày 30/5/2007 đến ngày 06/12/2007, thanh toán 280.000 USD, tương
đương 4.502.583.000 đồng cho Hợp đồng nguyên tắc 10-05;
Từ ngày 26/10/2007 đến ngày 16/11/2007, thanh toán 83.600 USD, tương
đương 1.343.258.760 đồng cho Hợp đồng nguyên tắc 01-09.
Để thay thế lần lượt tương ứng cho 02 hợp đồng nguyên tắc nêu trên, cùng
ngày 08/01/2008, Công ty T8 Công ty P1 Hợp đồng thuê lại đất Khu công
nghiệp N-B, gồm: Hợp đồng số 01-01/TĐ-CPTY-08 (sau đây viết tắt Hợp đồng
số 01) Hợp đồng s02-01/TĐ-CPTY-08 (sau đây viết tắt Hợp đồng số 02),
có nội dung không thay đổi so với nội dung của 02 hợp đồng nguyên tắc mà 02 bên
đã ký kết vào năm 2007 và có hiệu lực kể từ ngày ký.
Tổng giá trị tiền thuê đất tại khoản 2.3 Điều 2 của 02 Hợp đồng số 01 02
đã được Công ty T9 thanh toán cho Công ty T8 20% (đã VAT) trên tổng giá trị
tiền thuê theo 02 Hợp đồng nguyên tắc. Phần giá trị còn lại sẽ được thanh toán theo
các đợt sau:
5
Đợt 1: Khi Công ty P2 bên ký hợp đồng chính thức, Công ty T9 tiếp tục thanh
toán cho Công ty T8 10% trên tổng giá trị hợp đồng (đã có VAT), hạn chót là ngày
18/01/2008 đối với Hợp đồng số 01 (thanh toán 140.000 USD) và ngày 26/01/2008
đối với Hợp đồng số 02 (thanh toán 83.600 USD).
Đợt 2: Công ty T9 thanh toán tiếp cho Công ty T8 30% trên tổng giá trị hợp
đồng (đã có VAT), trong vòng 05 ngày kể từ ngày ký Biên bản bàn giao mặt bằng,
hạn chót ngày 10/3/2008 đối với Hợp đồng số 01 (thanh toán 420.000 USD) và
ngày 27/4/2008 đối với Hợp đồng số 02 (thanh toán 250.800 USD).
Đợt 3: Công ty T9 thanh toán hàng năm phần còn lại của tổng giá trị tiền thuê
đất (đã VAT) trong vòng 05 năm kể từ ngày thanh toán đợt 2 với lãi suất trả
chậm theo lãi suất cho vay trung hạn của Ngân hàng N3 Chi nhánh Thành phố H,
cụ thể hàng năm như sau:
Năm thứ nhất: Thanh toán nợ gốc của năm và tiền lãi trả chậm được tính kể từ
ngày thanh toán đợt 2.
Năm thứ hai: Thanh toán nợ gốc của năm và tiền lãi trả chậm được tính ktừ
ngày thanh toán đúng hạn của lần thanh toán năm thứ nhất.
Năm thứ ba: Thanh toán ngốc của năm tiền lãi trả chậm được tính ktừ
ngày thanh toán đúng hạn của lần thanh toán năm thứ hai.
Năm thứ tư: Thanh toán nợ gốc của năm tiền lãi trả chậm được tính kể t
ngày thanh toán đúng hạn của lần thanh toán năm thứ ba.
Năm thứ năm: Thanh toán nợ gốc còn lại căn cứ trên diện tích thực tế ghi trên
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiền lãi trả chậm được tính kể từ ngày thanh
toán đúng hạn của lần thanh toán năm thứ tư.
Khi nhận đủ hết số tiền trên, Công ty T8 sẽ giao GCNQSDĐ cho Công ty T9.
Ngoài ra, 02 bên còn ký các phụ lục hợp đồng để sửa đổi, bổ sung một số điều
khoản trong 02 Hợp đồng số 01 02 về đồng tiền thanh toán tUSD sang đồng
Việt Nam cụ thể mức phí quản lý, tiện ích hạ tầng, phí quản lý phí xử
nước thải, gồm: Phụ lục số 01-PD/CPTY-PLHD-10 ngày 01/3/2010; Phụ lục số
02-PD/CPTY-PLHD-10 ngày 07/10/2010; Phụ lục số 03-PD/CPTY-PLHD-11
ngày 01/01/2011; Phụ lục số 04-PD/CPTY-PLHD-11 ngày 01/7/2011.
Công ty T8 không tranh chấp gì đối với 02 hợp đồng nguyên tắc.
Quá trình thực hiện Hợp đồng số 01 và 02 như sau:
Đợt 1: Ngày 18/01/2008, Công ty T9 thanh toán 2.237.760.000 đồng, tương
đương 140.000 USD cho Hợp đồng số 01 và thanh toán 1.336.011.600 đồng, tương
đương 83.600 USD cho Hợp đồng số 02.
Đợt 2: Công ty T8 đã tiến hành bàn giao mặt bằng ngoài thực địa cho Công ty
P3
6
Ngày 09/8/2008, bàn giao các lô đất D2, D3, D4, D5, diện tích 20.000m
2
;
Ngày 24/9/2008, bàn giao các lô đất D1, D6, diện tích 20.000m
2
;
Ngày 10/7/2009, bàn giao các lô đất D4 và D5, diện tích 20.000m
2
;
Căn cứ Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 01-2019 của Công ty TNHH Đ2 vẽ
ngày 08/10/2019 và được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L duyệt ngày 25/10/2019
(sau đây viết tắt là Trích đo năm 2019), thì tổng diện ch đất bàn giao thực tế
60.194m
2
. Công ty T9 đã nhận bàn giao các lô đất thuê nêu trên theo các hợp đồng,
xây dựng nhà xưởng, tiến hành sản xuất kinh doanh trên diện tích đất thuê của
Công ty T8 thanh toán tiền đợt 2 như sau:
Đối với Hợp đồng số 01: ngày 08/6/2008, thanh toán số tiền tương đương
140.000 USD ngày 08/8/2008, thanh toán tiếp số tiền tương đương 280.000
USD, tổng cộng 6.932.800.000 đồng tương đương 420.000 USD (đủ 30%). Tuy
nhiên, từ ngày 22 đến 30/9/2008, Công ty T8 đã chuyển hoàn trả Công ty T9 số
tiền 210.000 USD, do việc bàn giao mặt bằng đất D4 D5 trễ. Từ ngày
11/9/2009 đến ngày 14/01/2010, Công ty T9 mới thanh toán lại đủ số tiền tương
210.000 USD mà Công ty T8 đã hoàn trả cho Công ty T9.
Đối với Hợp đồng số 02: từ ngày 25 đến 29/9/2008, thanh toán số tiền
4.169.550.000 đồng, tương đương 250.800 USD (đủ 30%).
Đợt 3: Ngày 14/01/2010, Công ty T9 đã thanh toán số tiền 2.069.648.000
đồng, tương đương 92.202,10 USD cho Hợp đồng số 01. Ngày 21/10/2009, Công
ty T9 đã thanh toán đủ số tiền 1.949.701.000 đồng, tương đương 109.202,5 USD
cho Hợp đồng số 02.
Sau đó, Công ty T9 không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Ngày 14/4/2014, Công ty T8 Công ty T9 Biên bản đối chiếu số tiền
Công ty T9 còn n Công ty T8 (các bút lục số 442, 443). Tính đến hết ngày
31/3/2014, Công ty T9 còn nợ Công ty T8 tổng số tiền của 02 hợp đồng
26.172.075.138 đồng, gồm:
Đối với Hợp đồng số 01:
Công ty P4 các khoản tiền: Tiền thuê đất chưa thanh toán (chưa VAT)
467.797,9 USD; chậm thanh toán tiền nợ gốc 160.565,54 USD; phí trả chậm tính
đến thời điểm đối chiếu 38.634,95 USD; tiền chậm thanh toán tiền thuế GTGT đã
xuất hóa đơn 570.389.662 đồng, tiền thuế GTGT đã xuất hóa đơn
1.192.115.879 đồng và thuế VAT 10% là 46.779,79 USD.
Về phía Công ty T8: chậm thanh toán khoản hoàn lại 2.827,91 USD.
Sau khi đối trừ, tổng số tiền Công ty T9 còn nợ của Hợp đồng số 01
16.777.775.244 đồng.
Đối với Hợp đồng số 02:
7
Công ty P4 các khoản tiền: Tiền thuê đất chưa thanh toán (chưa VAT)
280.725 USD; tiền thuê 194m
2
đất 7.372 USD; chậm thanh toán tiền nợ gốc
114.234,46 USD; phí trả chậm tính đến thời điểm đối chiếu 18.445,09 USD
thuế VAT 10% là 28.072,5 USD.
Về phía Công ty T8: chịu lãi phát sinh do chậm xuất hóa đơn số tiền
85.392.042 đồng.
Sau khi đối trừ, tổng số tiền Công ty T9 còn nợ của Hợp đồng số 02
9.394.299.894 đồng.
Sau khi đối chiếu công nợ, Công ty T8 đã phát hành nhiều văn bản hối thúc
Công ty P5, nhưng Công ty T9 vẫn không thanh toán đủ. Cho đến trước khi Công
ty T8 đơn khởi kiện tại Tòa án, Công ty T9 chỉ thanh toán các khoản tiền như
sau:
Đối với Hợp đồng số 01: tổng cộng thanh toán số tiền 448.750.000 đồng,
tương đương 20.000 USD, gồm: ngày 28/8/2015, thanh toán số tiền 225.100.000
đồng, tương đương 10.000 USD ngày 06/11/2015, thanh toán số tiền
223.650.000 đồng, tương đương 10.000 USD.
Đối với Hợp đồng số 02: tổng cộng thanh toán số tiền 460.530.000 đồng,
tương đương 21.000 USD, gồm: ngày 26/01/2015, thanh toán số tiền 213.800.000
đồng, tương đương 10.000 USD ngày 02/10/2015, thanh toán số tiền
246.730.000 đồng, tương đương 11.000 USD.
Do đó, ngày 26/11/2015, Công ty T8 đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Công ty
T9 phải thanh toán tiền thuê đất còn nợ, tiền lãi, tiền chậm thanh toán theo 02 hợp
đồng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc Công ty T8 đã nhiều văn
bản nhắc nhở, tổ chức nhiều buổi làm việc, đối thoại Công ty T9 cũng nhiều
văn bản cam kết thanh toán tiền thuê đất và các loại phí còn nợ, nhưng Công ty T9
vẫn cố tình vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 3 của 02 hợp đồng. Do đó, ngày
06/8/2020, Công ty T8 đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện thành hủy hợp
đồng thuê lại quyền sử dụng đất và yêu cầu Công ty T9 phải trả lại đất thuê.
Trước khi Tòa án thụ yêu cầu khởi kiện thay đổi, bổ sung của Công ty T8,
Công ty T9 đã thanh toán cho ng ty T8 10.700 USD cho Hợp đồng số 02, cụ
thể, ngày 10/8/2020, thanh toán 146.601.000 đồng, tương đương 6.300 USD
ngày 14/8/2020, thanh toán 102.388.000 đồng, tương đương 4.400 USD.
Tổng cộng, Công ty T9 đã thanh toán 37.454.201.593 đồng, trong đó: đối
với Hợp đồng số 01 số tiền là 23.359.313.383 đồng, tương đương 1.267.651 USD
và Hợp đồng số 02 số tiền là 14.094.888.210 đồng, tương đương 761.263 USD.
Ngày 04/9/2020, Tòa án nhân dân khu vực 4-Tây Ninh đã thụ lý yêu cầu thay
đổi, bổ sung đơn khởi kiện của Công ty T8.
8
Sau khi Tòa án thụ yêu cầu thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện của Công ty
T8, từ tháng 9/2020 đến ngày 03/8/2021, Công ty T9 đã chuyển vào tài khoản của
Công ty T8 những khoản tiền sau: số tiền 5.708.593.690 đồng, tương đương
247.370 USD cho Hợp đồng số 01 và số tiền 1.779.323.406 đồng, tương đương
76.875,77 USD cho Hợp đồng số 02. Tuy nhiên, Công ty T8 không nhận số tiền
này do đã thay đổi yêu cầu khởi kiện và đã thông báo cho Công ty P6, đồng thời đã
chuyển khoản hoàn trả tiền cho Công ty T9.
Tại phiên hòa giải, Công ty T8 giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
1. Yêu cầu hủy Hợp đồng số 01 và số 02;
2. Yêu cầu Công ty T9 tháo dỡ toàn bộ tài sản đã đầu tư, xây dựng trên đất
thuê, trả lại toàn bộ diện tích đất thuê 60.194m
2
, thuộc thửa đất số 3263, tờ bản đồ
số 3, tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất sphát nh AQ 015205, do Sở i nguyên và Môi trường tỉnh L cấp
ngày 10/11/2009 cho Công ty T8;
3. Công ty T8 đồng ý hoàn trả cho Công ty T9 số tiền đã nhận, nhưng trừ đi
thời gian Công ty T9 đã sử dụng đất của Công ty T8 tính đến thời điểm xét xử
thẩm lại vụ án;
4. Buộc Công ty T9 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng của ván;
5. Công ty T8 yêu cầu được hoàn lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng, tạm ứng
án phí đã nộp.
Tuy nhiên, do Công ty T9 đã đầu tư xây dựng nhà máy và các công trình khác
trên ½ diện tích đất thuê, nhằm tạo điều kiện cho Công ty T9 được tiếp tục hoạt
động, tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty T8 thay đổi yêu cầu khởi kiện xác định lại
toàn bộ yêu cầu khởi kiện như sau:
1. Yêu cầu vô hiệu Hợp đồng số 01 và số 02.
2. Yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu theo quy định pháp luật.
Công ty T8 đồng ý với đơn giá 4.751.000 đồng/m
2
, theo Chứng thư thẩm định
giá số 1098.2023.VT.HS ngày 22/9/2023 của Công ty Cổ phần T11 (sau đây viết
tắt là Chứng thư Thẩm định giá số 1098.2023.VT.HS).
3. Công ty T8 đồng ý cho Công ty T9 được nhận phần đất nhà máy và các
công trình xây dựng, với diện tích đất 30.100,2m
2
được thể hiện tại vị trí Khu A
theo Mảnh trích đo địa chính (phân khu) ngày 17/03/2026 của Công ty TNHH Đ3
(sau đây viết tắt là Trích đo năm 2026) và thanh toán bằng giá trị thuê.
4. Yêu cầu Công ty T9 tháo dỡ toàn bộ tài sản đã đầu tư, xây dựng trên đất
thuê, trả lại Khu B theo Trích đo năm 2026 các tài sản này được xây dựng sau
khi Công ty T8 đã có khởi kiện yêu cầu đòi lại đất thuê.
Công ty T8 ý kiến đối với các yêu cầu phản tố của Công ty T9 như sau:
9
Đối với yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn
vay số 3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 được xác lập giữa Công ty T9 và Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đ Chi nhánh S (sau đây viết tắt B1): Công ty T8 không
khởi kiện, nhưng thống nhất với yêu cầu của Công ty T9.
Đối với yêu cầu Công ty T8 phải bồi thường thiệt hại do chậm bàn giao đất
theo các hợp đồng thuê đất, với số tiền tạm tính là 2.218.517.339 đồng, Công ty T8
không đồng ý, vì khi nhận bàn giao đất, Công ty T9 không có ý kiến khiếu nại.
Theo các đơn phản tố ghi ngày 04/5/2021, ngày 18/10/2021, ngày
08/11/2021; các đơn phản tố sửa đổi, bổ sung ghi ngày 17/6/2022, ngày
05/7/2022, ngày 12/8/2022, ngày 28/12/2023 trong quá trình giải quyết vụ án
tại cấp thẩm, bị đơn Công ty Cổ phần T9 do ông Nguyễn Minh Q, ông Lê Phúc
H3, ông Ngô Đoàn Quang V đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Công ty T9 thống nhất trình bày của Công ty T8 về việc kết 02 hợp đồng
nguyên tắc, Hợp đồng số 01 số 02 về diện tích đất thuê, giá thuê. Việc thuê lại
đất của các bên theo hình thức thuê đất trả tiền một lần và hình thức thanh toán tiền
thuê đất được chia làm 3 đợt, trong đó đợt 3 được trả chậm trong thời hạn 05 năm
(từ tháng 04/2008 đến tháng 04/2013). Việc sang tên tài sản là QSDĐ cho Công ty
T9 sẽ được thực hiện sau khi Công ty T9 hoàn tất việc thanh toán tiền thuê đất cho
Công ty T8. Theo thỏa thuận tại Điều 3 của 02 hợp đồng, Công ty T8 phải giao đất
trên thực địa D2, D3, D4, D5 vào ngày 05/3/2008 D1, D6 giao vào
ngày 22/4/2008.
Quá trình thực hiện Hợp đồng số 01 và số 02 như sau:
Về phía Công ty T9: từ năm 2007 đến ngày 03/8/2021, Công ty T9 đã thanh
toán đủ tiền thuê đất cho Công ty T8, tổng cộng 45.025.972.189 đồng, trong đó:
đối với Hợp đồng số 01: đã thanh toán số tiền 29.249.650.073 đồng (gồm VAT);
đối với Hợp đồng số 02: đã thanh toán số tiền 15.776.322.116 đồng (gồm VAT).
Tổng số tiền Công ty T9 đã thực tế thanh toán nhiều hơn số tiền Công ty T8
yêu cầu trong đơn khởi kiện năm 2015, nên không căn cứ cho rằng Công ty T9
còn nợ tiền thuê đất.
Về phía Công ty T8: đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, bàn giao đất b
chậm, trong đó: D2, D3 bàn giao ngày 09/8/2008, chậm 156 ngày; D4, D5
giao ngày 10/7/2009, chậm 492 ngày; D1, D6 giao ngày 24/9/2008, chậm 155
ngày. Công ty T9 đã thanh toán đủ tiền thuê đất, nhưng đến nay Công ty T8 vẫn
không làm thủ tục chuyển tên cho Công ty T9, mặc ngày 10/11/2009, Công ty
T8 được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp GCNQSDĐ số phát hành AQ
015205, thửa đất s3263, tbản đồ số 3, tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An.
Từ ngày 16/12/2009 đến ngày 19/4/2016, Công ty T8 đã liên tục thế chấp, xóa thế
chấp thế chấp lại quyền sử dụng đất đã cho Công ty P7, vi phạm nghĩa vụ bảo
đảm quyền sử dụng đất cho thuê.
Công ty T9 ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của Công ty T8 như sau:
10
Đối với yêu cầu hủy bỏ hoặc tuyên hiệu hợp đồng của ng ty T8: việc
thay đổi yêu cầu khởi kiện hiệu hợp đồng vượt qphạm vi ban đầu theo
khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025); đồng thời
các căn cứ chấm dứt hợp đồng chỉ được quy định tại Điều 6 của 02 hợp đồng
Điều 713 Bộ luật Dân sự 2005, nên không căn cứ áp dụng Điều 425 Bluật
Dân sự 2005 để hủy bỏ hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ng ty T9 có lúc
chậm thanh toán, nhưng đây không thuộc trường hợp hủy bỏ/chấm dứt hợp đồng
theo thỏa thuận tại Điều 6 của 02 hợp đồng. Hơn nữa, việc chậm giao đất xuất phát
từ chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng di dời dân cư, thuộc trách nhiệm của
Công ty T8, do đó Công ty T9 quyền chưa thanh toán đúng tiến độ theo điều
kiện hợp đồng.
Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng, Công ty T8 đều thừa nhận hiệu lực của
02 hợp đồng thuê đất, nên việc chuyển sang yêu cầu tuyên hiệu tại phiên tòa
thẩm lần 2 là phủ nhận hiệu lực hợp đồng ngay từ thời điểm giao kết, làm thay đổi
hoàn toàn bản chất tranh chấp.
Theo hồ đầu tư giao đất gồm Giấy chứng nhận đầu số 50221000009
ngày 19/7/2007, Quyết định giao đất số 2522/QĐ-UBND ngày 02/10/2007 của
UBND tỉnh L Văn bản s660 ngày 20/8/2025 của Ban Quản Khu kinh tế
tỉnh T, Công ty T8 đã có quyền đầu tư, kinh doanh hạ tầng và cho thuê lại đất trong
khu công nghiệp trước thời điểm ký 02 hợp đồng.
Hai hợp đồng nguyên tắc ngày 21/5/2007 và ngày 12/9/2007, Hợp đồng số 01
02 cùng ngày 08/01/2008 đã được Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Long
An xác nhận theo Giấy xác nhận số 39/XNBQLKCN ngày 01/6/2007 Giấy xác
nhận s12/XN.BQLKCN ngày 21/01/2008. Do đó, 02 Hợp đồng s01 số 02
được giao kết hợp pháp về hình thức, chủ thể, nội dung và mục đích, đúng quy
định tại khoản 2 Điều 124 Bluật Dân sự năm 2005; điểm b khoản 1 Điều 128
Luật Đất đai m 2003; điểm a khoản 10 Điều 2 Nghị định 17/2006/NĐ-CP
điểm e khoản 2 Điều 7 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.
Căn cứ khoản 3 khoản 5 Điều 90 Luật Đất đai năm 2003; điểm a khoản 2
khoản 4 Điều 84 Nghị định 181/2004/-CP, thì 02 Hợp đồng số 01 số 02
thực chất là quan hệ thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, nên ng ty T9
quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi hoàn thành nghĩa
vụ thanh toán theo Điều 3 và khoản 4.8 Điều 4 của 02 hợp đồng.
Do hợp đồng hiệu lực, nên các yêu cầu của Công ty T8 về việc giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiệu cũng không có căn cứ để xem xét.
Các yêu cầu phản tố của Công ty T9 đối với Công ty T8 hoàn toàn căn
cứ. Bởi lẽ,
Quá trình thực hiện 02 hợp đồng, Công ty T8 đã vi phạm nghĩa vụ của bên
cho thuê, cụ thể: chậm bàn giao đất; đồng thời, vi phạm nghĩa vbảo đảm quyền
sử dụng đất khi giữ GCNQSDĐ liên tục thế chấp, xóa thế chấp thế chấp lại
11
quyền sử dụng đất đã cho Công ty T9 thuê tại B1 Chi nhánh S, Ngân hàng TMCP
N2 tngày 16/12/2009 đến ngày 19/04/2016, vi phạm khoản 4.7 Điều 4 của 02
hợp đồng “Bên A phải đảm bảo quyền sử dụng đất cho Bên B trong thời gian
thực hiện hợp đồng, không chuyển giao quyền sử dụng đất trên cho Bên thứ ba khi
chưa thỏa thuận với Bên B (trừ trường hợp phải thu hồi đất theo quy định tại Điều
38 Luật Đất đai)”, trong khi ngày 06/12/2010, Công ty T8 đã vào Văn bản số
1725/CV-BIDV.SG của B1, xác nhận Công ty T8 không giải quyết việc dùng thửa
đất 3263 trao đổi, chuyển nhượng, cho, tặng, cho mượn, cho thuê, góp vốn, thế
chấp, cầm cố, bảo lãnh cho các nghĩa vụ khác khi chưa có công văn xác nhận, chấp
thuận của Ngân hàng.
Do đó, căn cứ khoản 4.7 và khoản 4.8 Điều 4, khoản 5.15 Điều 5 của 02 hợp
đồng, Điều 303 Luật Thương mại năm 2005; khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự
năm 2005 và Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân ng N4,
Công ty T8 phải bồi thường thiệt hại cho Công ty T9 tương ứng với từng đất
chậm bàn giao thanh toán lãi chậm trả theo mức lãi suất 9%/năm tạm tính từ
ngày bàn giao chậm đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/5/2026), cụ thể:
- Tổng giá thuê đất trọn thời hạn của các D2, D3, D4, D5 1.540.000
USD, trong đó 02 D, D3 diện tích bằng 02 D4, D5 (cùng 20.000m
2
), nên
tiền thuê đất D, D3 bằng tiền thuê đất Lô D4, D5 770.000 USD (đã bao gồm
thuế VAT). Tổng thời gian Công ty T9 thuê đất các này là 18.108 ngày. Đối với
D1 D6, đến hết thời hạn thuê đất (50 năm) là 38/USD/m
2
, tổng tiền thuê đất
cho 02 này 836.000 USD (đã bao gồm thuế VAT), tổng thời gian Công ty T9
thuê đất các này 18.060 ngày. Do đó, tiền thuê bình quân được tính 43
USD/ngày đối với D, D3 D4, D5 46 USD/ngày đối với Lô D, D6. Như
vậy, số tiền Công ty T8 phải bồi thường do chậm bàn giao đất là 7.130 USD đối
với D1, D6 (chậm 155 ngày), 6.708 USD đối với D2, D3 (chậm 156 ngày)
21.156 USD đối với D4, D5 (chậm 492 ngày), chưa bao gồm lãi chậm trả.
Theo khoản 3.4 Điều 3 của 02 hợp đồng, việc quy đổi USD sang VNĐ thực hiện
theo tỷ giá bán ra của Vietcombank Thành phố H tại thời điểm thanh toán; tỷ giá
tạm tính ngày 23/7/2025 là 1 USD = 26.106 đồng.
- Tiền lãi chậm trả trên số tiền chậm bồi thường được tính tương ứng khoảng
thời gian kể từ ngày Công ty T8 phải bàn giao đất nhưng không thực hiện, cụ thể:
D, D3: t 05/3/2008 đến 20/5/2026, tương ứng 6.650 ngày; D4, D5: từ
05/3/2008 đến 20/5/2026, tương ứng 6.650 ngày; Lô D1, D6: từ 22/4/2008 đến
ngày xét xử thẩm, tương ứng 6.602 ngày. Như vậy, tạm tính đến ngày
20/5/2026, số tiền VNĐ Công ty T8 phải bồi thường (bao gồm tiền lãi theo
mức lãi suất 9%/năm) đối với Lô D1 D6: 489.144.431 đồng; D2 D3:
462.266.308 đồng; D4 D5: 1.457.916.820 đồng. Tổng cộng số tiền bồi
thường là 2.409.327.559 đồng.
Công ty T9 đã thanh toán đủ tiền thuê đất cho Công ty T8 theo 02 hợp đồng là
45.025.972.189 đồng, nhưng Công ty T8 không xuất hóa đơn VAT cho số tiền đã
12
thanh toán là 7.571.770.596 đồng. Căn cứ Điều 3, Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng
năm 2008; khoản 4 Điều 8 Thông 219/2013/TT-BTC; khoản 6 Điều 3 Thông
26/2015/TT-BTC Nghị định 125/2020/NĐ-CP, thì Công ty T8 phải xuất a
đơn GTGT đối với toàn bộ số tiền thuê đất mà Công ty T9 đã thanh toán, cụ thể:
- Đối với Hợp đồng số 01, đã thanh toán số tiền 5.708.593.690 đồng theo các
Ủy nhiệm chi (sau đây viết tắt UNC) ngày 07/9/2022 số tiền 167.544.000 đồng,
UNC ngày 25/9/2020 số tiền 290.875.000 đồng, UNC ngày 28/9/2020 số tiền
242.112.000 đồng, UNC ngày 03/8/2021 số tiền 5.008.062.690 đồng số tiền
83.853.602 đồng mà Công ty T9 thanh toán trong giai đoạn từ năm 2007 – 2010;
- Đối với Hợp đồng số 02, đã thanh toán 1.779.323.406 đồng theo UNC ngày
10/9/2022 số tiền 523.800.000 đồng, UNC ngày 12/10/2020 stiền 218.832.000
đồng, UNC ngày 3/8/2021 số tiền 1.036.691.406 đồng.
Do đó, Công ty T9 có yêu cầu phản tố đối với Công ty T8 như sau:
1. Yêu cầu công nhận hiệu lực pháp của 02 Hợp đồng số 01 02 buộc
Công ty Cổ phần T8 phải thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng như sau:
- Điều chỉnh biến động trên GCNQSDĐ số AQ 015205 chuyển tên người sử
dụng đất là Công ty P8
- Công ty T8 phải chịu mọi nghĩa vụ về thuế, tài chính liên quan để điều chỉnh
biến động trên GCNQSDĐ số AQ 015205.
- Trường hợp Công ty T8 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ trong bản án, quyết định hiệu lực pháp luật của Tòa án, thì Công ty T9 được
toàn quyền liên hệ với Cơ quan Thi hành án, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L, Sở
T tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Quản khu kinh tế tỉnh các quan nhà
nước thẩm quyền khác để thực hiện thủ tục điều chỉnh biến động trên
GCNQSDĐ số AQ 015205 hoặc cấp lại GCNQSDĐ tại thửa đất số 3263, tờ bản đồ
số 3, diện tích 60.194 m
2
, địa chỉ thửa đất tại xã N, huyện B, tỉnh Long An.
2. Buộc Công ty T8 chấm dứt các hành vi cản trở quyền sử dụng đất của Công
ty T9 tại thửa đất số 3263: buộc Công ty T8 phải bàn giao cho ng ty T9 (chính)
GCNQSDĐ số AQ 015205 các giấy tờ pháp khác liên quan đến thửa đất
Công ty T9 đã thuê của Công ty T8.
3. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải bồi thường thiệt hại thanh toán tiền lãi
chậm trả đến ngày xét xdo vi phạm Hợp đồng số 01 số 02, chậm bàn giao
đất cho Công ty T9, số tiền tạm tính 2.409.327.559 đồng (Hai tỷ bốn trăm lẻ
chín triệu, ba trăm hai mươi bảy nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng).
4. Buộc Công ty T8 phải xuất hóa đơn thuế Giá trị gia tăng (VAT) cho Công
ty T9 đối với số tiền là 7.571.770.698 đồng (Bảy tỷ năm trăm bảy mươi mốt triệu
bảy trăm bảy mươi nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Hóa đơn VAT
cho Hợp đồng số 01 5.792.447.292 đồng; Hóa đơn VAT cho Hợp đồng số 02
1.779.323.406 đồng.
13
Đối với yêu cầu độc lập của B1, Công ty T9 có ý kiến như sau:
Ngày 07/7/2009, Công ty T9 Ngân hàng Đ Chi nhánh S, nay Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Đ Chi nhánh S (B1) kết hợp đồng tín dụng dài
hạn số 3989/2009/HĐ Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng dài hạn số
59/2010/HĐ ngày 06/01/2010 (sau đây gọi chung Hợp đồng tín dụng số 3989)
hạn mức vay số tiền là 200 tỷ đồng; cùng ngày 07/7/2009, 02 bên ký Hợp đồng thế
chấp tài sản hình thành từ vốn vay số 3990/2009/(sau đây viết tắt Hợp đồng
thế chấp số 3990).
Đối với Hợp đồng tín dụng số 3989, B1 đã giải ngân cho Công ty T9 số tiền
174.595.773.225 đồng theo 51 khế ước nhận nợ, nhưng o ngày 03/3/2011 B1
ban hành Công văn số 319/CV-BIDV.SG thông báo ngừng giải ngân kể từ ngày
03/3/2011 và chỉ giải ngân lần cuối vào 18/4/2011.
Khoản 5 Điều 13 của Hợp đồng tín dụng số 3989 không có khái niệm “ngừng
giải ngân”, chỉ cho phép “đình chỉ cho vay thu nợ trước hạn”. Căn cứ các
Biên bản làm việc giữa Công ty T9 và B1 vào ngày 05/01/2010 ngày
26/01/2011 đã lần lượt xác nhận Công ty T9 có tỷ lệ vốn vay/vốn tự có là 64/36 và
66/34 (65,75/34,25). B1 cho rằng Công ty T9 đã Văn bản số 11/2011/CV-PD
ngày 03/5/2011 thừa nhận khó khăn nên chưa đáp ứng tỷ lệ vốn vay/vốn tự có theo
Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng, nên đình chỉ cho vay thu hồi nợ
trước hạn, nhưng B1 không cung cấp được Văn bản số 11/2011/CV-PD cho Tòa
án. Như vậy, Công ty T9 đã đảm bảo tỷ lệ vốn vay/vốn tự theo thỏa thuận tùy
từng giai đoạn, nên do “chưa đảm bảo tỷ lệ vốn vay/vốn tự có” không thuộc
trường hợp được đình chỉ cho vay theo khoản 5 Điều 13 Hợp đồng tín dụng số
3989.
Công ty T9 sử dụng vốn đúng mục đích, không vi phạm bất kỳ điều khoản
nào, nên việc B1 ngừng giải ngân số tiền 25.404.226.775 đồng vốn vay còn lại đã
vi phạm nghiêm trọng khoản 1 Điều 13 Hợp đồng tín dụng số 3989, quy định B1
“có trách nhiệm cung ứng vốn vay theo yêu cầu của Bên vay đã ghi trong hợp
đồng này”, dẫn đến hậu qung ty T9 không thể thanh toán tiền thuê đất, nhà
thầu thiết bị dự án, cụ thể: theo Phán quyết số 32/12 ngày 13/6/2013 của Trung
tâm T12 bên cạnh Phòng T13 (V3), V3 buộc Công ty T9 thanh toán cho Công ty
Cổ phần Đ1 (Công ty Đ1) nợ gốc: 3.318.493.710 đồng, lãi phạt: 27.139.000 đồng,
phí trọng tài: 163.432.401 đồng, tổng cộng: 3.509.065.111 đồng. ng ty T9 yêu
cầu B1 bồi thường 70% số tiền thanh toán cho Phương N1 2.322.945.597 đồng
và toàn bộ tiền lãi phạt 27.139.000 đồng và phí trọng tài 163.432.401 đồng, tổng số
tiền B1 phải bồi thường là 2.513.516.998 đồng. Ngoài ra, Công ty P1 các hợp đồng
mua hàng với Công ty Trách nhiệm hữu hạn A1 (Công ty A1) ngày 12/4/2010
02/10/2010 để phục vụ đầu dự án. Tháng 02/2011, Công ty T9 phải huy động
nguồn vốn để thanh toán cho Công ty A1 P 2.003.832.820 đồng, nên B1 bồi
thường 70% khoản tiền đã thanh toán cho ng ty A1, tương ứng 1.402.682.974
đồng. Việc B1 yêu cầu về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố
14
đòi 02 khoản tiền bồi thường của Công ty T9 không căn cứ, theo khoản 1
Điều 15 và khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu được tính t
thời điểm người quyền biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm
yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Công ty T9 chỉ xác định rõ quyền lợi bị xâm phạm từ năm 2020, nên yêu cầu phản
tố vẫn hợp pháp đề nghị Tòa án bảo vệ quyền tài sản đối với các khoản tiền đã
phải thanh toán cho Công ty Đ1 Công ty A1 do hậu quả từ việc B1 không giải
ngân.
Đối với việc B1 yêu cầu thanh toán 280.482.588.316 đồng tiền lãi: Điều 4
Hợp đồng tín dụng số 3989 quy định:“1. Lãi suất cho vay 10,5%/năm. Lãi suất
được điều chỉnh 06 tháng một lần theo nguyên tắc bằng lãi huy động tiết kiệm dân
niêm yết tại B1 loại trả lãi sau, kỳ hạn 12 tháng cộng (+) phí tối thiểu
3%/năm, nhưng không vượt quá 150% lãi suất bản tại thời điểm điều chỉnh”.
B1 đã cơ cấu nợ cho khoản vay theo thỏa thuận với Công ty T9 theo Thông báo số
157/TB-BIDV.SG ngày 7/9/2010; Thông báo số 65/TB-BIDV.SG ngày
19/01/2012 Công văn số 328/CV-BIDV.SG, ngày 20/5/2014. Do đó, lãi suất
trong thời gian cơ cấu nợ bằng lãi suất nợ trong hạn tại thời điểm cơ cấu. Như vậy,
mức lãi suất tối đa được áp dụng là:
- Từ ngày 01/9/2009 đến ngày 30/9/2010: 150% x 7%/năm = 10,5%/năm.
- Từ ngày 01/10/2010 đến ngày 4/11/2010: 150% x 8%/năm = 12%/năm.
- Từ ngày 5/11/2010 đến thời điểm hiện nay: 150% x 9%/năm = 13%/năm.
Thực tế, B1 đã nhiều lần áp dụng lãi suất vượt trần thỏa thuận, nên B1 yêu
cầu Công ty T9 thanh toán 280.482.588.316 đồng tiền lãi hoàn toàn không
căn cứ.
Đối với việc B1 tính lãi quá hạn 51.073.864.401 đồng: Công ty T9 không
nghĩa vụ trả lãi phát sinh sau ngày 18/4/2011 vì B1 đã vi phạm nghĩa vụ giải ngân;
hơn nữa, vào ngày 20/5/2014, B1 đã Công văn 328/CV-BIDV.SG cấu thời
hạn vay đến hết năm 2024 cho Công ty T9. Do đó, việc B1 tính lãi quá hạn
51.073.864.401 đồng trong thời gian đã được cấu nợ trái thỏa thuận giữa 02
bên không đúng khoản 8 Điều 2 Thông 39/2016/TT-NHNN quy định “Thời
hạn cho vay khoảng thời gian được tính từ ngày tiếp theo của ngày tổ chức tín
dụng giải ngân vốn vay cho khách hàng cho đến thời điểm khách hàng phải trả hết
nợ gốc lãi tiền vay theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng”; Công
văn 1576/NHNN-CSTT ngày 14/3/2017 quy định “trường hợp được gia hạn nợ, tổ
chức tín dụng không được áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với dư nợ gốc được gia
hạn trong thời gian được gia hạn nợ” (Giải đáp tại câu hỏi số 16). Căn cứ Công
văn 328/CV-BIDV.SG, B1 phải cơ cấu lại thời hạn vay của Công ty T9 đến hết
năm 2034.
Công ty T9 nhận được Công văn số 689/CV-BIDV.SG đề ngày 7/10/2014 của
B1 về việc Ngân hàng bán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3989 cho VAMC
15
đính kèm theo Hợp đồng mua, bán nợ số 4180/MBN.VAMC1-BIDV ngày
26/9/2014. Lúc này, Công ty T9 được biết B1 phân loại khoản tiền vay theo Hợp
đồng tín dụng số 3989 vào nhóm 3 Nợ dưới tiêu chuẩn, nợ xấu theo quy định
tại khoản 8 Điều 3 Thông tư số 01/VBHN-NHNN ngày 31/03/2014 của Ngân hàng
N4. Việc B1 phân loại khoản tiền vay vào nhóm 3 là không đúng khoản 2 Điều 19
Thông 39/2016/TT-NHNN làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi, uy
tín của Công ty T9.
Đối với Hợp đồng thế chấp số 3990:
Hợp đồng thế chấp số 3990 chỉ tả lược tài sản quy định sau khi tài
sản hình thành phải “ký biên bản thống nhất gtrị để m căn cứ thế chấp
hoàn thiện các thủ tục công chứng, đăng bảo đảm”; đồng thời phải lập phụ lục
xác định tài sản, đặc điểm giá trị tài sản. Thực tế, các bên không phụ lục
mô tả cụ thể tài sản đã hình thành. Hồ sơ, hợp đồng, hóa đơn VAT mà B1 đã mượn
phục vụ thanh tra không thuộc phạm vi tài sản phải bàn giao theo Điều 7 Hợp đồng
thế chấp số 3990. Do đó, Công ty T9 chỉ chấp nhận xử lý 111 tài sản có trong danh
sách đăng ký giao dịch bảo đảm, mà không được phát mãi toàn bộ công trình, máy
móc, dây chuyền của dự án.
Ngoài ra, tại thời điểm ký Hợp đồng thế chấp số 3990, Công ty T9 chưa được
sang tên, chưa GCNQSDĐ, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất không được
công chứng, chứng thực theo điểm a khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2003, tại
khoản 10 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định
số 163/2006/NĐ-CP. Mặt khác, tổ chức thuê lại đất trong khu công nghiệp chỉ
được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê, không được thế
chấp quyền sử dụng đất thuê. Do đó, phần thế chấp quyền sử dụng đất diện tích
60.194 tại các D1 đến D6 thuộc Khu công nghiệp N hình thành từ vốn vay
đã vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 106, Điều 111 của Luật
Đất đai năm 2003; Điều 128, Điều 136, Điều 320, Điều 322, Điều 411 của Bộ luật
Dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định 163/2006/NĐ-CP; khoản 2
Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012; khoản 4 Điều 10 Nghị định
21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021, nên B1 không được quyền xử lý, phát mãi tài sản
này. Giao dịch dân sự hiệu do vi phạm điều cấm thì không áp dụng thời hiệu
khởi kiện.
Do đó, Công ty T9 không chấp nhận yêu cầu độc lập của B1 yêu cầu Công ty
T9 thanh toán tiền lãi vay, tiền lãi quá hạn, xử lý tài sản thế chấp hình thành từ vốn
vay Quyền sử dụng đất diện tích 60.194 m
2
từ D1 đến D6 tại Khu công
nghiệp N, huyện B, tỉnh Long An xử toàn bộ công trình trên đất, máy móc,
thiết bị dây chuyền, công nghệ tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty T9 trên
đất.
Công ty T9 yêu cầu phản tố đối với B1 như sau:
16
1. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 3990 hiệu một phần đối với nội dung
thế chấp tài sản hình thành tvốn vay Quyền sử dụng đất do vi phạm điều cấm
của pháp luật.
2. Buộc B1 bồi thường thiệt hại và lãi chậm trả phát sinh tính đến ngày xét xử
cho Công ty T9 do vi phạm Hợp đồng tín dụng số 3989, tổng số tiền (tạm tính)
3.916.199.972 đồng, trong đó:
- Thiệt hại do Công ty T9 phải thanh toán và bồi thường cho Công ty Đ1 (tạm
tính), phí trọng tài thương mại cho VIAC tổng số tiền là 2.513.516.998 đồng;
- Thiệt hại do Công ty T9 phải thanh toán và bồi thường cho ng ty A1 (tạm
tính) số tiền là 1.402.682.974 đồng.
3. Buộc B1 hoàn trả lại cho Công ty T9 toàn bộ bản gốc các hợp đồng, chứng
từ, hóa đơn đã được Công ty T9 tạm bàn giao cho B1 theo Biên bản Danh sách
hồ sơ tài sản dự án kho lạnh bàn giao ngày 25/3/2011.
4. Buộc B1 điều chỉnh dữ liệu tín dụng và phân loại lại khoản nợ của Công ty
T9 theo Hợp đồng tín dụng số 3989 vào nhóm nợ rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm
1) tại Trung tâm T10.
Trường hợp ngay sau khi bản án, quyết định hiệu lực pháp luật nhưng
B1 không thực hiện điều chỉnh dữ liệu tín dụng phân loại lại nhóm nợ, Công ty
T9 được quyền yêu cầu Trung tâm T10 điều chỉnh lại nhóm nợ theo bản án, quyết
định có hiệu lực của Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
5. Buộc B1 cấu lại khoản nợ tiền vay phải trả theo Hợp đồng tín dụng
số 3989 cho Công ty T9 được thực hiện với tổng thời hạn cho vay là 25,5 năm, tức
từ ngày 07/07/2009 đến hết năm 2034.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày
Theo các Đơn khởi kiện ghi ngày 29/01/2018, 13/3/2018 (của Công ty Q1 của
các tổ chức tín dụng Việt Nam (V4), đơn khởi kiện ghi ngày 24/3/2026 trong
quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, Ngân hàng Thương mại Cphần Đ
(B1) do ông Lê Thượng L2 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty T9 kết 02 Hợp đồng số 01 02 với Công ty T8 làm dự án xây
dựng kho xưởng cho thuê. Để có vốn thực hiện dự án, ngày 07/7/2009, Công ty T9
đã kết Hợp đồng tín dụng số 3989 Hợp đồng thế chấp số 3990 với B1 như
Công ty T9 đã trình bày. Tài sản thế chấp là toàn bộ tài sản hình thành từ vốn vay,
bao gồm Quyền sử dụng đất thuê và tài sản gắn liền với đất (máy móc, thiết bị, dây
chuyền, công nghệ…) trên các D1, D2, D3, D4, D5, D6 (hiện tại thửa đất số
3263, tổng diện tích 60.194m
2
) tại Khu công nghiệp N, huyện B, tỉnh Long An.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng số 3989, t ngày 07/07/2009 đến ngày
18/04/2011, B1 đã giải ngân cho Công ty T9 tổng số tiền 174.595.773.225 đồng
trên tổng hạn mức 200 tỷ đồng, đạt 87,3% nghĩa vụ giải ngân.
17
Tuy nhiên, phía Công ty T9 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ B1 đã nhiều lần
phải cấu lại nợ cho Công ty T9, cụ thể: Lần 1: theo Thông báo số 157/TB-
BIDVSG ngày 07/9/2010, kéo dài thời hạn vay vốn tối đa là 9,5 năm, ân hạn trả nợ
gốc lãi vay đến hết năm 2010; Lần 2: theo Thông báo số 1019/TB-BIDVSG
ngày 12/8/2011, ân hạn lãi đến hết năm 2012; Lần 3: theo Thông báo số 65/TB-
BIDVSG ngày 19/01/2012, gia hạn nâng tổng thời gian vay lên 12 năm; Lần 4:
theo Công văn số 328/CV-BIDVSG ngày 20/5/2014, điều chỉnh thời hạn vay dự án
15,5 năm, đến hết năm 2024. Tuy nhiên, việc cấu nợ không đồng nghĩa với
miễn lãi hoặc miễn lãi quá hạn; B1 hoàn toàn không có văn bản miễn lãi hoặc giảm
lãi cho Công ty T9 nên Công ty T9 vẫn phải thanh toán đầy đủ lãi lãi phạt theo
quy định tại khoản 6 Điều 1, Điều 22 của Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN sửa đổi
Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, quy định về cấu lại thời hạn trả nợ, theo đó
khoản nợ được cơ cấu vẫn bị phân loại vào các nhóm nợ quá hạn tương ứng.
Đối với mức lãi suất tiền lãi, B1 đều gửi thông báo đến Công ty T9, cụ
thể: ngày 15/9/2011: điều chỉnh tăng lãi suất; ngày 16/7/2012 19/7/2012: giảm
lãi suất; ngày 12/6/2014: B1 tiếp tục thông báo về lãi suất cho vay; ngày
23/9/2014: Công ty T9 trả 200 triệu đồng tiền lãi; ngày 27/11/2014: tiếp tục trả 200
triệu đồng tiền lãi. Như vậy, việc Công ty P1 xác nhận các thông báo lãi suất
thực tế thanh toán lãi đã chứng minh Công ty T9 đã thừa nhận nghĩa vụ trả lãi
lãi quá hạn.
Tính đến ngày 27/5/2026, tổng nợ của Công ty T9 đối với B1
435.047.859.428 đồng, gồm: nợ gốc 107.635.533.903 đồng, lãi trong hạn
268.873.534.095 đồng lãi phạt quá hạn 58.538.791.430 đồng. Căn cứ Nghị
quyết 42/2017/QH14, khoản vay của Công ty T9 đã trở thành nợ xấu B1
quyền xử lý tài sản bảo đảm.
Đối với Hợp đồng thế chấp số 3990:
Công ty T9 yêu cầu vô hiệu 1 phần hợp đồng thế chấp không căn cứ.
Bởi lẽ:
Hợp đồng thế chấp số 3990 hiệu lực về chủ thể: B1 pháp nhân chức
năng cấp tín dụng. Công ty T9 pháp nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng
doanh nghiệp và hợp đồng thuê lại đất hợp pháp tại Khu công nghiệp N. Cả hai
bên trong hợp đồng thế chấp đều năng lực pháp luật, năng lực hành vi phù hợp.
Căn cứ Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng thế chấp đáp ứng điều
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Yêu cầu đòi lại đất của Công ty T8 xâm phạm quyền của B1 đối với tài sản
bảo đảm: Quyền sdụng đất thuê và toàn bộ tài sản trên đất tại các D1–D6 đã
được dùng để bảo đảm khoản vay tại B1. Nếu vô hiệu/hủy hợp đồng thuê đất hoặc
buộc trả lại đất thì B1 sẽ mất sở xử tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, được quy
định tại Điều 355 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị quyết 42/2017/QH14 về xử
nợ xấu của tổ chức tín dụng.
18
Hợp đồng thuê lại đất vẫn đang được tiếp tục thực hiện: mặc tại thời điểm
thế chấp, Công ty T9 chưa được cấp GCNQSDĐ, giao dịch thế chấp quyền sử
dụng đất chưa được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm, nhưng
Công ty T8 đã giao đất đầy đủ cho Công ty T9 quản lý, sử dụng; hai bên vẫn tiếp
tục thực hiện hợp đồng thuê lại đất. Công ty T9 đã xây dựng gần như toàn bộ công
trình, lắp đặt máy móc khai thác sdụng trên các D1D6. Ngày 06/12/2010,
Công ty T8 văn bản xác nhận biết việc thế chấp và không phản đối.
Hợp đồng thế chấp không hiệu do vi phạm hình thức. do đến nay giao
dịch thế chấp quyền sử dụng đất chưa thể đăng giao dịch bảo đảm, do Công
ty T9 chưa thanh toán tiền thuê đất còn lại theo 02 hợp đồng thuê lại đất đã ký, nên
Công ty T8 khởi kiện và không đồng ý hoàn tất các thủ tục pháp lý sang tên quyền
sử dụng đất cho ng ty T9. Do đó, các tài sản hình thành trên đất (kho) chưa thể
hoàn công, cấp Giấy chứng nhận sở hữu công trình. Tuy nhiên, căn cứ điểm a
khoản 1 Điều 174, điểm b khoản 1 Điều 318, khoản 2 Điều 320, Điều 342 Bộ luật
Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, thì quyền sử dụng
đất thuê tại Hợp đồng số 01 02 được xác định tài sản hình thành trong tương
lai đủ điều kiện tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp. Tại Biên bản hòa
giải lập ngày 06/9/2016 ngày 17/9/2020, đại diện Công ty T9 xác nhận việc đã
thế chấp quyền sử dụng đất D1D6 cho B1. Căn cứ Điều 122 của Bộ luật Dân sự
năm 2005, khoản 2 Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015, mặc hợp đồng thế
chấp vi phạm điều kiện về công chứng, nhưng đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ thì
Tòa án có thể công nhận hiệu lực.
Mặt khác, tính đến thời điểm Công ty T9 khởi kiện yêu cầu hiệu 1 phần
Hợp đồng thế chấp đối với tài sản quyền sử dụng đất, đã hết thời hiệu khởi
kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 1 và
khoản 2 Điều 132, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Toàn bộ công trình trên đất, máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ tài
sản khác nằm trên thửa đất Công ty T9 đã thế chấp cho B1 vào ngày 07/12/2010 đã
đăng giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng giao dịch tài sản Thành phố Hồ
Chí Minh.
Ngày 24/5/2024 Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ phối hợp
với Công ty Cổ phần T11 để kiểm số lượng tài sản theo Biên bản nghiệm thu
khối lượng công việc hoàn thành danh mục tài sản đã khảo sát hiện trạng gồm 99
tài sản Công ty P5 đang quản lý, sử dụng trên phần đất Lô D1, D2, D3, D4, D5
D6 tọa lạc tại khu công nghiệp N, huyện B, tỉnh Long An.
Hợp đồng thế chấp số 3990 đã được xác lập hợp pháp, không vi phạm điều
cấm của luật, được thực hiện công khai, liên tục trong thời gian dài nên cần được
pháp luật bảo vệ. Theo quy định tại Điều 355 của Bộ luật Dân sự năm 2005, B1
quyền xử lý tài sản thế chấp khi Công ty T9 không trả được nợ.
Đối với yêu cầu phản tố của Công ty T9, B1 có ý kiến như sau:
19
Về yêu cầu B1 bồi thường 3.916.199.972 đồng là đã hết thời hiệu khởi kiện.
Về yêu cầu B1 hoàn trả hồ sơ dự án: ngày 25/03/2011, Công ty T9 bàn giao
hồ sơ, chứng từ, hóa đơn dự án kho lạnh cho B1 theo Biên bản danh sách hồ
tài sản dán kho lạnh. Việc B1 giữ hồ là để thực hiện nghĩa vụ theo khoản 4
Điều 12 Hợp đồng thế chấp số 3990. Đến nay khoản vay vẫn chưa được thanh toán
hết, nên B1 không đồng ý trả lại toàn bộ hồ sơ gốc cho Công ty T9.
Về yêu cầu phân loại nợ và tiếp tục cấu nợ đến năm 2034: căn cứ các Điều
4, 8, 9, 10, 11 Thông 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ sdụng thông tin
tín dụng; Điều 4 Thông 02/2023/TT-NHNN về điều kiện cấu lại thời hạn trả
nợ, nợ hiện nay của Công ty T9 hơn 435 tỷ đồng, nên B1 không thể điều chỉnh
khoản vay xuống nhóm nợ rủi ro thấp hơn và Công ty T9 cũng không đáp ứng điều
kiện để được tiếp tục cơ cấu nợ đến hết năm 2034.
Do đó, B1 khởi kiện yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án giải quyết:
1. Buộc Công ty P5 trả nợ vay cho B1 đại diện theo ủy quyền là B1 Chi
nhánh S với tổng số tiền gốc lãi đến hết ngày 27/5/2026 435.047.859.428
đồng, trong đó nợ gốc 107.635.533.903 đồng, nợ lãi trong hạn 268.873.534.095
đồng, nợ lãi phạt quá hạn 58.538.791.430 đồng tiền lãi phát sinh từ sau ngày
27/5/2026 theo lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đối với số tiền gốc
chậm trả cho đến khi thanh toán hết nợ gốc.
2. Trường hợp sau khi bản án hiệu lực, ng ty T9 không thực hiện nghĩa
vụ trnhoặc thực hiện nghĩa vtrả nợ không đầy đủ thì B1, đại diện theo ủy
quyền là B1 Chi nhánh S có quyền xử lý hoặc đề nghị cơ quan Thi hành án xử lý,
phát mãi tài sản bảo đảm là: Toàn bộ tài sản hình thành tHợp đồng số 01, số 02
các phụ lục hợp đồng đính kèm (nếu có), cụ thể Quyền sử dụng đất diện tích
60.194m
2
từ D1 đến D tọa lạc tại Khu công nghiệp N, huyện B, tỉnh Long
An toàn bộ công trình trên đất, máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ tài
sản khác thuộc sở hữu của Công ty P9 trên thửa đất trên.
Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì Công ty T9 phải tiếp
tục thanh toán nợ cho B1 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Ủy ban nhân dân tỉnh T Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T văn bản
trình bày:
Công ty T8 được Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh cấp Giấy chứng nhận
đầu số 50221000009 ngày 19/7/2007 đầu y dựng, kinh doanh kết cấu hạ
tầng Khu công nghiệp N với diện tích 105.951,8 hecta tại N, huyện B, tỉnh
Long An. Công ty T8 đã được UBND tỉnh giao đất tại các quyết định:
Đợt 1: Tại Quyết định số 2522/QĐ-UBND ngày 02/10/2007 diện tích
1.004.171,8m
2
để sử dụng vào mục đích xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu
công nghiệp để chuyển nhượng hoặc cho thuê, trong đó 281.570,5m
2
đất y
dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong khu công nghiệp.
20
Đợt 2: Tại Quyết định số 138/QĐ-UBND ngày 16/01/2009 diện tích
35.553m
2
để sử dụng vào mục đích xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công
nghiệp để chuyển nhượng hoặc cho thuê.
Tại Điều 2 các quyết định giao đất, UBND tỉnh giao UBND huyện B chỉ đạo
cho Phòng T14, UBND xã N xác định cụ thể mốc giới và bàn giao đất trên thực địa
cho Công ty T8 theo đúng vị trí và diện tích đã nêu tại Điều 1.
Công ty T8 đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính và đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số phát hành AH 159484 (số vào sổ T03263) do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L (nay Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) cấp ngày
24/3/2009 tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 03 tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay
B, tỉnh y Ninh), diện tích 1.026.767,8m
2
; thời hạn sử dụng đến ngày 02
tháng 10 năm 2057, mục đích sdụng: đất khu công nghiệp, nguồn gốc sử dụng:
Nhà nước giao đất có thu tiền.
Công ty T8 thực hiện hồ tách thửa được Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh L (nay Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T) cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số phát hành AQ 015205, số vào sổ 704739 ngày 10/11/2009 tại thửa
đất số 3263, tờ bản đồ số 03, tại xã N, huyện B, tỉnh Long An, diện tích 60.194m
2
,
nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Việc Công ty T8 cho Công ty T9 thuê lại đất bàn giao đất do thỏa thuận
giữa 02 đơn vị. Đối với yêu cầu của đương sự, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân B trình bày: Công ty T8 được giao đất 3 đợt, tuy nhiên
chỉ còn lưu trữ hồ giao đất theo Biên bản ngày 20/01/2009. Do đặc thù khu đất
bàn giao cho ng ty Cổ phần T8 các thửa đất nằm rải rác trong khu đất của
Công ty đã được UBND tỉnh giao đợt I. Các thửa đất hiện nay (giao thêm đợt II)
hiện Công ty đã san lắp toàn bộ mặt bằng nên không cần thiết phải cắm thêm cột
mốc ngoài thực tế, vậy khi bàn giao đất không gặp khó khăn do chưa giải tỏa đền
bù, di dời hộ dân xong. Thời điểm bàn giao đất chỉ có đại diện 3 bên là Công ty C
phần T8, Phòng i nguyên Môi trường huyện T14 UBND N. Ủy ban
nhân dân B không ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T trình bày:
Công ty T8 được Ban Q2 (nay Ban Quản Khu kinh tế tỉnh T) cấp Giấy
chứng nhận đầu số 50221000009 lần đầu ngày 19/7/2007 chứng nhận thay
đổi lần thứ 01 ngày 19/12/2011, hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công
nghiệp N, tổng vốn đầu 333,5 tỷ đồng. ng ty đã đăng tiến độ trên Giấy
chứng nhận đầu tư cho thuê lại đất từ tháng 8/2007 trở đi.
Đối với tranh chấp giữa các bên trong việc giao kết hợp đồng cho thuê lại đất,
Ban Quản lý Khu kinh tế không có ý kiến và xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa
án giải quyết vụ án.
21
Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) trình
bày:
Ngày 26/9/2014, VAMC B1 đã hợp đồng mua bán nợ số
4180/2014/MBN.VAMC1-BIDV về việc mua bán các khoản nợ của Công ty T9.
Ngày 19/9/2019, VAMC B1 hợp đồng mua bán nợ số 2057/2019/
BN.VAMC-BIDV, VAMC đã chuyển giao lại toàn bộ quyền chủ nợ, quyền
nghĩa vụ liên quan các khoản nợ tài sản bảo đảm của Công ty T9 cho B1. Do
đó, B1 người quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ việc
nêu trên.
Trung tâm T10 (C) trình bày:
Căn cứ các quy định của pháp luật về hoạt động thông tin tín dụng (TTTD) và
các quy định khác liên quan, việc CIC thu nhận, xử lý, lưu giữ, bảo mật TTTD
của khách hàng vay tuân thủ đúng quy định về hoạt động TTTD của pháp luật
hướng dẫn từ Ngân hàng N4. CIC không phải chủ thể tham gia giao dịch đang
tranh chấp không phát sinh tranh chấp về quyền và nghĩa vụ với các bên đương
sự khác. Do vậy, CIC xin được giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án
giải quyết vụ án tại các cấp.
Quá trình giải quyết vụ án như sau:
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2024/KDTM-ST ngày 30
tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy 02 Hợp
đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08, Hợp đồng thuê lại đất số 02-01/TĐ-
CPTY-08 cùng ngày 8/01/2008 được xác lập giữa Công ty Cổ phần T9 Công ty
Cổ phần T8 tại thửa đất số 3263, tờ bản đsố 3, loại đất Khu ng nghiệp, diện
tích đo đạc thực tế 60.194m
2
, đất tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205, số vào scấp Giấy chứng
nhận T 04739 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho Công ty Cổ phần T8
ngày 10/11/2009.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cphần T9 về việc công nhận
hiệu lực pháp của 02 Hợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08, Hợp đồng
thuê lại đất số 02-01/TĐ-CPTY-08 cùng ngày 8/01/2008 (Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất) được xác lập giữa Công ty Cổ phần T9 Công ty Cổ
phần T8 tại thửa đất số 3263, tờ bản đồ số 3, loại đất Khu công nghiệp, diện tích
đo đạc thực tế 60.194m
2
, đất tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận T
04739 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho Công ty Cổ phần T8 ngày
10/11/2009.
22
Vị trí tứ cận diện tích nêu trên theo Mảnh trích đo địa chính số 01-2019 do
Công ty TNHH Đ2 vẽ ngày 08/10/2019, được Văn phòng đăng đất đai tỉnh L
duyệt ngày 25/10/2019 (đính kèm theo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm).
Công ty Cổ phần T9 được quyền liên hệ với quan Nhà nước thẩm
quyền để làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất
số 3263, tbản đồ số 6, diện tích 60.194m
2
, loại đất Khu công nghiệp, đất tọa lạc
tại N, huyện B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ
015205, số vào sổ cấp giấy chứng nhận T 04739 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh L cấp cho Công ty Cổ phần T8 ngày 10/11/2009 theo đúng quy định pháp luật
đất đai.
3. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T8
đối với bị đơn Công ty Cổ phần T9 về việc giải quyết hậu quả Hợp đồng thuê
QSDĐ số 01-01/TĐ-CPTY-08 và Hợp đồng thuê QSDĐ số 02-01/TĐ-CPTY-08
cùng ngày 08/01/2008 được xác lập giữa Công ty Cổ phần T8 Công ty Cổ phần
T15 có hiệu lực.
3.1. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần T9 có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho nguyên
đơn Công ty Cổ phần T8 số tiền thuê đất còn nợ của Hợp đồng thuê lại đất số 01-
01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008 với số tiền 5.792.447.292 đồng (Năm tỷ bảy
trăm chín mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi hai
đồng) và Hợp đồng thuê lại đất số 02-01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008 với số tiền
1.779.323.406 đồng (Một tỷ bảy trăm bảy mươi chín triệu ba trăm hai mươi ba
nghìn bốn trăm lẻ sáu đồng).
3.2. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải xuất hóa đơn thuế Giá trị gia tăng Công
ty T9 đối với số tiền 7.571.770.698 đồng (Bảy tỷ năm trăm bảy mươi mốt triệu
bảy trăm bảy mươi nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: Hóa đơn Giá
trị gia tăng cho Hợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08 ngày 8/01/2008 là:
5.792.447.292 đồng (Năm tỷ bảy trăm chín mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi bảy
nghìn hai trăm chín mươi hai đồng); hóa đơn VAT cho Hợp đồng thuê lại đất số
02-01/TĐ-CPTY-08 ngày 8/01/2008 là: 1.779.323.406 đồng (Một tỷ bảy trăm bảy
mươi chín triệu ba trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm lẻ sáu đồng) và số tiền bị đơn
Công ty Cổ phần T9 đã chuyển cho nguyên đơn Công ty Cổ phần T8 chưa xuất hóa
hóa 83.853.500 đồng (Bằng chữ: Tám mươi ba triệu tám trăm năm mươi ba
ngàn năm trăm đồng).
3.3. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần T9 phải bồi thường giá đất chênh lệch đối
với số tiền thuê đất còn nợ của Hợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08 ngày
08/01/2008 với số tiền 30.346.192.800 đồng Hợp đồng thuê lại đất số 02-
01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008 với số tiền 8.488.592.700 đồng, tổng cộng
38.834.785.500 đồng (Bằng chữ: Ba mươi tám ttám trăm ba mươi bốn triệu bảy
trăm tám mươi lăm ngàn năm trăm đồng).
Kể từ ngày Công ty Cổ phần T8 đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành án xong khoản tiền trong vụ án này, hàng tháng Công ty Cphần T9 n
23
chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa
thi hành án.
4. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần T9 đối
với nguyên đơn Công ty Cổ phần T8:
4.1. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải chịu mọi nghĩa vụ về thuế, i chính
nghĩa vụ khác có liên quan trong quá trình đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa đất số 3263, tờ bản đồ số 3, diện tích 60.194 m2, đất tọa lạc tại
N, huyện B, tỉnh Long An cho Công ty Cổ phần T16
4.2. Trường hợp Công ty Cổ phần T8 không thực hiện nghĩa vụ thuế, tài chính
các nghĩa vụ khác liên quan trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì Công ty Cổ phần T9 được quyền yêu cầu quan Thi hành án cưỡng
chế tài sản của Công ty Cổ phần T8 để đảm bảo việc thi hành án.
4.3. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải bồi thường thiệt hại và thanh toán tiền lãi
chậm trả do chậm bàn giao đất cho Công ty Cổ phần T9 theo Hợp đồng thuê lại
đất số 01-01/TĐ-CPTY-08, Hợp đồng thuê lại đất số 02-01/TĐ-CPTY-08 cùng
ngày 8/01/2008 tạm tính đến ngày 29/7/2024 2.218.172.179 đồng (bằng chữ:
Hai thai trăm mười tám triệu một trăm bảy mươi hai ngàn một trăm chín mươi
bảy đồng).
4.4. Buộc Công ty Cổ phần T8 chấm dứt các hành vi cản trở quyền sử dụng
đất của Công ty Cổ phần T9 tại thửa đất số 3263, tờ bản đồ số 3, diện tích 60.194
m2, đất tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An phải bàn giao cho Công ty Cổ
phần T9 bản gốc (chính) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205 do Ủy
ban nhân dân tỉnh L cấp ngày 10/11/2009 và các giấy tờ pháp lý khác có liên quan
đến thửa đất cho Công ty Cổ phần T16
5. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần T9 đối
với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đ:
5.1. Không đồng ý thanh toán tiền lãi theo yêu cầu Ngân hàng TMCP Đ tại
Hợp đồng tín dụng dài hạn số 3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 được c lập giữa
Ngân hàng TMCP ĐCông ty Cổ phần T16
5.2. Không đồng ý xử tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay Quyền sử
dụng tại thửa đất số 3263, tờ bản đồ số 3, diện tích đo đạc thực tế là 60.192 m2 từ
Lô D1 đến D6 tại Khu công nghiệp N, huyện B, tỉnh Long An.
5.3. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số
3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 được xác lập giữa Công ty Cphần T9 Ngân
hàng TMCP Đ Chi nhánh S (Ngân hàng TMCP Đ) bị hiệu một phần đối với
quyền sử dụng đất do vi phạm điều cấm của pháp luật.
5.4. Buộc Ngân hàng TMCP Đ bồi thường thiệt hại lãi chậm trả phát sinh
tính đến ngày xét xử cho Công ty Cổ phần T9 do vi phạm Hợp đồng tín dụng dài
24
hạn số 3989/2009/HĐ ký ngày 7/7/2009 giữa Công ty T9 và Ngân hàng TMCP Đ
Chi nhánh S tổng số tiền (tạm tính) 3.916.199.972 đồng (Ba tỷ, chín trăm mười
sáu triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm bảy mươi hai đồng).
5.5. Buộc Ngân hàng TMCP Đ điều chỉnh dữ liệu tín dụng phân loại lại
khoản n của Công ty Cổ phần T9 theo Hợp đồng tín dụng dài hạn số
3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP
Đ Chi nhánh S vào nhóm nrủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) tại Trung tâm
T10. Trường hợp ngay sau khi Bản án, quyết định hiệu lực pháp luật nhưng
Ngân hàng TMCP Đ không thực hiện điều chỉnh dữ liệu tín dụng phân loại lại
nhóm nợ, Công ty Cổ phần T9 được quyền yêu cầu Trung tâm T10 điều chỉnh lại
nhóm nợ theo Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
5.6. Buộc Ngân hàng Ngân hàng TMCP Đ cấu lại khoản nợ tiền vay
phải trả theo Hợp đồng tín dụng dài hạn s3989 cho Công ty Cổ phần T9 được
thực hiện với tổng thời hạn cho vay 25,5 năm, tức từ ngày 07/07/2009 đến hết
năm 2034.
5.7. Buộc Ngân hàng Ngân hàng TMCP Đ hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần
T9 bản gốc các hợp đồng, chứng từ, hóa đơn đã được Công ty Cổ phần T9 tạm bàn
giao cho Ngân hàng TMCP Đ theo Biên bản Danh sách htài sản dự án kho
lạnh bàn giao ngày 25/3/2011.
6. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ đối với Công ty Cổ
phần T16
6.1. Buộc Công ty Cổ phần T9 nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP
Đ tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/7/2024 395.683.122.219 đồng (Bằng chữ:
Ba trăm chín mươi lăm tỷ sáu trăm tám mươi ba triệu một trăm hai mươi hai ngàn
hai trăm mười chín đồng); trong đó: Nợ gốc: 115.700.533.903 đồng, nợ lãi:
280.482.588.316 đồng (lãi trong hạn: 232.043.315.865 đồng, lãi quá hạn:
48.439.272.219 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 30/7/2024, Công ty Cổ phần T9 còn phải tiếp
tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của stiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi
suất mà các bên đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng dài hạn số 3989/2009/HĐ
ký ngày 07/7/2009 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
6.2. Tiếp tục Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số
3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 được xác lập giữa Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ
(Ngân hàng TMCP Đ) và Công ty Cổ phần T16
Trường hợp sau khi Bản án có hiệu lực, Công ty Cổ phần T17 thực hiện nghĩa
vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP Đ,
quyền xử hoặc đề nghị cơ quan Thi hành án xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm
là:
25
Toàn bộ tài sản hình thành tHợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08,
Hợp đồng thuê lại đất số 02-01/TĐ-CPTY-08 cùng ngày 8/01/2008 (Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất) được xác lập giữa Công ty Cổ phần T9
Công ty Cổ phần T8 tại thửa đất số 3263, t bản đồ số 3, loại đất Khu công
nghiệp, diện tích đo đạc thực tế 60.194m
2
, đất tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh
Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205, số vào sổ cấp
Giấy chứng nhận T 04739 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho Công ty
Cổ phần T8 ngày 10/11/2009.
Toàn bộ công trình trên đất, máy móc, thiết bị dây chuyển, công nghệ tài
sản khác theo Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành ngày
24/5/2024 do Công ty Cổ phần T11 thể hiện; Danh mục tài sản đã khảo sát hiện
trạng gồm tổng cộng 99 (chín mươi chín) tài sản của Công ty P5 đang quản lý,
sử dụng trên phần đất tranh chấp tại thửa đất số 3263, tờ bản đồ số 3, loại đất
Khu công nghiệp, diện tích đo đạc thực tế là 60.194m
2
, đất tọa lạc tại N, huyện
B, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205, số vào sổ
cấp Giấy chứng nhận T 04739 do Sở i nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho
Công ty Cổ phần T8 ngày 10/11/2009.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng; án
phí; quyền kháng cáo; quyền yêu cầu, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án.
Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 07/2025/KDTM-PT ngày 24
tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xử (tóm tắt):
Hủy Bản án thẩm số: 08/2024/KDTM-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của
Toà án nhân dân huyện Bến Lức. Chuyển hồ vụ án về Tòa án nhân dân huyện
Bến Lức giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 06/2026/KDTM-ST ngày 02
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4-Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
“1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần
T8 về việc yêu cầu hiệu hợp đồng thuê lại đất khu công nghiệp N-Bến Lức số
01-01/TĐ-CPTY-08 hợp đồng số 02-01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008 giữa
Công ty Cổ phần T8Công ty Cổ phần T16
1.1. Vô hiệu 02 hợp đồng thuê lại đất khu công nghiệp N-Bến Lức số 01-
01/TĐ-CPTY-08 và hợp đồng số 02-01/TĐ-CPTY-08 cùng ngày 08/01/2008 giữa
Công ty Cổ phần T8Công ty Cổ phần T16
1.2. Công ty Cổ phần T8 được quyền sử dụng đất tại khu B diện tích
30.093,8m
2
, loại đất SKK, thuộc một phần thửa đất số 3263, tờ bản đồ cũ số 03 (tờ
bản đồ mới số 29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây
Ninh).
Công ty Cổ phần T9 nghĩa vụ tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gắn liền với
đất tại khu B diện tích 30.093,8m
2
, loại đất SKK, thuộc một phần thửa 3263, tờ
26
bản đồ cũ số 03 (tờ bản đồ mới số 29), tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An (nay
là xã B, tỉnh Tây Ninh) để trả lại quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần T8.
1.3. Công ty Cổ phần T9 nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần T8
tổng số tiền 107.591.217.862 đồng (một trăm lẻ bảy tỷ năm trăm chín mươi mốt
triệu hai trăm mười bảy nghìn tám trăm sáu mươi hai đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của stiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi
hành án.
1.4. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần T8 về việc:
Công ty Cổ phần T9 được quyền sdụng đất đăng khai cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tại khu A diện ch 30.100,2m
2
,
loại đất SKK, thuộc một phần thửa 3263, tờ bản đồ cũ số 03 (tờ bản đồ mới số 29),
tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) ngay khi thanh
toán xong toàn bộ số tiền 107.591.217.862 đồng cho Công ty Cổ phần T8.
1.5. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 về việc:
Buộc Công ty Cổ phần T8 phải thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng thuê lại đất
số 01-01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008, hợp đồng thuê lại đất số 02-01/TĐ-
CPTY-08 ngày 08/01/2008 các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật để:
Điều chỉnh biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205
thuộc thửa đất số 3263, tờ bản đồ số 03 (t bản đồ mới số 29), diện tích
60.194m
2
, địa chỉ tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây Ninh) do
Ủy ban nhân dân tỉnh L (nay tỉnh Tây Ninh) cấp ngày 10/11/2009 để sang tên
người sử dụng đất là Công ty Cổ phần T9 ngay sau khi bản án hoặc quyết định của
Tòa án có hiệu lực thi hành; Trường hợp kể từ ngày Bản án, quyết định của Toà án
hiệu lực thi hành nhưng Công ty Cổ phần T8 không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ trong Bản án, quyết định hiệu lực pháp luật của Tòa án
thì Công ty Cphần T9 được toàn quyền liên hệ với quan Thi hành án, Văn
phòng đăng đất đai tỉnh T, SNông nghiệp Môi trường tỉnh T, Ủy ban nhân
dân tỉnh T, Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Tây Ninh các quan nhà nước
thẩm quyền khác để thực hiện thủ tục điều chỉnh biến động trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AQ 015205 hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại thửa đất số 3263, tờ bản đồ cũ số 03 (tờ bản đồ mới số 29), diện tích 60.194m2,
địa chỉ tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây Ninh), cụ thể như
sau:
Công ty Cphần T8 nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của thửa 3263 cho quan Nhà nước thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất để thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho Công ty Cổ phần T8 Công ty Cổ phần T9 theo quy định của pháp
luật.
27
Trường hợp bên nghĩa vụ không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền, Sở Nông nghiệp và Môi
trường tỉnh T, Văn phòng đăng đất đai tỉnh T, Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai khu vực B, Ban quản khu kinh tế tỉnh Tây Ninh các quan liên
quan căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án trình quan Nhà nước thẩm
quyền để thu hồi, chỉnh biến động hoặc hủy để cấp lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng cho các bên phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
1.6. quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án,
quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được
xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp các
bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án
thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 đối với các yêu
cầu sau đây:
2.1. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải chịu mọi nghĩa vụ về thuế, tài chính liên
quan để điều chỉnh biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ
015205 thuộc thửa đất số 3263, tờ bản đồ cũ số 03 (tờ bản đồ mới số 29), diện tích
60.194m
2
, địa chỉ tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây Ninh) do
Ủy ban nhân dân tỉnh L (nay tỉnh Tây Ninh) cấp ngày 10/11/2009 để sang tên
người sử dụng đất là Công ty Cổ phần T16
2.2. Buộc Công ty Cổ phần T8 chấm dứt các hành vi cản trở quyền sử dụng
đất của Công ty Cổ phần T9 thuộc thửa đất số 3263, tờ bản đồ cũ số 03 (tờ bản đồ
mới số 29), diện tích 60.194m
2
, địa chỉ tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay
B, tỉnh Tây Ninh). Ngay sau khi có Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật, Công ty Cổ phần T8 phải bàn giao cho Công ty Cổ phần T9 (chính) giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205 do y ban nhân dân tỉnh L (nay
Ủy ban nhân dân tỉnh T) cấp ngày 10/11/2009 các giấy tờ pháp khác liên
quan đến thửa đất mà Công ty Cổ phần T9 đã thuê của Công ty Cổ phần T8.
2.3. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải bồi thường thiệt hại và thanh toán tiền lãi
chậm trả đến ngày xét xử do vi phạm hợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08
ngày 08/01/2008, hợp đồng thuê lại đất số 02-01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008
chậm bàn giao đất cho Công ty Cổ phần T9, số tiền tạm tính 2.409.327.559
đồng (hai tỷ bốn trăm lẻ chín triệu, ba trăm hai mươi bảy nghìn, năm trăm năm
mươi chín đồng).
2.4. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải xuất hóa đơn thuế Giá trị gia tăng cho
Công ty Cổ phần T9 đối với số tiền 7.571.770.698 đồng (bảy tỷ năm trăm bảy
mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng).
28
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 về việc yêu cầu
hiệu hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số 3990/2009/HĐ ngày
07/7/2009 được xác lập giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP Đ đối với
phần thế chấp quyền sử dụng đất từ 02 hợp đồng thuê lại đất khu công nghiệp số
01-01/TĐ-CPTY-08 và hợp đồng số 02-01/TĐ-CPTY-08, cụ thể như sau:
Vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số
3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP Đ
Chi nhánh S đối với quyền sử dụng đất tại khu A diện tích 30100,2m
2
; khu B diện
tích 30093,8m
2
, loại đất SKK, thuộc thửa 3263, tờ bản đồ số 03 (tờ bản đồ mới
số 29), tọa lạc tại xã N, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 về việc: Buộc Ngân
hàng TMCP Đ bồi thường thiệt hại lãi chậm trả phát sinh tính đến ngày xét xử
cho Công ty Cổ phần T9 do vi phạm hợp đồng tín dụng dài hạn số 3989/2009/HĐ
ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh
S tổng số tiền là 3.916.199.972 đồng do hết thời hiệu khởi kiện.
5. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 về việc:
Buộc Ngân hàng TMCP Đ hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần T9 bản gốc các hợp
đồng, chứng từ, hóa đơn đã được Công ty Cphần T9 tạm bàn giao cho Ngân
hàng TMCP Đ theo Biên bản Danh sách hồ tài sản dự án kho lạnh bàn giao
ngày 25/3/2011, cụ thể như sau:
Buộc Ngân hàng TMCP Đ trả lại cho Công ty Cổ phần T9 bản gốc các hợp
đồng, chứng từ, hóa đơn đã được Công ty Cổ phần T9 bàn giao cho Ngân hàng
TMCP Đ theo Biên bản Danh sách hồ tài sản dự án kho lạnh bàn giao ngày
25/3/2011 ngay khi Công ty Cổ phần T9 thanh toán xong toàn bộ nợ gốc và tiền lãi
theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng dài hạn số 3989/2009/HĐ ký ngày
07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh S.
6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 đối với các yêu
cầu sau đây:
6.1. Buộc Ngân hàng TMCP Đ điều chỉnh dữ liệu tín dụng phân loại lại
khoản nợ của Công ty Cổ phần T9 theo hợp đồng tín dụng dài hạn số
3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP
Đ Chi nhánh S vào nhóm nrủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) tại Trung tâm
T10. Trường hợp ngay sau khi Bản án, quyết định hiệu lực pháp luật nhưng
Ngân hàng TMCP Đ không thực hiện điều chỉnh dữ liệu tín dụng phân loại lại
nhóm nợ, Công ty Cổ phần T9 được quyền yêu cầu Trung tâm T10 điều chỉnh lại
nhóm nợ theo Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
6.2. Buộc Ngân hàng TMCP Đ cấu lại khoản nợ tiền vay phải trả theo
hợp đồng tín dụng dài hạn số 3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ
phần T9Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh S cho Công ty Cổ phần T9 được thực
29
hiện với tổng thời hạn cho vay là 25,5 năm, tức từ ngày 07/7/2009 đến hết năm
2034.
7. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ về việc:
7.1. Buộc Công ty Cổ phần P5 trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP Đ với tổng
số tiền gốc lãi đến hết ngày 27/5/2026 376.752.798.593 đồng (ba trăm bảy
mươi sáu tỷ, bảy trăm năm mươi hai triệu, bảy trăm chín mươi tám nghìn, năm
trăm chín mươi ba đồng), (trong đó nợ gốc 107.635.533.903 đồng, nợ lãi trong
hạn 268.873.534.095 đồng nợ lãi quá hạn 243.730.595 đồng) tiền lãi phát
sinh sau ngày 27/5/2026 theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng dài hạn
số 3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng
TMCP Đ Chi nhánh S cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng
TMCP Đ.
Công ty Cphần T9 còn nghĩa vụ trtiền lãi phát sinh cho Ngân ng
TMCP Đ từ ngày 28/5/2026 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng dài
hạn s3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 các văn bản kèm theo hợp đồng này
cho đến khi thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi nêu trên.
7.2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ về việc buộc
Công ty Cổ phần P5 nghĩa vụ tiền lãi quá hạn với số tiền 58.207.511.206 đồng
(năm mươi tám tỷ, hai trăm lẻ bảy triệu, năm trăm mười một nghìn, hai trăm lẻ sáu
đồng).
8. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ về việc:
Trường hợp sau khi Bản án hiệu lực, Công ty Cổ phần T17 thực hiện nghĩa vụ
trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP Đ
quyền xử hoặc đề nghị cơ quan Thi hành án xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm là:
Toàn btài sản hình thành từ các Hợp đồng thuê lại đất Khu công nghiệp N - B
số: 01-01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008 Hợp đồng thuê lại đất Khu công
nghiệp N - B số: 02-01/-CPTY-08 ký ngày 08/01/2008 giữa Công ty Cổ phần T9
Công ty Cổ phần T8 các phụ lục hợp đồng đính kèm (nếu có) của các đất
tại vị trí D1, D2, D3, D4, D5, D6 Khu công nghiệp N, huyện B, tỉnh Long An với
tổng diện tích 60.194m2 đất, cụ thể quyền sử dụng đất thuộc thửa 3263, tờ bản
đồ số 03 (tờ bản đồ mới s29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay
B, tỉnh Tây Ninh); Toàn bộ công trình gắn liền trên diện tích 60.194m2 đất;
Toàn bộ máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ tài sản khác thuộc sở hữu
của Công ty P9 trên thửa đất trên theo hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ
vốn vay số 3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 và Ngân hàng
TMCP Đ Chi nhánh S, cụ thể như sau:
8.1. Trường hợp sau khi Bản án hiệu lực, Công ty Cổ phần T17 thực hiện
nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, Ngân hàng TMCP Đ
quyền xử hoặc đề nghị cơ quan Thi hành án xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm
là: Toàn bộ công trình gắn liền trên trên thửa 3263, tờ bản đồ cũ số 03 (tờ bản đồ
mới số 29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây Ninh)
30
thuộc sở hữu của Cổ phần Thương mại Dịch vụ T9; máy móc, thiết bị, dây chuyền,
công nghệ tài sản khác thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần P9 trên thửa 3263,
tờ bản đồ số 03 (tờ bản đồ mới số 29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An
(nay B, tỉnh Tây Ninh) theo hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay
số 3990/2009/HĐ ngày 7/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9Ngân hàng TMCP Đ
Chi nhánh S.
8.2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ về việc:
Trường hợp sau khi Bản án hiệu lực, Công ty Cổ phần T17 thực hiện nghĩa vụ
trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP Đ
quyền xử hoặc đnghị quan Thi hành án xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm
quyền sử dụng đất thuộc thửa 3263, tờ bản đồ số 03 (tờ bản đồ mới số 29), tọa
lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay là B, tỉnh Tây Ninh) theo hợp đồng thế
chấp tài sản hình thành tvốn vay số 3990/2009/ngày 7/7/2009 giữa Công ty
Cổ phần T9Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh S.
(Tất cả theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 01-2019 của Công ty TNHH
Đ2 vẽ ngày 08/10/2019 được Văn phòng đăng đất đai tỉnh L duyệt ngày
25/10/2019; Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu ngày 17/3/2026 của Công ty
TNHH Đ3).
9. Về chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ:
9.1. Công ty Cổ phần T8 đã nộp tạm ứng 405.380.000 đồng. Do yêu cầu khởi
kiện của Công ty Cổ phần T8 được chấp nhận nên bị đơn Công ty Cổ phần T9
nghĩa vụ trả lại cho Công ty Cổ phần T8 số tiền 405.380.000 đồng (bốn trăm lẻ
năm triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng).
9.2. Chi phí định giá xem xét thẩm định tại chỗ do Ngân hàng TMCP Đ
nộp tạm ứng 119.000.000 đồng. Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP Đ
mỗi bên phải chịu ½ chi phí này. Do Ngân hàng TMCP Đ đã nộp tạm ứng n
Công ty Cổ phần T9 nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ 59.500.000 đồng
(năm mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).
9.3. Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án n
phải chịu khoản tiền i của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian
chưa thi hành án.
10. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
10.1. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí Công ty Cổ Phần T8 đã nộp là 70.276.270
đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 02860 ngày 05/01/2016;
300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002323, số tiền
300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0002324 cùng
ngày 04/9/2020. Tất cả các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đều của Chi
31
cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An (nay Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh).
10.2. Buộc Công ty Cổ phần T9 phải chịu 807.530.568 đồng. Khấu trừ tiền
tạm ứng án phí Công ty Cổ phần T9 đã nộp 32.852.500 đồng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008270 ngày 09/11/2021; s tiền 55.162.000
đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008557 ngày 28/02/2022;
số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008558
ngày 28/02/2022; số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0006834 ngày 20/12/2023; số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006854; số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí a án số 0006855 số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006856; cùng ngày 04/01/2024. Tất cả các Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đều của Chi cục Thi hành án dân shuyện
Bến Lức, tỉnh Long An (nay Thi hành án dân sự tỉnh T); 6.000.000 đồng theo
Biên lai thu tạm ứng án psố 0002007 ngày 27/01/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh. Như vậy, Công ty Cổ phần T9 còn phải nộp tiếp 698.516.068 đồng
(sáu trăm chín mươi tám triệu năm trăm mười sáu nghìn không trăm sáu mươi tám
đồng) án phí sung công quỹ Nhà nước.
10.3. Ngân hàng TMCP Đ phải chịu 175.207.511 đồng. Khấu trừ
210.530.777 đồng tiền tạm ứng án phí Ngân hàng TMCP Đ đã nộp (thông tin
người nộp trước đây Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt
Nam) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006303 ngày 20/3/2018
tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ
35.323.266 đồng (ba mươi lăm triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm sáu
mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí còn thừa. ”
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền thời hạn kháng cáo, việc thi
hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/6/2026, Công ty T8 kháng cáo một phần bản án thẩm, không
đồng ý bồi thường cho Công ty P10 tiền chênh lệch tỷ giá USD 8.048.477.261
đồng.
Ngày 15/6/2026, B1 kháng cáo không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công
ty T8 vviệc hiệu hợp đồng số 01 02, không công nhận cho Công ty T8
được sử dụng khu B; không chấp nhận bản án thẩm tuyên Công ty T9 được sử
dụng khu A chỉ sau khi đã trả đủ tiền cho Công ty T8; yêu cầu ng ty T9 trả nợ
lãi quá hạn không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty T9 về việc hiệu
hợp đồng thế chấp, đề nghị công nhận hiệu lực đầy đủ của hợp đồng thế chấp, chấp
nhận toàn bộ yêu cầu của B1 về xử tài sản bảo đảm quyền thu hồi ntheo
hợp đồng tín dụng; không đồng ý chịu án phí đối với nghĩa vụ hoàn trả chứng từ,
giấy tờ về tài sản thế chấp cho Công ty T9.
32
Ngày 16/6/2026, Công ty T9 kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, đề nghị
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T8 và yêu cầu độc lập của
B1; chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ng ty T9.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Vũ Tất T trình bày:
Công ty T8 và Công ty P1 Hợp đồng thuê lại đất Khu công nghiệp N-B, gồm:
Hợp đồng s01 Hợp đồng số 02 cùng ngày 08/01/2008. Nguồn gốc đất cho
thuê là Công ty T8 được Ủy ban nhân dân tỉnh G ngày 02/10/2007 theo Quyết định
số 2522/QĐ-UBND ngày 02/10/2007 về việc giao đất (Đợt 1) diện tích
1.004.171,8m
2
. Đến ngày 01/7/2008, Công ty T8 mới thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài
chính của đất giao Đợt 1. Ngày 16/01/2009 Công ty T8 được Ủy ban nhân dân tỉnh
G đất Đợt 2 theo Quyết định số 138/QĐ-UBND diện tích 35.553m
2
. Đến ngày
23/3/2009, Công ty T8 mới thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính của đất giao Đợt 2.
Hợp đồng số 01 gồm các D2 đến D5 diện tích 40.000m
2
Hợp đồng số
02 gồm Lô D1 và Lô D6 diện tích 20.000m
2
là nằm lẫn lộn giữa 02 đợt giao đất.
Ngày 24/3/2009, Công ty T8 được cấp GCNQSDĐ Khu công nghiệp Nhựt
Chánh tại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.026.767,8m
2
. Sau đó, Công ty
T8 thực hiện hồ sơ tách thửa được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp
GCNQSDĐ ngày 10/11/2009 tại thửa đất số 3263, tờ bản đồ số 03, diện tích
60.194m
2
phần diện tích cho Công ty T9 thuê. Tại Công văn số 7663/SNNMT-
VPĐKĐĐ ngày 20/4/2026 của Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T xác định
thửa 3263 gồm đất giao Đợt 1 và Đợt 2. Do đó, tại thời điểm cho thuê lại đất thì
1 phần diện tích Công ty T8 chưa được giao, chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài
chính. Căn cứ khoản 1 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2003 Nghị định số
181/2004/NĐ-CP của Chính phủ, thì Công ty T8 chưa quyền cho thuê lại đất
nếu chưa xong nghĩa vụ i chính. Ngoài ra, theo Luật Kinh doanh bất động sản
năm 2006, t đất Khu công nghiệp phải xong hạ tầng mới được đưa vào kinh
doanh. Do đó, đất chưa đảm bảo điều kiện cho thuê nên hợp đồng đã vô hiệu do vi
phạm điều cấm của luật. vậy, Công ty T8 không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của Công ty T9 B1 liên quan đến hiệu lực 02 hợp đồng thuê lại đất hợp
đồng thế chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thuê lại của Công ty T8.
Tại khoản 3.4 Điều 3 của 02 Hợp đồng số 01 và 02, các n thỏa thuận
thanh toán bằng đồng Việt Nam nên không thể tính chênh lệch tỷ giá. Đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của Công ty T8.
Đối với ý kiến của Công ty T9 tại phiên tòa phúc thẩm, thì Công ty T8 ý
kiến như sau:
Đến thời điểm hiện tại Công ty T8 chỉ nhận tổng cộng của Công ty T9 số tiền
thuê đất đã thanh toán (có VAT) là 37.454.201.593 đồng (ba mươi bảy tỷ bốn trăm
năm mươi bốn triệu, hai trăm lẻ một nghìn năm trăm chín mươi ba đồng), không
phải hơn 45 tỷ đồng như bị đơn đã nêu.
33
Việc Công ty T8 thay đổi yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn quyền sửa đổi, bổ sung nếu không vượt
quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu.
Trong cả hai Bộ luật Dân snăm 2005 năm 2015 đều quy định điều
cấm gì. Đối với xác nhận của Ban Quản Khu công nghiệp không căn cứ để
xác định hợp đồng vi phạm điều cấm hay không, phải căn cứ quy định của
pháp luật. Hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất có vi phạm điều cấm hay không thì
chính Công ty T9 đã tự mâu thuẫn với trình bày của mình, khi cho rằng Hợp đồng
thuê không vi phạm điều cấm, nhưng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (đất
thuê lại của ng ty T8) cho B1 thì vi phạm điều cấm.
Về việc Công ty T8 thế chấp quyền sử dụng đất trong thời gian cho Công ty
T9 thuê lại, thì căn cứ Điều 24 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ,
người cho thuê vẫn được quyền thế chấp quyền sử dụng đất.
Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các bên phải trả cho nhau những
đã nhận, tạo điều kiện cho Công ty T9 nên Công ty T8 vẫn chấp nhận giao
phần khu A Công ty T9 đã xây dựng nhà xưởng cho Công ty T9 tiếp tục thuê,
nếu Công ty T9 không đồng ý về giá thì ý kiến; nếu không đồng ý nhận đất thì
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy
định của pháp luật.
Công ty T8 không hề ý kiến đồng ý việc thế chấp tài sản giữa Công ty T9
B1. Công ty T9 B1 hợp đồng thế chấp năm 2009, nhưng đến ngày
06/10/2010 thì B1 mới gửi thông báo cho Công ty T8 biết việc thế chấp. Việc
Công ty T8 vào thông báo với tính chất xác định nhận được văn bản,
còn Công ty T8 không có văn bản bảo lãnh cho việc thế chấp của Công ty T9.
Đối với ý kiến của Công ty T9 B1 về việc đnghị ng nhận hiệu lực của
mục 1.5 phần quyết định của bản án thẩm, thì các mục 1.3, 1.4 1.5 phần
quyết định của bản án thẩm cách hiểu khác nhau, mặc Công ty T8 không
kháng cáo nhưng đề nghị Hội đồng xét xxem xét sửa cách tuyên án để đảm
bảo thi hành án sau này.
Luật sư Lê Ngọc L trình bày:
Đối với yêu cầu của Công ty T8:
Công ty T8 chỉ kháng cáo phần tiền chênh lệch tỷ giá. B1 kháng cáo không
liên quan đến mục 1.5 phần quyết định tại trang 79 của bản án sơ thẩm. Trong đơn
kháng cáo, mặc Công ty T9 ghi kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, nhưng
phần nội dung yêu cầu kháng cáo ghi từng nội dung xác định chỉ kháng
cáo 1 phần bản án sơ thẩm, theo đó ng ty T9 xác định không kháng cáo mục 1.5
phần quyết định của bản án thẩm. Do đó, đối với mục 1.5 tuyên “Chấp nhận
một phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 về việc: Buộc Công ty Cổ phần
T8 phải thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08
ngày 08/01/2008, hợp đồng thuê lại đất số 02-01/TĐ-CPTY-08 ngày 08/01/2008 và
34
các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” được hiểu là công nhận hiệu lực
của hợp đồng đnghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên mục 1.5 có hiệu lực
pháp luật.
Bản án sơ thẩm nhận định cho rằng 02 hợp đồng thuê lại QSDĐ giữa Công ty
T8 Công ty P11 điều cấm của luật không phù hợp, ngay từ khi khởi kiện
cho đến trước thời điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lần 2, thì Công ty T8 đều xác
định hợp đồng có hiệu lực. Đến tại phiên tòa sơ thẩm lần 2 thì Công ty T8 mới yêu
cầu hiệu hợp đồng do vi phạm điều cấm, nhưng lại không trình bày được hợp
đồng đã vi phạm điều cấm tại điều luật nào. Hợp đồng giữa hai công ty đã được
Ban Quản Khu công nghiệp tỉnh Q2 xác nhận theo yêu cầu của cả hai công ty,
đến trước thời điểm xét xử thẩm lần 2 thì Công ty T8 cũng không ý kiến
để cho rằng xác nhận của Ban Quản lý là không đúng pháp luật.
Điều 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về điều cấm; 02 hợp đồng số
01 02 nội dung không trái Điều 7 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006,
không bắt buộc phải GCNQSDĐ mới cho thuê. Công ty T9 đã thanh toán đủ
cho Công ty T8 hơn 40 tỷ đồng, pháp luật không cấm đây trong hợp đồng
giữa hai bên thì đất chchưa đủ điều kiện cho thuê. Tại phiên a phúc thẩm thì
người đại diện của Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T cũng trả lời đây
quyền của người sdụng đất, pháp luật không cấm chưa đủ thủ tục; nếu đã
được cấp GCNQSDĐ hoàn thành nghĩa vụ i chính tđã đủ điều kiện. Vài
tháng sau thì Công ty T8 đã được cấp GCNQSDĐ.
Mặt khác, nếu hợp đồng giữa 2 bên vi phạm điều cấm, Công ty T8 cũng
không chứng minh được việc vi phạm điều cấm đã gây thiệt hại như thế nào cho
Công ty T8 trật tự công cộng. Công ty T8 cho rất nhiều doanh nghiệp thuê đất
trong Khu công nghiệp N, nhưng chỉ khởi kiện Công ty T9. Bản án thẩm buộc
Công ty T9 trả tiền làm cho Công ty T8 được hưởng lợi 250 tỷ đồng. Bản án
thẩm không áp dụng đường lối giải quyết theo hướng dẫn tại Nghị quyết số
02/2004/NQ-TP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao và Án lệ số 55 khi giải quyết vụ án này là không đúng.
Bản án sơ thẩm ghi sự tự nguyện của Công ty T8 cho Công ty T9 sử dụng khu
A, trong khi không hỏi ý kiến của Công ty T9 về việc đồng ý nhận khu A hay
không chỉ tuyên theo ý chí của Công ty T8; đồng thời, quá trình quản sử
dụng đất từ nguồn vốn vay của B1 thì Công ty T9 đã làm tăng giá trị đất nhưng
không được xem xét, trái với nguyên tắc giải quyết hậu quả của hợp đồng
hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên lỗi gây thiệt hại thì phải
bồi thường. Tòa án cấp thẩm không cho Công ty T9 thời gian chuẩn bị đối
với giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu, không xem xét lỗi làm cho hợp đồng
vô hiệu. Do đó, đề nghị hủy Bản án sơ thẩm.
Bản án sơ thẩm cho rằng đất bị hộ ông Vi Thế D2 tranh chấp, nhưng thực chất
các bên không tranh chấp quyền sử dụng đất mà chỉ chưa thống nhất được tiền đền
35
bù, và hơn nữa diện tích tranh chấp rất nhỏ so với tổng diện tích đất mà Công ty T9
thuê.
Điều 106 của Luật Đất đai năm 2003 không quy định khi chưa thực hiện
nghĩa vụ tài chính thì không được quyền cho thuê. Luật Kinh doanh bất động sản
năm 2006 cũng không quy định. Nếu tại thời điểm này, Công ty T8 vẫn chưa được
cấp GCNQSDĐ chưa xong nghĩa vụ tài chính thì Công ty T9 chấp nhận hợp
đồng hiệu, nhưng đến thời điểm hiện nay thì Công ty T8 đã được cấp
GCNQSDĐ và cũng đã xong nghĩa vụ tài chính. Công ty P5 hơn 100 người lao
động và đã đóng góp cho địa phương, nếu buộc phải trả lại đất như bản án sơ thẩm
đã xét xử ảnh hưởng nghiêm trọng đến Công ty T9.
Công ty T8 đã đóng thuế 77 tđồng, chỉ còn nkhoảng 10 tỷ. Theo Thông
báo nộp thuế chỉ nêu nếu chậm đóng thì sẽ bị phạt chứ không phải không đủ điều
kiện để được cấp GCNQSDĐ.
Do đó, hợp đồng giữa Công ty T8 Công ty P12 bị vi phạm về điều kiện để
thực hiện quyền cho thuê lại.
Đối với yêu cầu của B1,
Hợp đồng thế chấp bhiệu hoàn toàn không u thuẫn gì với việc hợp
đồng thuê lại quyền sử dụng đất có hiệu lực. Hợp đồng thế chấp 3990 bị vô hiệu do
vi phạm điều cấm Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã hướng dẫn; đồng thời, tại
Quyết định Giám đốc thẩm số 01/2024/KDTM-GĐT ngày 08/01/2024 của Tòa án
nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã giải quyết vụ án tranh
chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần T18 với bị đơn Công
ty TNHH MTV T19 tình huống tương tự như trường hợp đang tranh chấp giữa
Công ty T9 B1 trong ván này. Do đó, đề nghị giữ nguyên phần tuyên hiệu
hợp đồng thế chấp số 3990.
Về phần lãi, Điều 12 và Điều 13 của Hợp đồng tín dụng số 3989 đã ghi B1
nghĩa vụ cấp tín dụng đúng tiến độ B1 chỉ có quyền đình chỉ cho vay, không có
quyền ngừng giải ngân. Công ty T9 đã đáp ứng đủ điều kiện vốn đối ứng. Hành vi
ngừng giải ngân của B1 đã gây thiệt hại cho Công ty T9 nên B1 lỗi. Do đó, đề
nghị chấp nhận yêu cầu của Công ty T9 đối với B1 về việc Công ty T9 không phải
trả lãi cho B1.
Các bản luận cứ phúc thẩm ghi ngày 27/8/2023 ngày 10/9/2026 của Luật
sư Lê Ngọc L đã nộp tại Tòa án phúc thẩm.
Ông Nguyễn Minh Q trình bày:
Công ty T9 kháng cáo yêu cầu đối với Công ty T8 như sau:
- Công ty T8 phải xuất hóa đơn VAT đối với số tiền 7.571.770.596 đồng
Công ty T9 đã thanh toán theo 02 hợp đồng thuê đất, gồm Hợp đồng số 01 số tiền
5.708.593.690 đồng và Hợp đồng số 02 số tiền 1.779.323.406 đồng.
36
- Công ty T8 phải bồi thường thiệt hại do chậm bàn giao đất;
- Công ty T8 phải chấm dứt hành vi cản trở Công ty P5 quyền của bên thuê.
Việc Công ty T8 chậm bàn giao đã thể hiện trong hồ vụ án. Đối với
hành vi của Công ty T8 cản trở quyền, được thể hiện qua việc Công ty T8 đã lấy
GCNQSDĐ để thế chấp cho nhiều ngân hàng, hưởng lợi lớn khi sử dụng nguồn
vốn vay này để tái đầu tư, nội dung này Bản án sơ thẩm lần 1 đã có nhận định.
Công ty T9 đã thanh toán xong toàn bộ tiền thuê đất cho Công ty T8 nên
Công ty T8 phải xuất đầy đủ hóa đơn VAT cho Công ty P13 đã thỏa thuận trong 2
hợp đồng thuê lại QSDĐ các bên đã thỏa thuận. Công ty T8 đã nhận sử
dụng tiền của Công ty P14, nay Bản án thẩm lại tuyên cho Công ty T8 được
hưởng thêm tiền, trong khi Công ty T8 đã thế chấp GCNQSDĐ để hưởng lợi.
Đối với yêu cầu của B1 thì Công ty T9 bổ sung ý kiến tranh luận như sau:
B1 phải bồi thường thiệt hại cho Công ty T9 do hành vi ngừng giải ngân trái
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, dẫn đến Công ty T9 phải hoàn trả cho Công ty
A1Công ty Đ1 như hồ sơ đã thể hiện.
Theo biên bản bàn giao tài sản ngày 25/3/2011, Điều 1 Điều 2 của Hợp
đồng thế chấp số 3990 thì hai bên không có thỏa thuận và cũng không lập Biên bản
hay phụ lục bổ sung xác định tài sản thế chấp và cũng không đăng ký giao dịch bảo
đảm. Do đó, B1 phải trả lại các giấy tờ này cho Công ty T9.
Bản án thẩm lần 2 đã tuyên cho B1 được quyền phát mãi tài sản của Công
ty T9 không căn cứ, nguồn tiền B1 giải ngân cho Công ty T9 từ năm
2009-2011, trong khi đó, một số tài sản của Công ty T9 không hình thành từ nguồn
vốn vay này nên không thể được xem tài sản bảo đảm đây tài sản riêng
của Công ty T9.
Công ty T9 kháng cáo yêu cầu B1 phải cấu lại khoản vay đánh giá lại
hạn mức tín dụng cho công ty.
B1 ngừng giải ngân dẫn đến Công ty T9 không trả lãi. Văn bản ngày
05/7/2022 B1 áp dụng lãi trong hạn và cách tính lãi cũng không đúng, nên đnghị
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại cách tính lãi của ngân hàng.
Ông Ngô Đoàn Quang V trình bày:
Hợp đồng giữa Công ty T8 Công ty T9 không vi phạm điều cấm, bởi lẽ,
theo Điều 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005, khi nào luật quy định không cho
phép thì mới gọi là cấm. Ban Quản Khu công nghiệp tỉnh Q2 đã xác nhận hợp
đồng giữa Công ty T8 và Công ty T9 không vi phạm điều cấm.
Trường hợp tranh chấp giữa ng ty T8 Công ty T9 phải được áp dụng
Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao Án lệ số 55 khi giải quyết tình huống pháp hoàn toàn
tương đồng.
37
Nếu hiệu hợp đồng, việc giải quyết buộc Công ty T9 phải tháo dỡ tài sản
xây dựng trên khu B không đúng, vì tại thời điểm Công ty T9 xây dựng hoàn
toàn không có quyết định ngăn chặn.
Tại thời điểm giao kết hợp đồng giữa Công ty T8 Công ty T9 hoàn toàn
đáp ứng điều kiện vchủ thể tham gia giao dịch; nếu chưa đáp ứng thì vài tháng
sau cũng đã xong vì hai bên vẫn tiếp tục thực hiện giao đất, nhận tiền. Nếu vô hiệu
hợp đồng như Bản án thẩm đã xử thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh
nghiệp và người lao động.
Luật sư Nguyễn Thị Ngọc Á trình bày:
Mục 1.5 phần quyết định tại trang 79 của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận hiệu lực.
B1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận Hợp đồng thế chấp số 3990
hiệu lực toàn bộ. Bởi vì: ngày 07/7/2009 giữa Công ty T9 B1 hợp đồng, khi
đó Công ty T8 Công ty T9 đã 02 hợp đồng thuê lại QSDĐ vẫn đang thực
hiện. Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp thể hiện QSDĐ và công trình trên đất. Sau
khi hợp đồng thế chấp thì B1 mới ký hợp đồng tín dụng giải ngân cho Công
ty T9. B1 đã thông báo cho Công ty T8 biết việc Công ty T9 thế chấp; Công ty T9
thanh toán gốc, lãi cho ngân hàng và đã được tái cơ cấu nợ 04 lần.
Chủ thể của giao dịch thế chấp đảm bảo theo quy định, tài sản thế chấp đã
được thỏa thuận ghi tại Điều 1 của hợp đồng thế chấp. Việc tranh chấp chỉ
xảy ra khi Công ty T8 khởi kiện Công ty T9 và khi đó B1 đã tham gia với cách
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Bộ luật Dân sự năm 2005
không quy định cấm tài sản thế chấp QShình thành trong tương lai. Hợp
đồng thế chấp s3990 đáp ứng đủ điều kiện theo khoản 1 Điều 342 của Bộ luật
Dân sự năm 2005.
Tại trang 63 của Bản án sơ thẩm đã áp dụng Điều 4 của Nghị định số
163/2006/NĐ-CP mà không xem xét quá trình các bên đã thực hiện giao dịch, ngân
hàng đã giải ngân cho Công ty T9 hơn 70%, vi phạm nguyên tắc tôn trọng sự tự
nguyện thỏa thuận.
Nếu chấp nhận hợp đồng thuê lại QSDĐ giữa Công ty T8 Công ty T9
hiệu lực, thì phải chấp nhận hợp đồng thế chấp hiệu lực. Theo điểm g khoản 1
Điều 33 của Luật Đất đai năm 2024, tài sản trên đất từ D đến D6 là của ngân
hàng, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm từ năm 2010 đến nay.
Công ty T9 không đáp ứng vốn tự nên B1 không giải ngân. Tổng số tiền
B1 đã giải ngân hơn 87,3% tính đến ngày 18/4/2011.
Đối với ý kiến của Công ty T9 vtiền lãi, thì B1 đã tính chính xác. Đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại trang 73 74 của Bản án thẩm. Trong đơn
kháng cáo, B1 có đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận 02 khoản tiền lãi quá hạn tổng
38
cộng 58.207.511.206 đồng, gồm: từ ngày 30/9/2014 đến ngày 07/01/2017, i
quá hạn 38.903.643.583 đồng; và từ ngày 15/3/2017 đến ngày 31/12/2024 i
quá hạn 19.303.867.623 đồng. Tuy nhiên, nay B1 chỉ đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của B1 về khoản tiền lãi quá hạn từ ngày
30/9/2014 đến ngày 07/01/2017 38.903.643.583 đồng, bởi theo Điều 22 của
Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của Thống đốc Ngân hàng
N4 về quy chế cho vay đang có hiệu lực, không áp dụng Điều 20 của Thông tư
số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N4 (có hiệu lực tngày
15/3/2017); đối với khoản tiền lãi quá hạn từ ngày 15/3/2017 đến ngày 31/12/2024
B1 đã tính là 19.303.867.623 đồng nhưng bị bác yêu cầu thì B1 chấp nhận như
bản án sơ thẩm đã xử.
Khoản 4 Điều 12 của hợp đồng thế chấp, Công ty T9 B1 đã thỏa thuận
“văn bản tài liệu liên quan”. Do đó, khi nào Công ty T9 thanh toán xong nợ gốc và
lãi thì B1 sẽ giao trả lại hồ giấy tờ tài sản thế chấp lại cho Công ty T9, nên B1
không đồng ý chịu án phí không giá ngạch nBản án sơ thẩm đã tuyên, vì B1
đã được chấp nhận yêu cầu.
Khoản 2 Điều 4 Nghị định s163/2006/NĐ-CP, cho phép B1 được giao kết
với Công ty T9; khoản 6 Điều 90, Điều 110 của Luật Đất đai năm 2003 quy định
cho Công ty P15 thế chấp cho ngân hàng. Thông số 01/2005 của Bộ T20 không
quy định Công ty T9 đã được cấp GCNQSDĐ hay chưa khi thế chấp. Tại khoản 5
mục 2 của Thông số 01 hướng dẫn thi hành Nghị định số 181/2004 thì người
thuê được thế chấp QSDĐ. Luật không quy định rõ, nhưng Bản án thẩm đã
không tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đã thực hiện trong thời
gian dài.
Tại trang 79 của Bản án thẩm mục 1.3 đã mâu thuẫn với mục 1.4, nên
không thể thi hành án được, Công ty T9 đang nợ B1 hơn 350 tỷ đồng thì không
thể có tiền để trả cho Công ty T8 được, nên Công ty T9 skhông thể được cấp
GCNQSDĐ trong khi tài sản trên đất đã đăng ký giao dịch bảo đảm, nên không thể
phát mãi được. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án thẩm mục 1.4
giống mục 1.5, tách bạch nghĩa vụ thanh toán của Công ty T9.
Ông Lê Thượng L2 trình bày: thống nhất với quan điểm và ý kiến của Luật sư
Á.
Nguyễn Thị Tuyết A và bà Nguyễn Thị Anh T5 không tham gia tranh luận.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần T8, bị
đơn Công ty Cổ phần T9, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng
TMCP Đ đủ điu kiện để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung:
39
Về hiệu lực của 02 hợp đồng thuê lại đất: Hợp đồng số 01 02 thay thế 02
hợp đồng nguyên tắc trước đó, đây hợp đồng thuê lại đất, không phải hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ.
Về hình thức: hợp đồng được lập bằng văn bản đã được Ban Quản các
khu công nghiệp Q2 xác nhận ngày 21/01/2008 theo điểm a khoản 10 Điều 2 Nghị
định 17/2006/NĐ-CP. vậy, hình thức hợp đồng phù hợp với khoản 2 Điều 122
Bộ luật Dân sự năm 2005.
Về nội dung: tại thời điểm hợp đồng, Công ty T8 chưa đủ điều kiện pháp
để cho thuê lại đất, cụ thể: chưa được giao toàn bộ diện tích 60.194 chưa
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính
về đất; chưa hoàn tất giải phóng mặt bằng, một số diện tích còn tranh chấp; hạ tầng
kỹ thuật khu công nghiệp chưa hoàn thành theo tiến độ dự án, vi phạm quy định ti
Điều 106 Luật Đất đai 2003 Điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP. Nvậy, hợp
đồng số 01 và 02 mặc dù đúng về hình thức, nhưng vi phạm điều kiện pháp luật về
nội dung, thuộc trường hợp giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật; căn cứ
xác định vô hiệu theo các Điều 122, 127, 128 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Về hậu quả pháp lý của 02 hợp đồng vô hiệu:
Theo Điều 137 Bộ luật Dân snăm 2005, khi giao dịch hiệu, các bên phải
khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận; bên lỗi gây
thiệt hại phải bồi thường. Tuy nhiên, sau thời gian dài thực hiện hợp đồng, Công ty
T9 đã đầu nhà xưởng, kho lạnh nhiều công trình trên đất tại khu A, với tổng
giá trị tài sản theo Chứng thư thẩm định giá 59.045.009.420 đồng. vậy, việc
buộc Công ty T9 hoàn trả hoàn toàn bằng hiện vật (trả đất) không khả thi và có thể
gây thiệt hại lớn. Do đó, đề nghị cho Công ty T9 tiếp tục sử dụng khu A, nhưng
đây được xem biện pháp giải quyết hậu quả của giao dịch hiệu, không phải
công nhận hợp đồng thuê đất hiệu lực. Công ty T9 phải thanh toán cho Công ty
T8 giá trị quyền thuê tương ứng với đơn giá thời hạn các bên đã thỏa thuận
khi ký hợp đồng năm 2008, thay tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử.
Các khoản tiền đã thanh toán phải được đối trừ; nếu còn thì Công ty T8 phải
hoàn trả phần chênh lệch. Đối với khu B, buộc Công ty T9 phải hoàn trả đất cho
Công ty T8. Tuy nhiên, do Công ty T9 đã sử dụng đất trong thời gian dài nên giá
trị quyền sử dụng đất khu B Công ty T8 nhận lại đã giảm do thời hạn sử dụng
bị rút ngắn. Giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo mức 4.751.000 đồng/m²
theo Chứng thư thẩm định giá số 1098.2023.VT.HS ngày 22/9/2023. Thời gian sử
dụng được tính tngày giao đất cuối cùng 10/7/2009 đến ngày xét xử thẩm
02/6/2026 6.171 ngày. Phần giá trị bị giảm được tính theo tỷ lthời gian đã sử
dụng trên tổng thời hạn sử dụng đất.
Về lỗi của các bên tài sản trên khu B: Công ty T8 lỗi nhiều hơn,
chủ đầu hạ tầng bên chịu trách nhiệm về giao đất, nghĩa vụ tài chính, giải
phóng mặt bằng điều kiện pháp của đất. Công ty T9 cũng lỗi, với
cách doanh nghiệp thuê đất, phải kiểm tra tình trạng pháp của đất trước khi
40
hợp đồng nhưng đã dựa chủ yếu vào Giấy chứng nhận đầu tư và cam kết của Công
ty T8, nhưng mức độ lỗi của Công ty P16 hơn. Đối với tài sản trên khu B, phần có
thể tháo dỡ, di dời thì buộc Công ty T9 tháo dỡ di dời để giao trả đất; đối với phần
công trình không thể di dời hoặc việc tháo dỡ gây thiệt hại lớn, thì đề nghị giao lại
cho Công ty T8 buộc Công ty T8 phải hoàn trả một phần giá trị còn lại của tài
sản, căn cứ giá trị thực tế, khả năng khai thác mức độ lỗi của các bên, không
phải toàn bộ giá trị đầu tư.
Về các yêu cầu kháng cáo khác của Công ty T9 đối với Công ty T8 liên quan
02 hợp đồng thuê đất: do 02 hợp đồng hiệu nên không phát sinh quyền, nghĩa
vụ theo hợp đồng. Việc Công ty T9 tiếp tục sử dụng khu A chỉ phương thức xử
lý hậu quả giao dịch vô hiệu, không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất.
vậy, không căn cứ chấp nhận các yêu cầu của Công ty T9 về việc buộc
Công ty T8 tiếp tục thực hiện hợp đồng, trong đó có: sang tên Giấy chứng nhận,
bồi thường thiệt hại trả lãi chậm trả 2.409.327.559 đồng do chậm bàn giao đất,
xuất hóa đơn GTGT đối với 7.571.770.698 đồng, buộc Công ty T8 chịu toàn bộ
thuế, phí và nghĩa vụ tài chính liên quan.
Đối với kháng cáo của Công ty T9 liên quan đến B1:
Về nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3989: ngày 07/7/2009, Công ty
P1 Hợp đồng tín dụng số 3989 với B1; ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T9
tổng cộng 174.595.773.225 đồng qua 51 khế ước nhận nợ. Đến ngày 27/5/2026,
Công ty T9 còn nợ: nợ gốc: 107.635.533.903 đồng lãi trong hạn:
268.873.534.095 đồng. Việc B1 không tiếp tục giải ngân không làm Công ty T9
được miễn nghĩa vụ trả số tiền đã thực tế nhận. vậy, Công ty T9 vẫn phải thanh
toán nợ gốc và lãi trong hạn.
Đối với nợ lãi qhạn: quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, B1 đã 04 gia
hạn, cơ cấu thời hạn vay và lãi cho Công ty T9, lần cuối cùng vào ngày 20/5/2014,
điều chỉnh tổng thời gian vay thành 15,5 năm, đến hết năm 2024. Như vậy, căn cứ
Quyết định 783/2005/QĐ-NHNN, Công ty T9 không phải chịu lãi quá hạn trong
khoảng thời gian được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc, lãi gia hạn nợ. Do đó,
không căn cứ chấp nhận kháng cáo của B1, chấp nhận 1 phần kháng cáo của
Công ty T9. Từ ngày 01/01/2025, do B1 không cấu lại nợ, nên Công ty T9 phải
chịu lãi quá hạn.
Về thế chấp quyền sử dụng đất thửa 3263: tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp,
Công ty T9 chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp và 02 hợp đồng thuê lại đất bị vô
hiệu nên Công ty T9 không quyền dùng quyền sử dụng đất thửa 3263 để bảo
đảm nghĩa vụ với B1. Vì vậy, không công nhận hiệu lực thế chấp đối với quyền sử
dụng đất thửa 3263 và B1 không có quyền xử lý quyền sử dụng đất này.
Đối với thế chấp công trình, máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ tài
sản khác thuộc sở hữu Công ty T9 không bị ảnh hưởng; B1 vẫn được xử theo
41
bản án thẩm. Đề nghị không buộc B1 chịu 3.000.000 đồng án phí đối với u
cầu hoàn trả giấy tờ của Công ty T9.
Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Công ty T8; chấp nhận một
phần kháng cáo của Công ty T9 và B1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, sửa một phần Bản án sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Công ty T8 phải chịu; Công ty T9 B1 không phải chịu
và được hoàn trả tạm ứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn Công ty T8, bị đơn Công ty T9, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan B1 thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều
272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật T tụng dân sự. Nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, B1 giữ nguyên yêu
cầu độc lập. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không
tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Ván được xét xử theo thủ
tục phúc thm.
[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: tại phiên tòa ngày 27/8/2026 và ngày
10/9/2026, người đại diện theo pháp luật của Công ty T8, B1, Sở Nông nghiệp
Môi trường tỉnh T vắng mặt, nhưng lần lượt người đại diện theo ủy quyền
ông Tất T, ông Thượng L2 Nguyễn Thị Anh T5 mặt; Công ty T9
có người đại diện theo pháp luật là bà Phan Thị Ngọc T1 và người đại diện theo ủy
quyền ông Nguyễn Minh Q ông Ngô Đoàn Hoàng V2 mặt; Luật
Nguyễn Đức H4 vắng mặt Tòa án không tiếp tục đưa tham gia tố tụng, do tại
phiên tòa phúc thẩm ngày 27/8/2026 nguyên đơn xác định chấm dứt yêu cầu nhờ
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp. Các Luật sư Ngọc L Nguyễn Thị
Ngọc Á mặt. Tại phiên tòa ngày 11/9/2026, người đại diện theo pháp luật của
Công ty T8 ông Lưu Quốc D, đại diện theo ủy quyền của Công ty T9 ông
Nguyễn Minh Q, đại diện theo ủy quyền của B1 ông Thượng L2 Luật
Nguyễn Thị Ngọc Á mặt, đại diện theo ủy quyền của Sở Nông nghiệp Môi
trường tỉnh T Nguyễn Thị Anh T5 mặt; các đương sự còn lại Luật
Ngọc L vắng mặt đã được thông báo hợp lệ thời gian địa điểm tuyên án.
Ủy ban nhân dân tỉnh T, Ủy ban nhân dân xã B, Ban Quản Khu kinh tế tỉnh T,
Chi nhánh Trung tâm phát triển Quỹ đất khu vực B, Công ty TNHH MTV Q1 của
các Tổ chức tín dụng Việt Nam, Trung tâm T10 vắng mặt, yêu cầu xét xử vắng
mặt. Tòa án không triệu tập Công ty Đ1, Công ty A1, Ngân hàng N2 tham gia
phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét
xử phúc thẩm vụ án và tuyên án vắng mặt các đương sự.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: nguyên đơn Công ty T8, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan B1 kháng cáo một phần bản án thẩm; tại phiên tòa phúc
thẩm ngày 27 tháng 8 năm 2006, bị đơn Công ty T9 xác định chỉ kháng cáo một
phần bản án thẩm. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét lại các phần nội dung của bản án thẩm kháng cáo
42
liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo. Do đó, đối với ý kiến của Luật
L Luật Á đề nghị công nhận hiệu lực pháp luật của mục 1.5 phần quyết định
của Bản án sơ thẩm, không căn cứ để được chấp nhận, phần nội dung này
của Bản án sơ thẩm liên quan trực tiếp đến xem xét yêu cầu kháng cáo của Công ty
T9 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T8 về việc hiệu hợp đồng
thuê lại QSDĐ giữa Công ty T8 Công ty T9, đã được xét xtại mục 1.1, 1.2,
1.3 và 1.4 phần quyết định của Bản án sơ thẩm.
[4] Về việc áp dụng pháp luật về nội dung: các hợp đồng thuê lại đất đang
tranh chấp được các bên giao kết ngày 08/01/2008, hợp đồng tín dụng và hợp đồng
thế chấp đang tranh chấp được xác lập năm 2009. Căn cứ khoản 1 Điều 80 của
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996; khoản 1 Điều 83 của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; khoản 1 Điều 156 của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; khoản 2 Điều 58 của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, điều kiện hiệu lực của các giao dịch,
quyền nghĩa vụ của các bên tại thời điểm giao kết phải được xem xét theo quy
định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003, Luật Kinh doanh bất
động sản năm 2006, Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành
đang có hiệu lực tại thời điểm các giao dịch được xác lập. Đối với hậu quả pháp
của giao dịch dân sự hiệu, nghĩa vụ hoàn trả tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa
vụ thanh toán các quan hpháp luật tiếp tục phát sinh, tồn tại sau ngày Bộ luật
Dân sự năm 2015 hiệu lực thì căn cứ quy định chuyển tiếp tại Điều 688 của Bộ
luật Dân sự năm 2015 để áp dụng các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự năm
2015 giải quyết vụ án.
[5] Công ty T8 và Công ty T9 thống nhất về việc kết và nội dung của các
hợp đồng nguyên tắc, 02 Hợp đồng số 01 02, số tiền Công ty T9 đã thanh toán
tổng cộng 37.454.201.593 đồng, tương đương 2.028.914 USD, gồm: Hợp đồng
số 01, số tiền 23.359.313.383 đồng, tương đương 1.267.651 USD; Hợp đồng số
02, số tiền 14.094.888.210 đồng, tương đương 761.263 USD. Căn cứ khoản 2 Điều
92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây những tình tiết, sự kiện không phải chứng
minh.
Xét kháng cáo của Công ty T9 và B1 không đồng ý vô hiệu Hợp đồng số 01 và
02:
[6] Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005, giao dịch dân sự
chỉ hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Đối với giao dịch cho
thuê lại quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, ngoài các điều kiện chung của
giao dịch dân sự, còn phải đáp ứng các điều kiện riêng của pháp luật chuyên ngành
về đất đai kinh doanh bất động sản. Theo Điều 106 Luật Đất đai năm 2003;
Điều 98 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; Điều 66 Nghị định s84/2007/NĐ-CP;
khoản 2 Điều 7 Điều 9 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 thì quyền sử
dụng đất trong Khu công nghiệp chỉ được đưa vào giao dịch khi đáp ứng đồng thời
các điều kiện: đất không tranh chấp, chủ đầu đã hoàn thành các nghĩa vụ tài
43
chính theo quy định; có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và còn trong thời hạn
sử dụng; phải hạ tầng kỹ thuật tương ứng với tiến độ dự án đã được quan có
thẩm quyền phê duyệt. Đây là những điều kiện mang tính bắt buộc, nhằm bảo đảm
chỉ những quyền sử dụng đất đđiều kiện pháp mới được đưa vào lưu thông
trong hoạt động kinh doanh bất động sản.
[7] Đối chiếu các quy định nêu trên với tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: tại thời điểm ngày 08/01/2008 khi 02
Hợp đồng số 01 và 02 được ký kết, Công ty T8 chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện
bắt buộc đquyền được cho thuê lại quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp,
cụ thể:
[7.1] Theo Công văn số 7663/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 20/4/2026 của Sở
Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T (các bút lục số 4699-4700) thể hiện: Công ty T8
được UBND tỉnh L giao đất để sử dụng vào mục đích xây dựng kinh doanh kết cấu
hạ tầng khu công nghiệp để chuyển nhượng hoặc cho thuê; đất được giao vào 02
đợt: Đợt 1 theo Quyết định giao đất số 2522/QĐ-UBND ngày 02/10/2007, diện
tích đất 1.004.171,8m
2
; Đợt 2 theo Quyết định giao đất số 138/QĐ-UBND ngày
16/01/2009, diện tích đất 35.553m
2
. Công ty T8 hoàn thành nghĩa vụ tài chính vào
ngày 23/3/2009 và đến ngày 24/3/2009 được cấp GCNQSDĐ thửa 55, tờ bản đồ số
3, diện tích 1.026.767,8m
2
, thời hạn sử dụng đất đến ngày 02/10/2057, mục đích sử
dụng: Đất khu công nghiệp, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước giao đất thu tiền tại
N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây Ninh). Sau khi hoàn thành
nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ nêu trên, ng ty
T8 thực hiện hồ tách thửa được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L (nay
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T) cấp GCNQSDĐ thửa 3263 diện tích
60.194m
2
. Thửa 3263 là thuộc cả quyết định giao đất đợt 1 và đợt 2.
[7.2] Tại Tờ trình số 395/TTr-STNMT.VPĐK ngày 28/9/2007 số 71/TTr-
STNMT.VPĐK ngày 13/01/2009 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (các bút
lục số 4637, 4643), cũng như tại các Quyết định giao đất số 2522/QĐ-UBND và số
138/QĐ-UBND của UBND tỉnh L, đều nêu Công ty T8 phải hoàn thành nghĩa
vụ tài chính (nộp tiền sdụng đất, phí lệ phí theo quy định của pháp luật) t
mới được cấp trao GCNQSDĐ. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 98
của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định thời điểm được thực
hiện các quyền của người sử dụng đất (trong đó quyền cho thuê, cho thuê lại,
thế chấp, … bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với
đất do Nhà nước giao thu tiền sử dụng đất), thì Công ty T8 chỉ được thực hiện
các quyền của người sử dụng đất kể từ khi thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo
quy định của pháp luật. Như vậy, tại thời điểm ngày 08/01/2008 khi kết Hợp
đồng số 01 số 02, Công ty T8 chưa được UBND tỉnh L có quyết định giao toàn
bộ diện tích đất cho thuê (đối với phần đất được giao thuộc đợt 2), chưa hoàn thành
nghĩa vụ về tài chính chưa được cấp GCNQSDĐ. Tại mục 3 Công văn số
7663/SNNMT-VPĐKĐĐ, Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T đã xác định:
“Thời điểm ngày 08/01/2008 (thời điểm Công ty Cổ phần T8 ký Hợp đồng cho thuê
44
đất với Công ty Cổ phần T21 02-01/TĐ-CPTY-08 vào ngày 08/01/2008), Công
ty Cphần T8 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với diện
tích 1.026.767,8m
2
theo các
quyết định giao đất nêu tại mục 2 văn bản này. Công
ty Cổ phần T8 sẽ không các quyền quy định tại khoản 1 Điều 106 của Luật Đất
đai năm 2003.”
[7.3] Tại Biên bản thẩm tra hồ giao đất (đợt 1) ngày 24/9/2007 của Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh L thể hiện“còn khoảng 20 nhà của các hộ gia đình,
cá nhân chưa di dời do chờ bố trí tái định cư” (bút lục số 4629). Chính Công ty T9
cũng trình bày rằng, Công ty T8 đã chưa giải quyết đền đầy đủ cho người dân
đất tại thửa đất cho thuê là ông Vi Thế D2, ông D2 đơn đề ngày 24/11/2008
gửi đến Công ty T8, dẫn đến Công ty T9 không thể nhận đủ mặt bằng đúng thời
hạn như đã thỏa thuận (các bút lục số 4441, 4449). Cho đến ngày 09/01/2009, Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh L lập Biên bản thẩm tra hồ giao đất (đợt 2), mới
xác định rằng “hiện khu đất không còn nhà ở của hộ gia đình, cá nhân” (bút lục số
4642). Ngoài ra, tại khoản 4.1 Điều 4 của cả 02 hợp đồng (các bút lục số 447, 454),
Công ty T8Công ty T9 đã thỏa thuận nghĩa vụ của bên cho thuê “Bên A đầu tư
các hạng mục hạ tầng kỹ thuật cho Khu công nghiệp như: Đường giao thông, hệ
thống thoát nước mưa, hthống thoát nước bẩn hoàn chỉnh bên ngoài đất cho
bên B thuê. Thời gian không quá tháng 06/2008.” Điều này chứng tỏ rằng, tại thời
điểm Công ty T8 Công ty T9 kết hợp đồng, thì Công ty T8 vẫn chưa đầu
xong hạ tầng trong Khu công nghiệp. Như vậy, đất cho thuê lại trong Khu công
nghiệp nhưng vẫn còn tranh chấp và chưa đầu tư hạ tầng, thì Hợp đồng số 01 và 02
đã vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2003;
khoản 2 Điều 7 và Điều 9 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.
[8] Tại cấp phúc thẩm, Luật L cung cấp Công văn số 343/VPĐKĐĐ, ngày
04/7/2016 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L (bản photo), để chứng minh 02
Hợp đồng số 01 số 02 hiệu lực. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, nội
dung Công văn số 343 cung cấp thông tin theo yêu cầu của Công ty T9 về
QSDĐ số AQ 015205 ngày 10/11/2009 của chủ đầu tư là Công ty T8, theo đó, Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh L xác định ngày 11/4/2016 Công ty T8 đã xóa thế chấp
QSDĐ cho Ngân hàng N2 đề nghị Công ty T9 căn cứ vào Hợp đồng số 01 và số
02, liên hệ Công ty T8 để được hoàn chỉnh thủ tục cấp GCNQSDĐ cho Công ty T9
theo quy định. Điều này phải được hiểu rằng, giữa các bên không tranh chấp
trong hợp đồng và thống nhất hoàn chỉnh các thủ tục theo quy định thì Công ty T9
mới được cấp GCNQSDĐ. Trường hợp hiện nay, Hợp đồng số 01 và số 02 đang có
tranh chấp, thì không thể căn cứ duy nhất vào ý kiến của Văn phòng đăng hay
xác nhận của Ban Quản lý Khu công nghiệp, phải căn cứ vào các quy định của
pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch đxem xét hiệu lực của hợp đồng. Công
ty T8 Công ty T9 đã kết 02 hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất, khi
chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện bắt buộc của pháp luật chuyên ngành, đã vi
phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Đây không phải là vi phạm về hình thức
hoặc thủ tục hành chính thể được khắc phục sau này, các vi phạm trực
45
tiếp điều kiện để chủ thể quyền đối tượng của giao dịch được phép tham gia
giao dịch tại thời điểm giao dịch được xác lập. Người bảo vệ quyền lợi ích của
Công ty T9 cho rằng, đến thời điểm hiện nay, thửa 3263 đã được cấp GCNQSDĐ,
Công ty T9 cũng đã nhận đất thanh toán đầy đủ tiền thuê đất, nên đề nghị công
nhận hiệu lực của hợp đồng. Trong khi đó, ng ty T8 không đồng ý và yêu cầu vô
hiệu hợp đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng:
[8.1] Về tiền thuê đất: theo thỏa thuận của cả hai hợp đồng, thời hạn thanh
toán được Công ty T8 Công ty T9 thỏa thuận thành 03 đợt, trong đó đợt 02
trong vòng 5 (năm) ngày, kể từ ngày ký biên bản giao nhận mặt bằng để bên B tiến
hành xây dựng công trình, hạn chót ngày 27/4/2008; đợt 3 trong vòng 5 (năm)
năm kể từ ngày thanh toán đợt 2. Hồ sơ vụ án thể hiện, Công ty T8 đã bàn giao đất
cho Công ty T9 trong 03 đợt, lần lượt vào ngày 09/8/2008, ngày 24/9/2008 và ngày
10/7/2009. Như vậy, thời hạn thanh toán cuối cùng chậm nhất phải xong vào ngày
15/7/2014. Tuy nhiên, Công ty T9 đã chậm thanh toán, dẫn đến ngày 26/11/2015
Công ty T8 đã nộp đơn khởi kiện ghi ngày 05/5/2015 để yêu cầu Công ty P5 thanh
toán theo hợp đồng. Từ tháng 12/2015 cho đến tháng 7/2020, Công ty T9 vẫn
không thanh toán đủ tiền thuê, nên đến ngày 24/8/2020, Công ty T8 đơn sửa
đổi, bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu chấm dứt 02 hợp đồng cho thuê yêu cầu
nhận lại QSDĐ. Đối với số tiền 5.708.593.690 đồng tương đương 247.370 USD và
số tiền 1.779.323.406 đồng tương đương 76.875,77 USD Công ty T9 cho rằng
đã chuyển vào tài khoản của Công ty T8 từ tháng 9/2020 đến ngày 03/8/2021 để
lần lượt thanh toán cho 02 hợp đồng, nhưng các khoản tiền này đã bị Công ty T8
chuyển khoản trả lại do Công ty T8 đã thay đổi yêu cầu khởi kiện hiện nay vẫn
còn nằm trong tài khoản của Công ty T9. Như vậy, việc Công ty T9 cho rằng đã
thanh toán đủ tiền thuê đất, là không có căn cứ.
[8.2] Về việc giao nhận sử dụng đất: theo kết quả xem xét thẩm định tại
chỗ do Tòa án cấp thẩm lập ngày 09/5/2017 thể hiện, 1 phần của thửa 3263
diện tích khoảng 28.840m
2
vị trí tiếp giáp đường số 3 đường số D: 103m, chiều
dài 280m tiếp giáp Công ty Đ4 đất trống; phần còn lại trong tổng diện tích
60.194m
2
đã xây dựng các nhà xưởng, gồm: kho 1, kho 2, kho 3 dùng để chứa các
sản phẩm đông lạnh hải sản; các kho xây dựng từ năm 2008 khi xây dựng hợp
đồng xây dựng-thi công làm sở để Công ty T9 thế chấp cho B1; ngoài ra, Công
ty T9 không còn xây dựng bất kỳ công trình kiến trúc nào khác (các bút lục 3653,
3654). Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ hoàn toàn phù hợp với kết quả đo đạc
được thể hiện tại Trích đo năm 2019 (bút lục 3511) T7 đo năm 2026 (bút lục
4712), thì vị trí phần đất trống tương ứng với vị trí Khu B (diện tích 30.093,8m
2
)
phần công trình do Công ty T9 xây dựng thuộc khu A (diện tích
30.100,2m
2
) của Trích đo. Như vậy, Công ty T9 chỉ sử dụng ½ diện tích thửa 3263.
[8.3] Đối với ý kiến của Công ty T9 người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của bị đơn cho rằng, hiện nay phần đất thuê lại đã được cấp GCNQSDĐ, nên
đề nghị công nhận hiệu lực của hợp đồng, bởi lẽ Công ty T8 không chứng minh
được việc vi phạm các điều kiện hiệu lực của hợp đồng đã gây thiệt hại cho
46
Công ty T8 và trật tự công cộng, Hội đồng xét xử phúc thẩm lại nhận thấy rằng,
nếu Tòa án chấp nhận lý lẽ này của phía bị đơn, thì sẽ tạo một tiền lệ xấu và phá vỡ
trật tự quản lý hành chính nhà nước về đất đai, xây dựng tài chính. Việc công
nhận hợp đồng, đồng nghĩa với việc Tòa án chấp nhận một giao dịch đã vi phạm
nghiêm trọng điều kiện hiệu lực (chưa được giao đủ đất, chưa hoàn thành nghĩa
vụ tài chính đối với nhà nước, chưa có GCNQSDĐ và chưa có hạ tầng), thì bản án
đã trái ngược các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003,
Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006. Các chủ đầu tư khác sẽ có thể căn cứ vào
bản án này để cho thuê lại đất trong Khu công nghiệp khi chưa đủ điều kiện,
hành vi sử dụng trái phép tài sản của nhà nước (khi chưa hoàn thành nghĩa vụ tài
chính) để kinh doanh, chiếm dụng vốn của nhà đầu thứ cấp trước để trục lợi,
xoay vòng vốn (như chính Công ty T9 đã nại ra rằng Công ty T8 đã chiếm dụng
vốn của Công ty T9); gây mất kiểm soát về quy hoạch trật tự xây dựng, bởi lẽ
khi hạ tầng khu công nghiệp chưa có, quan nhà nước không thể cấp phép xây
dựng hoặc nghiệm thu công trình xây dựng của doanh nghiệp thứ cấp, dẫn đến việc
doanh nghiệp X, không tuân thủ quy chuẩn phòng cháy chữa cháy (PCCC) các
quy tắc an toàn trong xây dựng công trình. Việc công nhận hiệu lực của một giao
dịch trái pháp luật sẽ tạo sự bất bình đẳng trong kinh doanh đối với các chủ đầu
khu công nghiệp chấp hành đúng pháp luật (phải chi phí vốn xây dựng hạ tầng, nộp
đủ tiền sử dụng đất cho Nhà nước rồi mới được cho thuê), gây khó khăn trong hoạt
động quản lý, thống các số liệu về tỷ llấp đầy khu công nghiệp, tiến độ sử
dụng đất tình hình thu hút đầu tư, dẫn đến đánh giá nguồn thông tin bị sai lệch
so với thực tế, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương. Về phía nhà đầu tư thứ cấp, trong vụ án này, đối với Công ty
T9 khi chấp nhận rủi ro về mặt pháp (thuê đất trong Khu công nghiệp chưa
hạ tầng, chưa có GCNQSDĐ) có thể để đổi lại được ưu đãi về giá thuê, cũng sẽ tạo
sự cạnh tranh không lành mạnh đối với các nhà đầu thứ cấp khác chấp hành
đúng pháp luật (thuê đất đủ điều kiện tham gia giao dịch) phải thuê đất với
giá cao hơn, phát sinh chi phí đầu vào cao hơn. Việc công nhận hiệu lực hợp đồng,
sẽ khuyến khích các chủ thể tham gia giao dịch tương tự không tuân thủ pháp luật,
gây nguy cơ phát sinh tranh chấp nếu một hoặc cả hai bên không thiện chí khắc
phục các điều khoản thỏa thuận chưa đảm bảo quy định của pháp luật tại thời điểm
xác lập giao dịch. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể chấp nhận căn cứ
này của phía bị đơn để công nhận hiệu lực hợp đồng.
[9] Đối với ý kiến của Công ty T9 B1 đề nghị áp dụng Nghị quyết số
02/2004/NQ-TP, Án lệ 55/2022/AL và Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015
để công nhận hiệu lực hợp đồng, là không có căn cứ. Bởi lẽ: tại khoản 2 Điều 8 của
Nghị quyết số 04/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về
nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử, bảo đảm những vụ việc tình huống
pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau”. Điều 129 của Bộ luật Dân sự
năm 2015 Án lệ số 55/2022/AL vcông nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm
điều kiện về hình thức; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP tình huống án lệ
được áp dụng cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không tương tự
47
tình huống pháp trong vụ án này, các bên tranh chấp về hợp đồng thuê lại
QSDĐ trong Khu ng nghiệp giao dịch giữa Công ty T8 Công ty P17 vi
phạm về điều kiện hình thức còn vi phạm điều kiện hiệu lực của giao dịch (ch
thể không có quyền và bất động sản chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh) tại thời
điểm xác lập. Đối với ý kiến của đại diện Công ty T9 và người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho Công ty T9 đề nghị căn cứ Quyết định Giám đốc thẩm số
01/2024/KDTM-T ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh, để chấp nhận hiệu lực của Hợp đồng số 01 02, thì Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận thấy, Quyết định Giám đốc thẩm số 01/2024/KDTM-GĐT
chưa được công nhận án lệ; hơn nữa, Công ty TNHH MTV T19 nhận chuyển
nhượng đất khi bên chuyển nhượng đã được cấp GCNQSCông ty chỉ vi
phạm nghĩa vụ thanh toán, cho nên, tình tiết trong vụ án giữa nguyên đơn Ngân
hàng Thương mại cổ phần T18 với bị đơn Công ty TNHH MTV T19 hoàn toàn
khác với tình tiết trong vụ án này.
[10] Tòa án cấp thẩm đã đánh giá toàn diện, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ
do các bên cung cấp, đối chiếu với các quy phạm pháp luật đang hiệu lực tại
thời điểm xác lập giao dịch, từ đó, vô hiệu hợp đồng số 01 và 02, là đúng quy định
tại Điều 108 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, không căn cứ để Hội đồng xét
xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo công nhận hiệu lực hợp đồng số 01
02 của Công ty T9 và B1.
Xét kháng cáo của Công ty T8 về giải quyết hậu quả pháp hợp đồng
hiệu kháng cáo của B1 không đồng ý cho Công ty T8 được quyền sử dụng đất
khu B, không đồng ý bản án sơ thẩm tuyên Công ty P12 được quyền sử dụng đất và
đăng khai cấp GCNQSDĐ khu A sau khi Công ty T9 đã thanh toán xong số
tiền 107.591.217.862 đồng cho Công ty Cổ phần T8
[11] Công ty T8 kháng cáo không đồng ý bồi thường số tiền chênh lệch tỷ giá
USD cho Công ty T9. Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty T9 yêu cầu nếu hợp đồng
hiệu thì Công ty T9 skhởi kiện tranh chấp giải quyết hậu quả pháp của hợp
đồng hiệu bằng vụ án khác, bởi lẽ Công ty T8 thay đổi yêu cầu khởi kiện tại
phiên tòa thẩm lần 2 làm cho Công ty T9 không chuẩn bị đầy đủ các tài liệu,
chứng cứ để chứng minh và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận thấy, tnăm 2020, Tòa án cấp thẩm đã thụ đối với yêu cầu thay
đổi yêu cầu khởi kiện của Công ty T8 về việc chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng. Theo
quy định tại Điều 137, khoản 3 và khoản 4 Điều 425 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Điều 131 Điều 427 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì một trong những hậu quả
pháp của việc hủy bỏ hợp đồng hay hậu quả pháp của giao dịch dân sự
hiệu các bên phải hoàn trả cho nhau những đã nhận, bên lỗi gây thiệt hại
thì phải bồi thường. Do đó, mặc tại phiên tòa thẩm ngày 02/6/2026, Công ty
T8 thay đổi yêu cầu hiệu hợp đồng, thì vẫn không vượt quá phạm vi khởi kiện
ban đầu, bởi lẽ, nguyên đơn chỉ thay đổi về căn cứ pháp lý (vô hiệu/hủy bỏ) để yêu
cầu chấm dứt việc thực hiện quyền nghĩa vụ của các bên trong giao dịch, còn
nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường thiệt hại, yếu tố lỗi vẫn phải được xem xét khi giải
48
quyết hậu quả chấm dứt giao dịch kể cả do bị vô hiệu hay hủy bỏ. Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận thấy, vụ án đã kéo dài từ năm 2015 đến nay, nên việc Công ty T9
cho rằng không có thời gian chuẩn bị chứng cứ chứng minh thiệt hại, là không hợp
lý. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của Công ty T8 vẫn yêu cầu giải quyết
hậu quả pháp của hợp đồng hiệu và xác định Công ty T8 chấp nhận giao khu
A cho Công ty T9 thuê sử dụng hoàn trả bằng giá trị, nhưng nếu Công ty T9
không đồng ý nhận khu A hoặc không đồng ý với giá trị hoàn trả thì đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem
xét lại bản án sơ thẩm về phần giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
[12] Về lỗi: Công ty T9 cũng lỗi khi mong muốn được hưởng giá thuê ưu
đãi trong Khu công nghiệp, từ đó chấp nhận hợp đồng thuê lại đất ngay cả khi
biết rõ đất chưa đủ điều kiện (không có GCNQSDĐ và chưa xong hạ tầng); về phía
Công ty T8 chủ đầu tư Khu công nghiệp, phải biết rõ điều kiện để được cho thuê
lại đất nhưng vẫn cho thuê khi chưa đủ điều kiện nhằm huy động vốn; sau khi được
cấp GCNQSDĐ, lại không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng (mặc dù Công ty T9
cũng lỗi không thanh toán đúng tiến đtheo thỏa thuận). Như vậy, cần xác
định Công ty T8 lỗi nhiều hơn, phải chịu 60% thiệt hại, còn Công ty P18 40%
thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu.
[13] Về hoàn trả cho nhau những gì đã nhận:
[13.1] Đối với Khu A, Công ty T9 đã đầu tư xây dựng nhà máy, kho lạnh, nếu
buộc tháo dỡ sgây lãng phí nghiêm trọng tài sản hội và ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của Công ty T9. Do đó, việc Công ty T8 đề nghị giao Khu A cho
Công ty T9 tiếp tục thuê sử dụng và phải thanh toán tiền cho Công ty T8 là phương
án tối ưu, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế của các bên. Tòa án cấp thẩm chấp
nhận đề nghị này của ng ty T8, căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2
Điều 137 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm
2015 quy định nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng
tiền”. Tuy nhiên, nguyên tắc các bên trong giao dịch phải “khôi phục lại tình trạng
ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận” phải được hiểu rằng, các bên phải
hoàn trả giá trị tương ứng các bên đã thỏa thuận trao đổi trong giao dịch,
không phải định giá lại tài sản theo biến động thị trường tại thời điểm xét xử. Tòa
án cấp thẩm áp dụng giá quyền sử dụng đất theo kết quả định giá năm 2023 để
tính giá trhoàn trsẽ tạo ra tình trạng ng ty T8, bên cũng lỗi, sđược
hưởng lợi thông qua chênh lệch giá đất tăng theo thời gian giá này giá tr
QSDĐ, không phải giá thuê lại QSDĐ, chính là buộc Công ty T9 phải nhận chuyển
nhượng lại quyền sử dụng đất theo giá thị trường hiện tại, vượt quá phạm vi
bản chất của việc “khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những
đã nhận”, chuyển hóa thành một giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
mới, không đúng bản chất của việc xử lý hậu quả hợp đồng thuê lại quyền sử dụng
đất bị hiệu, trái với nguyên tắc thiện chí, công bằng trong giải quyết hậu quả
giao dịch dân sự vô hiệu.
49
[13.2] Quá trình thực hiện hợp đồng cho thấy, Công ty T9 đã xây dựng nhà
xưởng, đưa vào sản xuất kinh doanh n định từ 2008-2009, xác định một trong
những chi phí đầu vào căn cứ theo đơn giá đã thỏa thuận (35-38 USD/m²) tại thời
điểm kết, nên việc buộc Công ty T9 phải thanh toán Khu A theo đơn giá quyền
sử dụng đất trên thị trường vào năm 2023 không phù hợp với mục đích của
Công ty T9 khi xác lập thực hiện hợp đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện
của Công ty T8 cũng yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo
quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không áp dụng đơn giá
4.751.000 đồng/m² theo Chứng thư thẩm định g số 1098.2023.VT.HS, áp
dụng đơn giá tính theo Hợp đồng số 01 02 tại thời điểm xác lập (năm 2008) để
xác định số tiền mà Công ty T9 phải thanh toán cho Công ty T8 để được tiếp tục sử
dụng đất thuê tại khu A.
[13.3] Theo khoản 1.4 Điều 1 của cả 02 hợp đồng, thời hạn thuê đất được xác
định theo Giấy chứng nhận đầu tư/GCNQSDĐ nhưng tối đa không quá 50 năm.
GCNQSDĐ số AQ 015205 cấp ngày 10/11/2009 ghi thời hạn sử dụng đất đến ngày
02/10/2057. Đơn g35 USD/m² 38 USD/m² trong 02 hợp đồng đơn giá cho
thuê trọn thời hạn thuê. Hồ vụ án thể hiện, thực hiện Hợp đồng số 01 02,
Công ty T8 Công ty T9 đã lập Biên bản bàn giao mặt bằng, cụ thể: ngày
09/8/2008, bàn giao các đất D2, D3, D4, D5, tổng diện tích khoảng 40.000m
2
(bút lục số 476); ngày 24/9/2008, bàn giao các đất D1, D6, tổng diện tích
khoảng 20.000m
2
(bút lục số 475); ngày 10/7/2009, bàn giao các đất D4 D5,
tổng diện tích khoảng 20.000m
2
(bút lục số 475). Các biên bản bàn giao này đều
thể hiện rằng việc n giao “nhằm tạm thời xác định phạm vi ranh đất ngoài thực
địa theo đúng bình đồ vị trí trên mặt bằng tổng thể của Khu công nghiệp N (diện
tích giao chính thức được ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản vẽ
trích đo khu đất do Trung tâm kỹ thuật TN-MT tỉnh L xác định để giao mốc)”.
[13.4] Căn cứ Quyết định số 1377/QĐ-BQLKCN ngày 04/11/2009 của Ban
Quản các khu công nghiệp L (bút lục số 4652-4655), quy hoạch phân diện
tích đất của D1 10.100m
2
,
D2 là 10.300m
2
, D3 9.700m
2
, D4
4.900m
2
, D5 15.100m
2
,
D6 10.100m
2
. Tổng cộng D diện tích
60.200m
2
. Căn cứ Trích đo năm 2019 (bút lục 3511), tổng diện tích đất thực tế
Công ty T8 đã bàn giao cho ng ty T9 là 60.194m
2
.
[13.5] Căn cứ Bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất Khu công nghiệp
N kèm theo Quyết định số 788/QĐ-UBND ngày 26/3/2007 của y ban nhân dân
tỉnh L về việc phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 Khu ng nghiệp N,
xã N, huyện B, tỉnh Long An (bút lục 4719) T7 đo năm 2026 (bút lục 4712), thì
vị trí của Khu A diện tích 30.100,2m
2
gồm D1, D4, D6 và 1 phần D2 diện
tích 5.000,2m
2
; vị trí của Khu B diện tích 30.093,8m
2
gồm D3, D5 và 01 phần
diện tích còn lại của Lô D2, thuộc trọn Hợp đồng số 01.
50
[13.6] Tiền thuê đất theo đơn giá đã thỏa thuận trong 02 Hợp đồng số 01 và
02 (chưa 10% VAT): Lô D1 D6 38 USD/m
2
; D là 35 USD/m
2
. Như
vậy, tiền thuê đất khu A được tính như sau:
Tiền thuê đất D1 + D6 = (10.100m
2
+
10.100m
2
) x 38 USD/m
2
= 767.600
USD;
Tiền thuê đất Lô D4 và 1 phần Lô D2 = (4.900m
2
+ 5.000,2 m
2
) x 35 USD/m
2
= 346.507 USD.
Tổng số tiền thuê đất khu A (có 10% VAT) 1.225.518 USD (1). Tổng số
tiền ng ty T9 đã thanh toán cho Công ty T8 là 2.028.914 USD, quy đổi
37.454.201.593 đồng, như vậy tỷ giá trung bình 18.460 VNĐ/USD, nên tiền
thuê đất khu A được quy đổi 22.623.062.000 đồng (= 1.225.518 USD x 18.460
VNĐ/USD).
[13.7] Sau khi khấu trừ tiền thuê đất khu A vào tổng số tiền Công ty T9 đã
thanh toán, thì Công ty T8 phải hoàn trả cho Công ty T9 số tiền còn thừa khi hợp
đồng hiệu 803.396 USD (= 2.028.914 USD - 1.225.518 USD). Tại khoản 3.4
Điều 3 của 02 hợp đồng và trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty T8 và Công ty
T9 đều thừa nhận rằng, số tiền thuê đất các khoản phí khác được 02 bên thỏa
thuận bằng đồng USD Công ty T9 thanh toán bằng VNĐ nhưng theo tỷ giá
USD bán ra của Ngân hàng N3 Chi nhánh Thành phố H tại thời điểm thanh toán.
Như vậy, đối với số tiền 803.396 USD Công ty T8 phải hoàn trả cho Công ty
T9 khi hợp đồng hiệu cũng phải được hoàn trả theo phương thức này. Tòa án
cấp thẩm cho rằng, thiệt hại của Công ty T9 khi hợp đồng hiệu chính s
chênh lệch tỷ giá tại thời điểm thanh toán so với thời điểm xét xử thẩm,
không đúng với nguyên tắc “hoàn trả cho nhau những đã nhận”. Tỷ giá USD
bán ra của Ngân hàng N3 Chi nhánh Thành phố H vào ngày 02/6/2026 là 1 USD
= 26.394 VNĐ, như vậy, số tiền mà Công ty T8 phải hoàn trả cho Công ty P19 tròn
là 21.204.834.000 đồng (2).
[13.8] Đối với khu B (là diện tích đất thuộc trọn Hợp đồng số 01), Công ty T9
chưa xây dựng nhà xưởng hoạt động sản xuất kinh doanh, nên việc Công ty T8 yêu
cầu giao trả bằng hiện vật, là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 137
của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 131 của Bluật Dân sự năm 2015. Do
đó, không chấp nhận kháng cáo của B1 về việc không đồng ý cho Công ty T8 được
quyền sử dụng đất khu B.
[14] Về bồi thường thiệt hại, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng,
[14.1] Đối với khu A, Công ty T8 cũng đã nhận đủ tiền thuê một lần cho trọn
thời gian cho thuê, Công ty T9 đã nhận được tiếp tục sử dụng đất thuê tương
ứng với số tiền thanh toán, nên cả hai bên đều không có thiệt hại.
[14.2] Đối với khu B, Công ty T9 vẫn đảm bảo được hoàn trả bằng số tiền
VNĐ tương ứng với số tiền USD đã giao cho Công ty T8, nên không thiệt hại.
Tuy nhiên, về phía Công ty T8 thì mặc dù được nhận lại quyền sử dụng đất, nhưng
51
thời hạn sdụng đất đã bị sụt giảm hơn 1/3 thời hạn sử dụng đất được giao. Hội
đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, đơn giá thuê 35 USD/m² trong Hợp đồng s01
đơn giá thuê trọn thời hạn thuê đất theo thời hạn của quyền sử dụng đất trong
Khu công nghiệp Công ty T8 được Nhà nước cho thuê ghi trong
GCNQSDĐ số AQ 015205, nên không thể áp dụng đơn giá cố định trong Hp
đồng số 01 để tính số tiền thuê đất tương ứng với diện tích đất tại khu B Công
ty T9 phải trả lại cho Công ty T8, bởi lẽ, giá trị sụt giảm của quyền sử dụng đất
theo thời gian chính là thiệt hại của Công ty T8 do hợp đồng thuê bị vô hiệu.
[14.3] Theo thỏa thuận tại mục 1.4 Điều 1 của Hợp đồng số 01, “Thời gian
thuê đất: theo thời gian trong giấy chứng nhận đầu dự án do quan thẩm
quyền cấp cho bên B nhưng tối đa không quá 50 (năm mươi) năm. Bên B được
nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuê do quan thẩm quyền cấp,
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi thời gian sử dụng đất.” Theo
Giấy chứng nhận đầu số 50211000038 ngày 19/12/2007 do Ban Quản các
khu công nghiệp L cấp cho Chi nhánh Công ty Cổ phần P5 dán đầu tại địa
điểm D1 đến D6 Khu công nghiệp N, thời hạn đầu tư 50 năm kể tngày
được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Theo GCNQSDĐ số phát hành AQ 015205 do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp ngày 10/11/2009 cho Công ty T8, thời
hạn sdụng đất thửa 3263 đến ngày 02/10/2057. Như vậy, tổng thời gian thuê đất
là tính từ ngày bên B (Công ty T9) được cấp Giấy chứng nhận đầu tư dự án là ngày
19/12/2007 đến ngày 02/10/2057, tổng cộng 18.185 ngày.
[14.4] Hồ sơ vụ án thể hiện (bút lục số 495) và tại phiên tòa phúc thẩm, người
đại diện của Công ty T8 đề nghị xác định ngày bàn giao theo Biên bản bàn giao
cuối ng ngày 10/7/2009 (bút lục số 475) để tính thời gian Công ty T9 đã sử
dụng đất đối với khu B. Như vậy, từ ngày 10/7/2009 tính đến ngày 02/6/2026
(ngày xét xử sơ thẩm), thì Công ty T9 đã sử dụng khu B diện tích 30.093,8m
2
được
6.171 ngày.
[14.5] Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm, Công ty T8
thống nhất đơn giá quyền sử dụng đất thửa 3263 là 4.751.000 đồng/m
2
, theo Chứng
thư thẩm định giá số 1098.2023.VT.HS. Công ty T9 không ý kiến phản đối
cũng không yêu cầu định giá lại. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào
đơn giá này để giải quyết vụ án.
[14.6] Giá trị QSDĐ của khu B cho tổng thời gian sử dụng 18.185 ngày
142.975.643.800 đồng (=30.093,8m
2
x 4.751.000 đồng/m
2
). Như vậy, giá trị quyền
sử dụng đất khu B bị sụt giảm sau thời gian Công ty T9 sử dụng là 48.518.158.000
đồng (=142.975.643.800đ/18.185 ngày x 6.171 ngày). Do đó, Công ty T8 phải chịu
60% thiệt hại 29.110.895.000 đồng; Công ty T9 phải bồi thường 40% thiệt hại
cho Công ty T8 tròn là 19.407.263.000 đồng. (3)
[14.7] Ngoài ra, trên Khu B hiện một phần sân tráng xi măng, nhà bảo vệ,
nhà xe được Công ty T9 xây dựng năm 2020, năm 2025 sau khi Công ty T8 tranh
chấp yêu cầu trả đất. Do đó, Tòa án cấp thẩm buộc Công ty T9 tháo dỡ tài sản
52
để trả khu B, là căn cứ. Tuy nhiên, theo Chứng thư thẩm định giá số
1098.2023.VT.HS, các tài sản này tổng giá trị 662.568.980 đồng (các bút lục
số 4748, 4749), việc buộc tháo dỡ sẽ gây lãng phí khả năng tái sử dụng theo
đúng công năng xây dựng gần như không còn; đồng thời, để thuận lợi khi thi hành
án, thì cần sửa bản án thẩm, buộc Công ty T8 nhận tài sản hoàn 40% giá trị
cho Công ty P19 tròn là 265.028.000 đồng (4); còn Công ty T9 phải chịu 60% thiệt
hại phần giá trtài sản không thu hồi được nếu buộc tháo dỡ. Đối với ng rào,
mặc vẫn còn hiện hữu nhưng được xây dựng năm 2009 đến năm 2026 đã hết
niên hạn sử dụng, nên không xác định giá trị (bút lục số 4741). Các cây trồng nằm
rải rác trên cả 2 khu đất thì giao Công ty T8 Công ty T9 sẽ được sở hữu tương
ứng phần đất được nhận.
[15] Như vậy, sau khi cấn trừ số tiền Công ty T9 phải bồi thường thiệt hại cho
Công ty T8, thì Công ty T8 còn phải hoàn trả cho Công ty T9 số tiền
2.062.599.000 đồng (= 21.204.834.000đ + 265.028.00- 19.407.263.000đ). Do
đó, không chấp nhận kháng cáo của Công ty T8 về việc không đồng ý bồi thường
thiệt hại là thanh toán số tiền chênh lệch do tỷ giá chênh lệch cho Công ty T9; chấp
nhận một phần kháng cáo của Công ty T9 B1 liên quan đến giải quyết hậu quả
pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
[16] Tại phiên tòa thẩm, các đương sự thống nhất Công ty T8 đã xuất hóa
đơn giá trị gia tăng cho toàn bộ số tiền Công ty T9 đã chuyển khoản thanh toán
37.454.201.595 đồng, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền 83.853.602 đồng, Công ty T8 thừa nhận đã nhận số tiền này nhưng
chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Tuy nhiên, do hợp đồng bị hiệu, Công ty T8
nghĩa vụ hoàn trả lại cho Công ty T9 số tiền thuê đất đã nhận 21.204.834.000đ
(nghĩa nhiều hơn 83.853.500 đồng), nên theo quy định pháp luật thuế thì Công
ty T8 không phải chịu thuế giá trị gia tăng và không xuất hóa đơn giá trị gia tăng.
Xét kháng cáo của Công ty T9 yêu cầu được toàn quyền liên hệ quan Nhà
nước thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng cấp GCNQSDĐ đối với thửa
3263; buộc Công ty T8 phải chịu mọi nghĩa vụ về thuế, tài chính liên quan để điều
chỉnh biến động trên GCNQSDĐ; buộc Công ty T8 chấm dứt các hành vi cản trở
quyền sử dụng đất của Công ty T9 tại thửa đất số 3263 và phải bàn giao cho Công
ty T9 bản gốc (chính) GCNQSDĐ số AQ 015205 các giấy tờ pháp khác
liên quan đến thửa đất mà Công ty T9 đã thuê của Công ty T8.
[17] Quá trình thực hiện 02 hợp đồng, khi Công ty T9 chưa thanh toán đủ tiền
thuê như thỏa thuận, thì các quyền của chủ sử dụng đất cho thuê vẫn còn thuộc
Công ty T8 theo quy định tại Điều 110 của Luật Đất đai năm 2003, trong đó có
quyền thế chấp QSDĐ, nên việc Công ty T9 cho rằng Công ty T8 sử dụng
GCNQSDĐ để thế chấp là có hành vi cản trở quyền sử dụng đất của Công ty T9 tại
thửa đất số 3263, là không có căn cứ.
[18] Mặt khác, hợp đồng đã được xác định hiệu, Bản án thẩm ghi
nhận sự tự nguyện của Công ty T8 về giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng
53
hiệu, chấp nhận cho Công ty T9 được sử dụng phần đất thuê tại khu A, có diện tích
30.100,2m
2
thuộc 1 phần của thửa 3263, thì phải được hiểu rằng quyền và nghĩa vụ
thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất thuê, chỉnh lý biến động trên
GCNQSDĐ đối với phần đất khu A và các nghĩa vụ về thuế, tài chính liên quan để
điều chỉnh biến động sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai
phù hợp với kết quả xét xử theo bản án, quyết định của Tòa án, không phải
theo sự thỏa thuận tại các hợp đồng đã bị tuyên hiệu. Do đó, các phần nội dung
kháng cáo này của Công ty T9, không căn cứ chấp nhận. Các bên phải thực
hiện thủ tục về thuê và đăng ký việc thuê, kê khai đăng ký cấp GCNQSDĐ đối với
phần đất thuê trong Khu công nghiệp theo quy định của pháp luật, phù hợp với bản
án này. Trong thời hạn sử dụng đất thuê còn lại, thì Công ty T9 phải nghĩa vụ
đóng cho Chủ đầu Khu công nghiệp Công ty T8 các nhà cung ứng dịch vụ
tương ứng phí quản trong Khu công nghiệp các khoản phí sử dụng hạ tầng
theo quy định tại khoản 11 Điều 2 của Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày
28/5/2022 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, với đơn giá và thời
hạn, phương thức thanh toán theo sự thỏa thuận giữa các bên và/hoặc theo khung
giá các loại phí sử dụng hạ tầng giá đã được chủ đầu Khu công nghiệp N đăng
ký với Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh T và theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên,
do tại mục 1.1, 1.2, 1.3 1.4 phần quyết định của Bản án thẩm đã tuyên sự
không nhất quán, nhiều cách hiểu khác nhau nđại diện của Công ty T9
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Công ty T9, B1 nại ra tại phiên tòa
phúc thẩm, dẫn đến khả năng khó thi hành án, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ
sửa lại cách tuyên án cho phù hợp.
Xét kháng cáo của Công ty T9 yêu cầu Công ty T8 phải bồi thường thiệt hại
thanh toán tiền lãi chậm trả đến ngày xét xử do vi phạm Hợp đồng số 01 số
02, vì chậm bàn giao đất cho Công ty T9, số tiền tạm tính là 2.409.327.559 đồng
[19] Công ty T9 cũng không chứng minh được thiệt hại trực tiếp do bị chậm
bàn giao đất. Hơn nữa, Hợp đồng số 01 02 hiệu do vi phạm điều cấm, nên
không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ
thời điểm xác lập. Do đó, không căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo này
của Công ty T9.
Xét kháng o của Công ty T9 yêu cầu Công ty T8 phải xuất hóa đơn thuế
Giá trị gia tăng (VAT) cho Công ty T9 đối với stiền 7.571.770.698 đồng (Bảy
tỷ năm trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi nghìn sáu trăm chín mươi tám
đồng), trong đó: Hóa đơn VAT cho Hợp đồng s01 5.792.447.292 đồng; Hóa
đơn VAT cho Hợp đồng số 02 1.779.323.406 đồng; trường hợp Công ty T8
không thực hiện thì phải hoàn trả cho Công ty T9 số tiền tương ứng với tiền thuế
VAT mà Công ty T9 đã nộp cho cơ quan thuế
[20] Công ty T9 đã tự ý chuyển khoản số tiền này cho Công ty T8 và cho rằng
đã thanh toán đủ cho hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất, nhưng không được
Công ty T8 chấp nhận và đã chuyển hoàn cho Công ty T9. Hợp đồng đã bị vô hiệu,
54
số tiền này vẫn đang trong tài khoản của Công ty T9, bị đơn vẫn là chủ sở hữu nên
Tòa án cấp thẩm đã không chấp nhận yêu cầu này của bị đơn, căn cứ. Hội
đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của Công ty T9.
Xét kháng cáo của Công ty T9 không đồng ý trả cho B1 nợ lãi trong hạn
268.873.534.095 đồng và nợ lãi quá hạn 243.730.595 đồng; yêu cầu B1 điều chỉnh
dữ liệu tín dụng và phân loại lại khoản nợ của Công ty T9 theo Hợp đồng tín dụng
số 3989 vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn tại Trung tâm T10; yêu cầu B1 cơ cấu lại
khoản nợ tiền vay phải trả theo Hợp đồng tín dụng số 3989 cho Công ty T9
được thực hiện với tổng thời hạn cho vay 25,5 năm, tức từ ngày 07/7/2009 đến
hết năm 2034 kháng cáo của B1 yêu cầu Công ty T9 thanh toán khoản lãi quá
hạn từ ngày 30/9/2014 đến ngày 07/01/2017 là 38.903.643.583 đồng
[21] Ngày 07/7/2009, Công ty T9 kết Hợp đồng tín dụng số 3989 với B1,
với tổng hạn mức tín dụng được cấp là 200 tỷ đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng,
B1 đã 04 lần cấu lại thời hạn trả nợ cho Công ty T9, cụ thể: ngày 07/9/2010:
kéo dài thời hạn vay tối đa 9,5 năm, ân hạn đến hết năm 2010; ngày 12/8/2011: ân
hạn lãi đến hết năm 2012; ngày 19/01/2012: nâng tổng thời gian vay lên 12 năm;
lần cuối cùng theo Công văn số 328/CV-BIDVSG ngày 20/5/2014, B1 đã điều
chỉnh thời hạn vay dự án 15,5 năm, tức từ ngày 07/7/2009 đến hết năm 2024.
Hợp đồng tín dụng các thay đổi về thời hạn vay, trả gốc và lãi được các bên
giao kết trên cơ sở tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực pháp
luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, nội dung mục đích của giao dịch không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức hội, nên Tòa án cấp thẩm
căn cứ vào thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 3989 04 lần B1 cấu li
thời hạn trả nợ, để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, là đúng
quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 51 Luật Các tổ chức tín
dụng năm 1997. ng ty T9 B1 thống nhất xác định, B1 đã thực hiện giải ngân
nhiều đợt cho Công ty T9 với tổng s tiền tính đến ngày 18/4/2011
174.595.773.225 đồng, còn số tiền 25.404.226.775 đồng thuộc hạn mức tín dụng
chưa được B1 giải ngân. Công ty T9 kháng cáo cho rằng, hành vi ngừng giải ngân
của B1 đã gây thiệt hại cho Công ty T9 nên B1 có lỗi, từ đó đề nghị chấp nhận yêu
cầu của Công ty T9 đối với B1 về việc Công ty T9 không phải trả lãi cho B1. Hội
đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng trong toàn bộ nội dung của Hợp đồng tín dụng số
3989 hoàn toàn không thỏa thuận nào về việc nếu B1 ngừng giải ngân thì Công
ty T9 không nghĩa vthanh toán lãi cho B1. Luật Các tổ chức tín dụng năm
1997, năm 2010, năm 2024 cũng không quy định trường hợp khi tổ chức tín
dụng chấm dứt việc cấp tín dụng thì khách hàng vay nợ không phải trả lãi trong
hạn cho khoản vay đã được giải ngân trước đó. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm
không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty T9 về việc không đồng ý thanh
toán tiền lãi trong hạn cho B1.
[22] Về i quá hạn: Bản án thẩm B1 căn cứ khoản 6 Điều 1 Quyết
định số 127/2005/QĐ-NHNN để xem xét lãi quá hạn của Công ty T9 trong thời
gian được cấu nợ, không đúng quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Ban
55
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 về luật áp dụng tại thời điểm xác lập
giao dịch, bởi lẽ, khoản 6 Điều 1 Quyết định số 127 đã bị sửa đổi bởi Điều 1 Quyết
định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 của Thống đốc Ngân hàng N4 (có
hiệu lực vào ngày 23/6/2005). Tại Công văn số 328/CV-BIDVSG ngày 20/5/2014,
B1 đã điều chỉnh thời hạn vay dự án là 15,5 năm, tức từ ngày 07/7/2009 đến hết
năm 2024 và nêu rõ: về lịch trả nợ gốc lãi năm 2013 B1 gửi nhưng Công ty T9
chưa thống nhất về số liệu nên không ký phụ lục; về lịch trả nợ vay dài hạn của dự
án từ năm 2014 đến hết năm 2024 B1 đề nghị Công ty T9 chủ động xác định và gửi
cho B1 để thống nhất phụ lục (bút lục 1994). B1 không cung cấp được phụ lục
lịch trả nợ của Công ty T9 đã được 02 bên thống nhất. Quyết định số
783/2005/QĐ-NHNN chỉ quy định khoản nợ được cấu lại s được phân loại
vào nhóm nợ thích hợp theo quy định về phân loại nợ, không quy định nợ được
cấu lại phải tính lãi suất nợ quá hạn. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của B1
về việc buộc Công ty T9 phải chịu khoản lãi quá hạn từ ngày 30/9/2014 đến ngày
07/01/2017 38.903.643.583 đồng; chấp nhận kháng cáo của Công ty T9 vviệc
bác yêu cầu khởi kiện của B1 đòi Công ty T9 phải trả khoản lãi quá hạn từ ngày
08/01/2017 đến hết ngày 14/3/2017 là 135.044.510 đồng. Như vậy, tổng các khoản
nợ lãi quá hạn B1 yêu cầu không được chấp nhận 58.342.555.716đ
(=38.903.643.583đ + 135.044.510đ + 19.303.867.623đ). Từ ngày 01/01/2025 đến
ngày 27/5/2026, khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn do không được cơ cấu lại
thời hạn trả nợ, nên Bản án thẩm buộc Công ty T9 phải chịu lãi quá hạn
108.686.085 đồng, là có căn cứ.
[23] Khoản nợ của Công ty T9 đã được cấu gia hạn 04 lần, nên B1
Trung tâm T10 (C) tổng hợp, thực hiện phân loại nợ đối với Công ty T9, phù
hợp với quy định tại Điều 4, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 21 Điều 22 của
Thông số 01/2014/TT-NHNN; Điều 4, Điều 8, Điều 10, Điều 13 của Thông tư
số 31/2024/TT-NHNN, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 37/2025/TT-
NHNN. Do đó, Bản án thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty
T9 về điều chỉnh dữ liệu tín dụng, phân loại ncấu lại khoản nợ, căn
cứ.
Xét kháng cáo của Công ty T9 yêu cầu B1 bồi thường thiệt hại và lãi chậm trả
tổng số tiền (tạm tính) là 3.916.199.972 đồng do vi phạm Hợp đồng tín dụng số
3989
[24] Theo trình bày của Công ty T9 trong hồ sơ vụ án thể hiện, Công ty T9
đã ký các hợp đồng với ng ty Đ1 để xây dựng dự án kho lạnh kho khô tại Khu
công nghiệp N với Công ty A1 để mua trang thiết bị cho dự án. Công ty T9 cho
rằng, hành vi ngừng giải ngân của B1 đã làm cho Công ty T9 phải thanh toán
bồi thường thiệt hại cho Công ty A1 Công ty Đ1, đồng thời cung cấp chứng từ
chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Công ty A1 và Công ty Đ1 không có
yêu cầu hay ý kiến độc lập trong vụ án.
56
[25] Đối với Công ty Đ1, công trình đã được bàn giao và xuất hóa đơn ngày
29/12/2010; đối với Công ty A1, thì Công ty T9 đã thanh toán đủ tiền vào tháng
02/2011. B1 chỉ ngừng giải ngân cho Công ty T9 vào ngày 18/4/2011. Đến ngày
09/11/2021, Công ty T9 mới đơn yêu cầu B1 bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng tín dụng. Tại đoạn [11] phần nhận định của Bản án thẩm, Tòa án cấp
thẩm nhận định rằng, Công ty T9 phải tự đánh giá khả năng i chính dự
phòng rủi ro khi ký hợp đồng; việc B1 ngừng giải ngân không phải là nguyên nhân
trực tiếp làm cho Công ty T9 không thanh toán đúng hạn cho 02 đối tác; đồng thời,
đã xem xét chấp nhận yêu cầu của B1 về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện, từ đó
quyết định đình chỉ xét xử yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty T9 đối với B1,
là hoàn toàn có căn cứ theo Điều 319 Luật Thương mại 2005; Điều 149 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử
phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của Công ty T9.
Xét kháng cáo của Công ty T9 không đồng ý việc B1 quyền xử hoặc đề
nghị quan Thi hành án xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm toàn bộ công trình,
máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ và tài sản khác thuộc sở hữu của Công ty
T9 trên thửa 3263 kháng cáo của B1 yêu cầu công nhận hiệu lực của việc thế
chấp quyền sử dụng đất thửa 3263
[26] Ngày 07/7/2009, Công ty T9 B1 ký Hợp đồng tín dụng số 3989, sau
đó được sửa đổi, bổ sung bằng Hợp đồng số 59/2010/HĐ ngày 06/01/2010, với hạn
mức vay 200 tỷ đồng. Để bảo đảm khoản vay, hai bên Hợp đồng thế chấp số
3990 cùng ngày 07/7/2009, thỏa thuận tại khoản 1 Điều 1 rằng tài sản thế chấp
tài sản hình thành từ vốn vay, gồm: quyền sử dụng đất và quyền sở hữu công trình
trên đất; quyền sở hữu tài sản máy móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ….
Trong khi đó, tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 3989, thì mục đích sử dụng số
tiền vay “để đầu các hạng mục xây lắp, thiết bị, công trình phụ trợ và chi phí
khác của dự án đầu kinh doanh kho lạnh kho khô tại Khu công nghiệp N”.
Tại đoạn [8] phần nhận định của Bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định
rằng, tại thời điểm thế chấp, Công ty P12 Hợp đồng số 01 02 để thuê lại đất
của Công ty T8 vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, nên Công ty T9 chưa
được cấp GCNQSDĐ đối với đất thuê; thửa 3263 vẫn do Công ty T8 đứng tên trên
GCNQSDĐ. Công ty T8 hoàn toàn không có văn bản cam kết dùng quyền sử dụng
đất thửa 3263 để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ vay của Công ty T9 đối với B1; thỏa
thuận thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất giữa Công ty T9 B1 không đáp ứng
quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 320 Bộ luật Dân sự
2005; khoản 1, khoản 2 Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006;
đồng thời, 02 hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất giữa Công ty T8 Công ty T9
đã vô hiệu, từ đó, không chấp nhận yêu cầu của B1 về việc xác định quyền sử dụng
đất thửa 3263 tài sản thế chấp, hoàn toàn căn cứ. B1 kháng cáo cho rằng,
pháp luật đang hiệu lực tại thời điểm Công ty T9 B1 xác lập giao dịch thế
chấp không quy định tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử
dụng đất, để yêu cầu công nhận hiệu lực của thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất
57
thửa 3263, nhưng, như Tòa án cấp thẩm và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã nhận
định, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất giữa Công ty T8 Công ty T9 đã
hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (chủ thể không quyền nhưng vẫn xác
lập giao dịch), không làm phát sinh các quyền nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng thlại đất ngay từ thời điểm xác lập giao dịch, nên kháng cáo của B1
không có căn cứ để được chấp nhận.
[27] Đối với tài sản có trên thửa 3263, bao gồm công trình, vật kiến trúc, máy
móc, thiết bị, dây chuyền, công nghệ…, thì các tài sản này thuộc quyền sở hữu của
Công ty T9, đáp ứng các điều kiện pháp luật về giao dịch bảo đảm. Tại khoản 2
Điều 1 của Hợp đồng thế chấp số 3990, các bên đã thỏa thuận “Trường hợp ngoài
nguồn vốn vay của Ngân hàng, Bên thế chấp còn sử dụng các nguồn tài chính của
chính mình để đầu tư vào tài sản thế chấp nêu tại khoản 1 điều này thì toàn bộ giá
trị tài sản do chính Bên thế chấp đầu đó cũng thuộc tài sản thế chấp” (bút lục
số 1418). Do đó, Bản án sơ thẩm đã chấp nhận 1 phần yêu cầu của B1 về xử lý các
tài sản này, là có căn cứ, nên không chấp nhận kháng cáo của Công ty T9 cho rằng,
một số tài sản hình thành sau khi B1 đã ngừng giải ngân thì không thuộc phạm
vi thế chấp.
Xét kháng cáo của Công ty T9 yêu cầu B1 trả lại toàn bbản gốc các hợp
đồng, chứng từ, hóa đơn đã được Công ty T9 tạm bàn giao cho B1 theo Biên bản
Danh sách hồ tài sản dự án kho lạnh bàn giao ngày 25/3/2011 kháng cáo
của B1 không đồng ý chịu án phí liên quan đến yêu cầu khởi kiện này của Công ty
T9
[28] Công ty T9 thừa nhận đã bàn giao các tài liệu này cho B1 theo yêu cầu
của ngân ng, nhưng cho rằng nhân viên ngân hàng chỉ ợn tạm cam kết
hoàn trả sau khi Đoàn Thanh tra Chính phủ kiểm tra. Tuy nhiên, B1 không thừa
nhận Công ty T9 không cung cấp được chứng cứ chứng minh thỏa thuận
“mượn tạm” này. Tại khoản 2 khoản 7 Điều 6 của Hợp đồng thế chấp số 3990
quy định, B1 quyền kiểm tài sản thế chấp, giữ bản gốc các giấy tờ chứng
nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, quản các giấy tờ liên quan đến tài sản
bảo đảm; đồng thời nghĩa vụ giao lại toàn bộ giấy tờ sau khi bên thế chấp hoàn
thành đầy đnghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng. Thỏa thuận này hoàn toàn phù
hợp với quy định tại Điều 4, khoản 1 Điều 350 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều
53 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997; Điều 7 Điều 94 Luật Các tổ chức tín
dụng năm 2010.
[29] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, yêu cầu khởi kiện này
của Công ty T9 phải được hiểu rằng, Công ty T9 cho rằng không thế chấp bản
gốc các hợp đồng, chứng từ, hóa đơn đã được Công ty T9 tạm bàn giao cho B1
theo Biên bản Danh sách hồ tài sản dự án kho lạnh bàn giao ngày 25/3/2011,
nên yêu cầu B1 giao trả. Lẽ ra, Tòa án cấp thẩm phải tuyên không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu này của Công ty T9, vì không có căn cứ; và hơn nữa, việc xử lý tài
sản thế chấp, giao trả hồ sơ tài liệu thế chấp tùy thuộc vào việc Công ty T9 thi hành
58
nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng tại giai đoạn thi hành án. Nếu Công ty T9
không trả được nợ, thì B1 quyền xử tài sản bảo đảm đthu hồi nợ, theo quy
định tại Điều 299, Điều 300 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 54 Luật Các tổ
chức tín dụng năm 1997; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 103
Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 52 của Nghị định s21/2021/NĐ-CP
ngày 19/3/2021 của Chính phủ. Điều này sdẫn đến B1 không giao trả hồ sơ giấy
tờ về tài sản cho Công ty T9 sẽ được quan thi hành án xử theo đơn yêu
cầu thi hành án của B1. Bản án thẩm lại tuyên chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi
kiện này của Công ty T9, buộc B1 trả lại cho Công ty T9 toàn bộ bản gốc các hợp
đồng, chứng từ, hóa đơn theo Biên bản Danh sách hồ tài sản dự án kho lạnh
bàn giao ngày 25/3/2011 ngay khi Công ty T9 thanh toán xong toàn bộ nợ gốc
tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 3989 buộc B1 phải chịu án
phí sơ thẩm không có giá ngạch, là không chính xác, nên cần chấp nhận kháng cáo
của B1, sửa bản án sơ thẩm về phần này và án phí có liên quan.
[30] Do sửa một phần bản án thẩm về giải quyết hậu quả pháp của hợp
đồng thuê lại quyền sử dụng đất vô hiệu, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa phần
nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm có liên quan.
[31] Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm:
[31.1] Công ty T8 đã nộp tại cấp sơ thẩm lần thứ nhất là 253.780.000 đồng và
lần thứ hai là 151.600.000 đồng, tổng cộng là 405.380.000 đồng. Do Công ty T8 và
Công ty T9 cùng lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu, nên chịu chi phí tố tụng tương
ứng với tỷ lệ lỗi, cụ thể: Công ty T8 chịu 6/10 chi p243.228.000 đồng; Công
ty P18 chi phí 162.152.000 đồng phải nộp để hoàn trả tạm ứng cho Công ty
T8.
[31.2] Chi phí định giá và xem xét thẩm định tại chỗ do B1 yêu cầu
119.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của B1 được chấp nhận một phần; yêu cầu
phản tố của Công ty T9 được chấp nhận một phần, nên Bản án thẩm buộc mỗi
bên phải chịu ½ chi phí này là đúng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[32] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
[32.1] Buộc Công ty T8 phải chịu án phí giá ngạch tương ứng với số tiền
phải hoàn trả cho Công ty T9 73.252.000 đồng, được khấu trừ vào stiền tạm
ứng án phí Công ty T8 đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An (nay Phòng Thi
hành án khu vực 4-Tây Ninh) sang thi hành án phí, gồm: số tiền 70.276.270 đồng
theo Biên lai số 02860 ngày 05/01/2016; số tiền 600.000 đồng theo 02 Biên lai số
0002323 và số 0002324 cùng ngày 04/9/2020. Công ty T8 còn phải nộp tiếp
2.376.000 đồng án phí sơ thẩm.
[32.2] ng ty T9 phải chịu các khoản án phí không giá ngạch, gồm:
6.000.000 đồng đối với yêu cầu hiệu 02 hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất
59
của Công ty T8 được chấp nhận; 3.000.000 đồng đối với yêu cầu xử tài sản thế
chấp của B1 được chấp nhận một phần; 9.000.000 đồng do không được chấp nhận
3 yêu cầu đối với Công ty T8, gồm: yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền s
dụng đất, yêu cầu chịu thuế, phí chỉnh biến động trên GCNQSDĐ yêu cầu
xuất hóa đơn giá trị gia tăng; 9.000.000 đồng do không được chấp nhận 3 yêu cầu
đối với B1, gồm: yêu cầu hoàn trả bản chính giấy tờ, yêu cầu điều chỉnh dliệu,
phân loại nhóm nợ yêu cầu cơ cấu lại khoản vay. Công ty T9 còn phải chịu các
khoản án phí giá ngạch (đã được quy tròn), gồm: 80.187.000 đồng tương ứng
với số tiền yêu cầu ng ty T8 bồi thường thiệt hại 2.409.327.559 đồng nhưng
không được chấp nhận; 484.618.000 đồng tương ứng với số tiền 376.617.754.083đ
phải trả cho B1. Đối với số tiền 3.916.199.972 đồng Công ty T9 yêu cầu B1 bồi
thường thiệt hại, do đình chỉ giải quyết vụ án vì hết thời hiệu khởi kiện, nên Bản án
thẩm không buộc Công ty P20 chịu, là có căn cứ theo khoản 3 Điều 218 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Tổng cộng số tiền án phí (có giá ngạch và không có giá ngạch)
Công ty T9 phải chịu là 591.805.000 đồng, được khấu trừ vào 109.014.500
đồng tổng số tiền tạm ứng án phí Công ty T9 đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An
(nay là Phòng Thi hành án khu vực 4-Tây Ninh) sang thi hành án phí, gồm: số tiền
32.852.500 đồng theo Biên lai số 0008270 ngày 09/11/2021; số tiền 55.162.000
đồng theo Biên lai số 0008557 ngày 28/02/2022; stiền 3.000.000 đồng theo Biên
lai số 0008558 ngày 28/02/2022; số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai số 0006834
ngày 20/12/2023; số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai số 0006854; số tiền
3.000.000 đồng theo Biên lai số 0006855 số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai
số 0006856 cùng ngày 04/01/2024; số tiền 6.000.000 đồng theo Biên lai số
0002007 ngày 27/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Công ty T9 còn
phải nộp tiếp 482.790.500 đồng án phí.
[32.3]. B1 phải chịu 02 khoản án phí không có giá ngạch tổng cộng 6.000.000
đồng đối với yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử
dụng đất yêu cầu xử phát mãi quyền s dụng đất để thu hồi nợ;
166.343.000 đồng (được quy tròn) án phí giá ngạch trên số tiền lãi quá hạn
58.342.555.716 đồng đã yêu cầu, nhưng không được chấp nhận. Tổng cộng số tiền
án phí (có giá ngạch không giá ngạch) mà B1 phải chịu được quy tròn
172.343.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 210.530.777 đồng tạm ứng án phí do
Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam đã nộp theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006303 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An (nay Phòng Thi hành án khu vực
4-Tây Ninh) sang thi hành án phí. Hoàn trả cho B1 số tiền quy tròn 38.188.000
đồng tạm ứng án phí còn thừa.
[33] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: do kháng cáo không được
chấp nhận nên Công ty T8 phải chịu án phí. Công ty T9 B1 không phải chịu do
kháng cáo được chấp nhận một phần.
60
[34] Đề nghị của Kiểm sát viên căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử và quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 165, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309
của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 106, Điều 110 Luật Đất đai năm 2003; Điều 98
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; Điều 66 Nghị định số
84/2007/NĐ-CP; khoản 2 Điều 7 Điều 9 Luật Kinh doanh bất động sản năm
2006; Điều 4, Điều 122, khoản 2 Điều 137, khoản 2 Điều 320, khoản 1 Điều 350
Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 131, Điều 149, Điều 299, Điều 300 Bộ
luật Dân snăm 2015; khoản 1 khoản 2 Điều 4 Nghị định số 163/2006/-CP
ngày 29/12/2006; Điều 51, Điều 53, Điều 54 Luật Các tchức tín dụng năm 1997;
Điều 7, Điều 94, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 103 Luật Các
tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 52 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021
của Chính phủ; Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 của Thống
đốc Ngân hàng N4; Điều 4, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 21 Điều 22 Thông
số 01/2014/TT-NHNN; Điều 4, Điều 8, Điều 10, Điều 13 Thông số
31/2024/TT-NHNN, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 37/2025/TT-NHNN;
Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần T8; chấp nhận một phần
yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần T9; chấp nhận một phần yêu cầu kháng
cáo của Ngân hàng TMCP Đ.
3. Sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 06/2026/KDTM-
ST ngày 02 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4-Tây Ninh.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần T8; chấp nhận
một phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9; chấp nhận một phần yêu cầu
độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
5. Vô hiệu 02 (hai) Hợp đồng thuê lại đất Khu công nghiệp N-B số 01-01/TĐ-
CPTY-08 số 02-01/TĐ-CPTY-08, được kết giữa Công ty Cổ phần T8
Công ty Cổ phần T9 cùng ngày 08/01/2008.
6. Về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu:
6.1. Buộc Công ty Cổ phần T8 nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty Cổ phần T9
số tiền 2.062.599.000đ (hai tỷ, không trăm sáu mươi hai triệu, năm trăm chín mươi
chín nghìn đồng).
6.2. Công nhận cho Công ty Cổ phần T8 được quyền sở hữu toàn bộ công
trình, vật kiến trúc, cây trồng các tài sản khác trên khu B diện tích
61
30.093,8m
2
, loại đất SKK, thuộc một phần thửa 3263, tờ bản đsố 03 (tờ bản
đồ mới số 29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây
Ninh).
6.3. Buộc ng ty Cổ phần T9 nghĩa vụ giao trả cho Công ty Cổ phần T8
phần đất tại vị trí khu B toàn bộ công trình, vật kiến trúc, cây trồng các tài
sản khác có trên khu B.
6.4. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần T8 về việc cho Công ty Cổ
phần T9 được sử dụng phần đất có diện ch 30.100,2m
2
tại vị trí khu A thuộc một
phần thửa 3263, tờ bản đồ số 03 (tờ bản đồ mới số 29); địa chỉ thửa đất: xã N,
huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây Ninh); hình thức sử dụng: sử dụng
riêng; mục đích sử dụng: đất khu công nghiệp; thời hạn sử dụng: đến ngày
02/10/2057; nguồn gốc sử dụng: thuê đất trả tiền một lần của Công ty Cổ phần T8
(Khu công nghiệp N).
6.5. Xác định Công ty Cổ phần T9 đã thanh toán đủ cho Công ty Cổ phần T8
số tiền tổng cộng là 22.623.062.00(hai mươi hai tỷ, sáu trăm hai mươi ba triệu,
không trăm sáu mươi hai nghìn đồng), tương đương 1.225.518 USD (một triệu, hai
trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm mười tám đô la Mỹ), tiền thuê đất (đã
10% VAT) tại vị trí khu A, cho trọn thời hạn sử dụng đất đến ngày 02/10/2057 đã
được ghi nhận theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số phát hành AQ 015205,
số vào sổ cấp Giấy chứng nhận T 04739 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L
(nay Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T) đã cấp cho Công ty Cổ phần T8
ngày 10/11/2009.
6.6. Xác định Công ty Cổ phần T8 đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công
ty Cổ phần T9 đối với toàn bộ số tiền thuê lại quyền sử dụng đất Công ty Cổ
phần T9 đã thanh toán cho Công ty Cổ phần T8 tại vị trí khu A.
6.7. Công ty Cổ phần T9 có các quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế thuê lại
quyền sử dụng đất trong Khu ng nghiệp N tại vtrí khu A theo quy định của
pháp luật.
6.8. Công ty Cphần T9 nghĩa vụ thanh toán các khoản phí quản lý, sử
dụng hạ tầng trong Khu công nghiệp, bao gồm nhưng không giới hạn, phí dịch
vụ sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công trình dịch vụ, hệ thống
đường giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, xử nước
thải, chất thải các công trình dịch vụ, tiện ích công cộng khác trong thời hạn sử
dụng đất thuê cho Công ty Cổ phần T8 và/hoặc các đơn vị cung cấp dịch vụ tương
ứng trong Khu công nghiệp, theo đơn giá và thời hạn thanh toán theo sự thỏa thuận
giữa các bên; và/hoặc theo khung giá các loại phí sử dụng hạ tầng đã được Chủ đầu
Khu công nghiệp N-B đăng ký với Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh T theo quy
định của pháp luật.
6.9. Buộc Công ty Cổ phần T8 Công ty Cổ phần T9 nghĩa vụ liên hệ
quan nhà nước thẩm quyền để thực hiện các thủ tục đăng biến động đất đai,
62
chỉnh biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AQ
015205, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận T 04739 do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh L (nay Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T) đã cấp cho Công ty Cổ phần
T8 ngày 10/11/2009 đối với phần diện tích đất Công ty Cổ phần T9 được thuê
lại tại vị trí khu A, để Công ty Cổ phần T9 được cấp mới Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với phần diện tích đất thuê lại tại khu A đã được công nhận theo
bản án.
6.10. Buộc Công ty Cổ phần T8 Công ty Cphần T22 bên nghĩa vụ
chịu thuế, phí, lệ phí các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) theo quy định của
pháp luật khi thực hiện thực hiện các thủ tục đăng biến động đất đai đối với
phần diện tích đất Công ty Cổ phần T9 được thuê lại tại khu A.
6.11. Buộc Công ty Cổ phần T8 nghĩa vụ nộp bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất sphát hành AQ 015205, số o sổ cấp Giấy chứng nhận T
04739 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L (nay Sở Nông nghiệp Môi
trường tỉnh T) đã cấp cho Công ty Cổ phần T8 ngày 10/11/2009 cho các quan
Nhà nước thẩm quyền đthực hiện chỉnh biến động, thu hồi, cấp mới, cấp
lại… Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần T8 đối với phần
diện tích đất tại vị trí khu B cho Công ty Cổ phần T9 đối với phần diện tích đất
tại vị trí khu A theo quy định của pháp luật.
6.12. Trường hợp bên nghĩa vụ không nộp bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì quan Nhà nước thẩm quyền, Sở Nông nghiệp Môi
trường tỉnh T, Văn phòng đăng đất đai tỉnh T, Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai khu vực B, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T và các cơ quan có liên quan căn
cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để thực hiện các thủ tục và trình cơ quan Nhà
nước thẩm quyền để chỉnh biến động, thu hồi hoặc hủy bỏ Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp để cấp lại, cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho
các bên đương sự, phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
6.13. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ
vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết chỉnh biến động, thu hồi hoặc
hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để cấp lại, cấp mới Giấy chứng
nhận quyền sử dụng cho các bên đương sự, phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa
án.
6.14. Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người
được xác lập quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất thuê lại theo bản án, quyết định
của Tòa án. Trường hợp các bên vi phạm việc sử dụng đất, sử dụng đất thuê lại đã
được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu cơ quan thi
hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.
7. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 đối với Công ty
Cổ phần T8 vviệc buộc Công ty Cổ phần T8 phải thực hiện các nghĩa vụ theo
thỏa thuận tại 02 (hai) Hợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08 số 02-
63
01/TĐ-CPTY-08 được ký kết giữa ng ty Cổ phần T8 Công ty Cổ phần T9
cùng ngày 08/01/2008, gồm:
7.1. Điều chỉnh biến động sang tên người sử dụng đất Công ty Cổ phần T9
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 015205 do Ủy ban nhân dân tỉnh L
(nay tỉnh Tây Ninh) đã cấp cho Công ty Cổ phần T8 vào ngày 10/11/2009
buộc Công ty Cổ phần T8 phải chịu toàn bộ các nghĩa vụ về thuế, tài chính liên
quan khi đăng ký biến động đất đai;
7.2. Buộc Công ty Cổ phần T8 chấm dứt các hành vi cản trở quyền sdụng
đất của Công ty Cổ phần T9 đối với toàn bdiện ch 60.194m
2
, thuộc thửa đất số
3263, tờ bản đồ số 03 (tbản đồ mới số 29), địa chỉ tại N, huyện B, tỉnh
Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh);
7.3. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải bàn giao cho Công ty Cổ phần T9 (chính)
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AQ 015205 do Ủy ban nhân n tỉnh L
(nay là y ban nhân dân tỉnh T) cấp ngày 10/11/2009 các giấy tờ pháp khác
có liên quan đến thửa đất số 3263;
7.4. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải bồi thường thiệt hại thanh toán tiền lãi
chậm trả đến ngày xét xử do chậm bàn giao đất cho Công ty Cổ phần T9, vi phạm
02 (hai) Hợp đồng thuê lại đất số 01-01/TĐ-CPTY-08 số 02-01/TĐ-CPTY-08
được ký kết giữa Công ty Cổ phần T8 Công ty Cổ phần T9 cùng ngày
08/01/2008, số tiền 2.409.327.559đ (hai tỷ, bốn trăm lẻ chín triệu, ba trăm hai
mươi bảy nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng);
7.5. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải xuất hóa đơn thuế Giá trị gia tăng cho
Công ty Cổ phần T9 đối với số tiền 7.571.770.698đ (bảy tỷ, năm trăm bảy mươi
mốt triệu, bảy trăm bảy mươi nghìn, sáu trăm chín mươi tám đồng).
8. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần T9 đối với
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:
hiệu một phần Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số
3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP Đ
Chi nhánh S đối với tài sản Quyền sử dụng đất thuộc thửa 3263, tờ bản đồ
số 03 (tờ bản đồ mới số 29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B,
tỉnh Tây Ninh).
9. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ
phần T9 vviệc: buộc Ngân hàng TMCP Đ bồi thường thiệt hại và lãi chậm trả
phát sinh tính đến ngày xét xử cho Công ty Cổ phần T9 do vi phạm Hợp đồng tín
dụng dài hạn số 3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9
Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh S, với tổng số tiền là 3.916.199.972đ (ba tỷ, chín
trăm mười sáu triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm bảy mươi hai
đồng), do hết thời hiệu khởi kiện.
64
10. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố sau đây của Công ty Cổ phần T9
đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:
10.1. Giao trả lại cho ng ty Cổ phần T9 bản gốc các hợp đồng, chứng từ,
hóa đơn đã được Công ty Cổ phần T9 bàn giao cho Ngân hàng TMCP Đ theo Biên
bản – Danh sách hồ sơ tài sản dự án kho lạnh bàn giao ngày 25/3/2011;
10.2. Điều chỉnh dữ liệu tín dụng và phân loại lại khoản nợ của Công ty Cổ
phần T9 theo Hợp đồng tín dụng dài hạn số 3989/2009/HĐ ký ngày 07/7/2009 giữa
Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh S vào nhóm nợ có rủi ro
thấp hơn (kể cả nhóm 1) tại Trung tâm T10;
10.3. Cơ cấu lại khoản nợ và tiền vay phải trả theo Hợp đồng tín dụng dài hạn
số 3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng
TMCP Đ Chi nhánh S cho Công ty Cổ phần T9 được thực hiện với tổng thời hạn
cho vay là 25,5 năm, tức từ ngày 07/7/2009 đến hết năm 2034.
11. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Đ đối với Công ty Cổ phần P3
11.1. Buộc Công ty Cổ phần P5 trả nợ vay cho Ngân hàng Thương mại C
phần Đ với tổng số tiền gốc lãi tính đến hết ngày 27/5/2026
376.617.754.083đ (ba trăm bảy mươi sáu tỷ, sáu trăm mười bảy triệu, bảy trăm
năm mươi bốn nghìn, không trăm tám mươi ba đồng), gồm: nợ gốc
107.635.533.903đ (một trăm lẻ bảy tỷ, u trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm ba
mươi ba nghìn, chín trăm lẻ ba đồng), nợ lãi trong hạn 268.873.534.095đ (hai trăm
sáu mươi tám tỷ, tám trăm bảy mươi ba triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, không
trăm chín mươi lăm đồng) nợ lãi quá hạn 108.686.085đ (một trăm lẻ tám triệu,
sáu trăm tám mươi sáu nghìn, không trăm tám mươi lăm đồng); tiền lãi phát
sinh kể từ ngày 28/5/2026 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng
dài hạn số 3989/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân
hàng TMCP Đ Chi nhánh S cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ.
11.2. Trường hợp Công ty Cphần P14 nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả n
không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP Đ quyền xử lý và/hoặc đề nghị cơ quan Thi
hành án có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài
sản hình thành từ vốn vay số 3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần
T9Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh S, là: toàn bộ công trình, vật kiến trúc, nhà
xưởng, máy móc, thiết bdây chuyền, công nghệ các tài sản khác thuộc quyền
sở hữu của Công ty Cổ phần T9 có trên phần đất tại vị trí khu A để thu hồi nợ vay.
Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán xong nợ cho Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đ, thì Công ty Cổ phần T9 còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ trả nợ cho đến khi trả xong toàn bộ nợ gốc vay và nợ lãi cho Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Đ.
11.3. Trường hợp ng ty Cổ phần T17 thực hiện quyền nghĩa vụ đăng
biến động để được cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất
65
thuê lại tại vị trí khu A, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được quyền yêu cầu
xử tài sản bao gồm tài sản thế chấp và cả quyền sử dụng đất tại khu A theo quy
định tại Điều 326 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để thu hồi nợ; số tiền thu được t
việc xử lý, bán đấu giá quyền sử dụng đất thuê lại tại khu A phải được ưu tiên để
thanh toán các nghĩa vụ về tài chính của Công ty Cổ phần T9 liên quan đến thủ tục
đăng ký biến động đất đai đối với phần đất tại khu A.
12. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Đ đối với Công ty Cổ phần T9 về việc:
12.1. Buộc Công ty Cổ phần T9 trả khoản lãi quá hạn tổng cộng
58.342.555.716đ (năm mươi tám tỷ, ba trăm bốn mươi hai triệu, năm trăm năm
mươi lăm nghìn, bảy trăm mười sáu đồng);
12.2. Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn
vay số 3990/2009/HĐ ngày 07/7/2009 giữa Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng
TMCP Đ Chi nhánh S đối với tài sản Quyền sử dụng đất thuộc thửa 3263, tờ
bản đồ số 03 (tờ bản đồ mới số 29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An
(nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
12.3. Công nhận cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ quyền xử hoặc
đề nghị quan Thi hành án xlý, phát mãi tài sản thế chấp toàn bộ Quyền sử
dụng đất thuộc thửa 3263, tờ bản đồ số 03 (mới tờ bản đồ số 29), tọa lạc tại
N, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) để thu hồi nợ vay.
13. Diện tích, vị trí, tứ cận của thửa 3263 tờ bản đồ số 03 (mới là tờ bản đồ số
29), tọa lạc tại N, huyện B, tỉnh Long An (nay B, tỉnh Tây Ninh), khu A,
khu B thuộc 1 phần thửa 3263 công trình, vật kiến trúc các tài sản khác
trên đất được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 01-2019 của Công ty
TNHH Đ2 vẽ ngày 08/10/2019 và được Văn phòng đăng đất đai tỉnh L duyệt
ngày 25/10/2019; Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu ngày 17/3/2026 của
Công ty TNHH Đ3.
14. Về chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ:
14.1. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải chịu 243.228.00(hai trăm bốn mươi
ba triệu, hai trăm hai mươi tám nghìn đồng) và đã nộp xong;
14.2. Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ phải chịu 59.500.000đ (năm
mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng) và đã nộp xong;
14.3. Buộc Công ty Cổ phần T9 phải chịu tổng cộng 221.652.00(hai trăm
hai mươi mốt triệu, sáu trăm năm mươi hai nghìn đồng) và phải nộp số tiền này để
hoàn trả cho Công ty Cổ phần T8 (một trăm sáu mươi hai triệu, một trăm năm
mươi hai nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ 59.500.000đ
(năm mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng).
66
15. Về nghĩa vụ nếu chậm thi hành án: kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
16. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
16.1. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải chịu án phí giá ngạch là 73.252.000đ
(bảy mươi ba triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn đồng), được khấu trừ vào stiền
tạm ứng án phí Công ty Cổ phần T8 đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An (nay
Phòng Thi hành án khu vực 4-Tây Ninh) sang thi hành án phí, gồm: số tiền
70.276.270 đồng theo Biên lai số 02860 ngày 05/01/2016; số tiền 600.000 đồng
theo 02 Biên lai số 0002323 và số 0002324 cùng ngày 04/9/2020. Công ty Cổ phần
T8 còn phải nộp tiếp án phí thẩm quy tròn 2.376.000đ (hai triệu, ba trăm bảy
mươi sáu nghìn đồng).
16.2. Buộc Công ty Cổ phần T9 phải chịu án phí tổng cộng 591.805.000đ
(năm trăm chín mươi mốt triệu, tám trăm lẻ năm nghìn đồng), gồm: 27.000.00
(hai mươi bảy triệu đồng) án phí không giá ngạch 564.805.000đ (năm trăm
sáu mươi bốn triệu, tám trăm lẻ năm nghìn đồng) án phí giá ngạch. Khấu trừ
vào tổng số tiền tạm ứng án pCông ty Cổ phần T9 đã nộp 109.014.500đ (một
trăm lẻ chín triệu, không trăm mười bốn nghìn, năm trăm đồng) theo các Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức,
tỉnh Long An (nay Phòng Thi hành án khu vực 4-Tây Ninh) sang thi hành án
phí, gồm: số tiền 32.852.500 đồng theo Biên lai số 0008270 ngày 09/11/2021; số
tiền 55.162.000 đồng theo Biên lai số 0008557 ngày 28/02/2022; số tiền 3.000.000
đồng theo Biên lai số 0008558 ngày 28/02/2022; stiền 3.000.000 đồng theo Biên
lai số 0006834 ngày 20/12/2023; số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai số 0006854;
số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai số 0006855 số tiền 3.000.000 đồng theo
Biên lai số 0006856 cùng ngày 04/01/2024; số tiền 6.000.000 đồng theo Biên lai số
0002007 ngày 27/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Công ty Cổ phần
T9 còn phải nộp tiếp 482.790.50(bốn trăm m mươi hai triệu, bảy trăm chín
mươi nghìn, năm trăm đồng) án phí.
16.3. Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ phải chịu án phí tổng cộng
172.343.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu, ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng),
gồm: 6.000.000đ (sáu triệu đồng) án phí không có giá ngạch và 166.343.000đ (một
trăm sáu ơi sáu triệu, ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng) án phí giá ngạch.
Khấu trừ vào số tiền 210.530.777đ (hai trăm mười triệu, năm trăm ba mươi nghìn,
bảy trăm bảy mươi bảy đồng) tạm ng án phí do Công ty TNHH MTV Q1 của các
tổ chức tín dụng Việt Nam đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0006303 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh
Long An (nay Phòng Thi hành án khu vực 4-Tây Ninh) sang thi hành án phí.
67
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền quy tròn 38.188.000đ
(ba mươi tám triệu, một trăm tám mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí còn thừa.
17. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
17.1. Buộc Công ty Cổ phần T8 phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng), được
khấu trừ vào số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0013843 ngày 17/6/2026 của Thi hành
án dân sự tỉnh Tây Ninh. Công ty Cổ phần T8 đã thi hành xong án phí phúc thẩm.
17.2. Công ty Cổ phần T9 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ không phải
chịu. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần T9Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ mỗi
đương sự stiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0013743 số 0013747 cùng ngày
16/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
18. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
19. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người
phải thi hành án quyền thỏa thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
8 và Điều 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 4-Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
68
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Huỳnh Thị Hồng Vân - Trịnh Thị
Phúc
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 38/2026/KDTM-PT Bản án số 38/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 38/2026/KDTM-PT Bản án số 38/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất