Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TAND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TAND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Hải Lăng (TAND tỉnh Quảng Trị) |
Số hiệu: | 12/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 31/07/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng TMCP B tranh chấp Hợp đồng tín dụng với ông Cai Văn Q, bà Nguyễn Thị H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 12/2024/DS-ST
Ngày: 31/7/2024
V/v Tranh chấp
Hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bùi Diệu Lương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Thuần.
2. Ông Nguyễn Ngọc Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hải Lăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng,
tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai
vụ án thụ lý số: 26/2024/TLST-DS ngày
16 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn
phiên tòa số 15/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B; địa chỉ trụ sở: LPBank Tower, Số B
đường T, Quận H, TP Hà Nội
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Nhật P - Giám đốc
Phòng G - Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/02/2024); có
mặt.
2. Bị đơn: Ông Cái Văn Q, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm
1975; đều có địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2024, bản trình bày ý kiến và lời khai tại
phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 10/3/2021, Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 - Phòng G đã ký Hợp
đồng tín dụng số HĐTD56D20210146 với ông Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H,
số tiền cấp tín dụng là 100.000.000 đồng, ông Q và bà H đã nhận đủ tiền vay trong
2
ngày 10/3/2021. Thời hạn vay: 36 tháng. Lãi suất: 8.8%/năm. Phương thức áp
dụng lãi suất: Lãi suất cố định được tính trên tổng dư nợ gốc ban đầu. Lãi suất nợ
gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá
hạn. (Cụ thể: Lãi suất quá hạn là 13.2%/năm). Lãi suất nợ lãi quá hạn là 10%/năm.
Theo cam kết về việc trả nợ, hàng tháng ông Q và bà H phải trả cho Ngân
hàng TMCP B số tiền gốc là 2.780.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo ngày thực
tế trong tháng. Quá trình thu hồi nợ ông Q và bà H đã trả được 29 kỳ và một phần
lãi của kỳ thứ 29, mỗi kỳ tương ứng với một tháng, từ thời điểm 10/4/2021 đến
10/8/2023, với tổng số tiền gốc đã trả là 80.620.000 đồng và tiền lãi là 21.288.764
đồng.
Do không trả được nợ đến hạn nên khoản vay của ông Q và bà H đã bị
chuyển nợ quá hạn vào ngày 20/8/2023. Kể từ khi khoản vay bị chuyển sang nợ
quá hạn, Ngân hàng TMCP B đã nhiều lần đôn đốc, gửi thông báo để ông Q và bà
H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Q và bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ, thường xuyên vi phạm các cam kết trả nợ. Tính đến ngày 31/7/2024 tổng
dư nợ của ông Q và bà H là 26.514.074 đồng, trong đó nợ gốc là 19.380.000 đồng,
nợ lãi quá hạn là 7.134.074 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP B yêu cầu Toà án buộc ông Cái Văn Q và bà
Nguyễn Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho Ngân hàng TMCP B theo
Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210146 ký ngày 10/3/2021 với tổng số tiền
tính đến ngày 31/7/2024 là: 26.514.074 đồng, trong đó nợ gốc là 19.380.000
đồng, nợ lãi quá hạn là 7.134.074 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, ông
Q và bà H phải chịu lãi suất quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số
HĐTD56D20210146 ký ngày 10/3/2021 với Ngân hàng TMCP B cho đến khi tất
toán khoản vay.
Tại bản tự khai ngày 24/4/2024 ông Cái Văn Q trình bày: Ngày 10/3/2021
vợ chồng ông Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H đã ký hợp đồng tín dụng với Ngân
hàng TMCP B - Chi nhánh Q1 - Phòng G để vay số tiền 100.000.000 đồng, trả nợ
dần hàng tháng. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B, ông đồng ý còn
nợ số tiền gốc là 19.380.000 đồng và tiền lãi như thông báo thụ lý vụ án. Do điều
kiện kinh tế khó khăn nên xin trả dần cho Ngân hàng mỗi tháng 500.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng cho ông Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H gồm: Thông báo thụ lý vụ án;
thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và
hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập đến phiên tòa; quyết định
hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông Q và bà H đã vắng mặt, không đến tham gia tố
tụng tại các phiên họp và phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng phát biểu ý kiến: Trong
thời gian chuẩn bị xét xử, thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều
26, 35, 97, 177, 195, 196, 203, 208, 220, 233 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
3
quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ
theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức
tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc ông
Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng TMCP B tổng số tiền vay
còn nợ tính đến ngày 31/7/2024 là: 26.514.074 đồng, trong đó nợ gốc là
19.380.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 7.134.074 đồng và tiếp tục trả lãi cho đến khi
thanh toán xong khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210146 ký
ngày 10/3/2021. Bị đơn ông Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem
xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định đây là vụ án “Tranh chấp Hợp đồng tín
dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26
Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện H, tỉnh Quảng Trị nên
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa
án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Cái Văn Q và
bà Nguyễn Thị H: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc
giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử,
giấy triệu tập đến phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa. Ông Cái Văn Q và bà
Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt
không có lý do. Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q và bà H.
[2] Về nội dung vụ án: Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210146 ký ngày
10/3/2021 giữa Ngân hàng TMCP B và ông Cái Văn Q, bà Nguyễn Thị H là hợp
pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực giao dịch
dân sự nói chung và Hợp đồng tín dụng nói riêng nên có hiệu lực bắt buộc đối với
các bên tham gia giao dịch. Ngày 10/3/2021 ông Q, bà H đã nhận được số tiền
vay là 100.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210146 đã ký
kết nên phải có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi theo cam kết tại Hợp đồng.
[2.1] Xét về khoản nợ gốc: Theo cam kết tại mục 4.1 Hợp đồng tín dụng
số HĐTD56D20210146 thì nợ gốc trả định kỳ vào ngày 10 của mỗi tháng, chia
thành 36 kỳ trả nợ, mỗi kỳ trả 2.780.000 đồng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên bắt đầu từ
tháng 4/2021, ngày trả nợ cuối cùng 10/3/2024. Quá trình thu hồi nợ ông Q và bà
H đã trả được 29 kỳ và một phần lãi của kỳ thứ 29, mỗi kỳ tương ứng với một
tháng, từ thời điểm 10/4/2021 đến 10/8/2023 với tổng số tiền gốc đã trả là
4
80.620.000 đồng. Do không trả được nợ, đến ngày 20/8/2023 khoản nợ của ông
Q, bà H đã chuyển sang nợ quá hạn. Do đó, cần buộc ông Q, bà H phải có trách
nhiệm trả toàn bộ số nợ gốc 19.380.000 đồng còn lại cho Ngân hàng TMCP B.
[2.2] Xét về khoản nợ lãi: Tại Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210367
ký ngày 29/9/2021, nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận lãi suất cho vay là
8.8%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm
chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi quá hạn là 10%/năm, lãi trả định kỳ vào ngày
10 của mỗi tháng theo dư nợ gốc ban đầu, bắt đầu trả lãi từ tháng 4/2021. Trong
quá trình từ tháng 4/2021 đến tháng 8/2023, cùng với việc trả nợ gốc thì ông Q,
bà H đã trả lãi theo cam kết với tổng số tiền là 21.288.764 đồng. Xét Hợp đồng
tín dụng đã được xác lập và thỏa thuận giữa các bên về mức lãi suất trong hạn, lãi
quá hạn, lãi chậm trả trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 100
Luật Các Tổ chức Tín dụng. Vì vậy, ông Q và bà H phải có trách nhiệm trả các
khoản tiền lãi theo cam kết tại Hợp đồng tín dụng.
Hội đồng xét xử thấy rằng, yêu cầu của Ngân hàng TMCP B là có căn cứ,
phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận, buộc ông Cái Văn Q
và bà Nguyễn Thị H phải trả cho ngân hàng TMCP B tổng số tiền vay còn nợ tính
đến ngày 31/7/2024 là: 26.514.074 đồng, trong đó nợ gốc là 19.380.000 đồng, nợ
lãi quá hạn là 7.134.074 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210146
ký ngày 10/3/2021. Ông Q, bà H còn phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán
xong khoản vay.
[3] Về án phí: Bị đơn ông Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm là 5% trên tổng số nợ phải trả, cụ thể: 26.514.074 đồng x 5% =
1.326.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147; Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 117, Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 100,
Điều 103 Luật Các Tổ chức Tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
Buộc ông Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP
B tổng số tiền là 26.514.074 đồng, trong đó nợ gốc là 19.380.000 đồng, nợ lãi quá
hạn là 7.134.074 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210146 ngày
10/3/2021.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Cái Văn Q và bà Nguyễn
Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất
mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số HĐTD56D20210146 ngày
10/3/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

5
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Về án phí: Ông Cái Văn Q và bà Nguyễn Thị H phải chịu 1.326.000 đồng
(Một triệu ba trăm hai mươi sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 622.000
đồng (Sáu trăm hai mươi hai ngàn đồng) theo biên lai số 0000153 ngày 16/4/2024
của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND huyện Hải Lăng;
- THADS huyện Hải Lăng;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Võ Bùi Diệu Lương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 20/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 15/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 28/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm