Bản án số 1195/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1195/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1195/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1195/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số 1195-DSPT- 28-9-2026- Ph- D -Tranh chấp HĐ ủy quyền, HĐCNQSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1195/2026/DS-PT Bản án số 1195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1195/2026/DS-PT Bản án số 1195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1195/2026/DS-PT
Ngày: 28-9-2026
“V/v “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố
hợp đồng uỷ quyền, hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ, hợp đồng
thế chấp QSDĐ vô hiệu và giải
quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
Các Thẩm phán:
1. Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng;
2. Ông Nguyễn Phước Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thanh Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Thuỳ Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 625/2026/TLPT-DS ngày 28
tháng 7 năm 2026, về “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng uỷ quyền, hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ, hợp đồng thế chấp QSDĐ vô hiệu và giải quyết
hậu quả hợp đồng vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 286/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 450/2026/QĐ-PT ngày
18 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Đặng Văn P, sinh năm 1970; CCCD số ************ cấp ngày
28-6-2021. Địa chỉ: Ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
1.2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; CCCD số ************ cấp ngày
28-6-2021. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở
hiện nay: Ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Trí D, sinh năm 1975; CCCD số ************ cấp
ngày 11-8-2021. Địa chỉ: Ấp P, Xã D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V1). Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt)
và Tầng B, Tòa nhà S - A P, Phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – chức vụ: Tổng Giám
đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
+ Ông Khúc Tân N – Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. Địa chỉ liên
hệ: L4-L5 Khu S, Đường C, Khu phố B, phường T, tỉnh Tây Ninh (Giấy ủy
quyền số: 098152.26 ngày 11-02-2026 của Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh
T4; vắng mặt.
+ Bà Kim Cẩm T, CCCD số ************; chức vụ: Cán bộ Ngân hàng
TMCP Q (theo Giấy ủy quyền số: 28665226 ngày 24-9-2026); vắng mặt.
+ Ông Lê Sĩ H, CCCD số ************; chức vụ: Cán bộ Ngân hàng
TMCP Q (theo Giấy ủy quyền số: 28665226 ngày 24-9-2026); có mặt.
+ Ông Nguyễn Minh T1, CCCD số ************; chức vụ: Cán bộ Ngân
hàng TMCP Q (theo Giấy ủy quyền số: 28665226 ngày 24-9-2026); vắng mặt.
+ Ông Dương Đức Đ, CCCD số ************; chức vụ: Cán bộ Ngân
hàng TMCP Q (theo Giấy ủy quyền số: 28665226 ngày 24-9-2026); vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn T2, CCCD số ************; chức vụ: Cán bộ Ngân
hàng TMCP Q (theo Giấy ủy quyền số: 28665226 ngày 24-9-2026); vắng mặt.
+ Ông Trần Quốc T3, CCCD số ************; chức vụ: Cán bộ Ngân
hàng TMCP Q (theo Giấy ủy quyền số: 28665226 ngày 24-9-2026); vắng mặt.
3.2. Chị Võ Thị Hồng C, sinh năm 1996; CCCD số ************ cấp
ngày 28-6-2021. Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người làm chứng: Chị Đặng Thị H1, sinh năm 1991. Nơi đăng ký thường
trú: khu phố T, phường L, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở hiện nay: ấp T, xã C, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02-01-2025, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13-3-
2026 cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên
đơn ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L trình bày:
Vào ngày 06-10-2023, vợ chồng ông bà vay của ông Trần Trí D số tiền
80.000.000 đồng. Ông D yêu cầu ông bà đến Văn phòng C1 làm hợp đồng vay
tiền.
Khi đến Văn phòng Công chứng thì ông D yêu cầu lập hợp đồng uỷ quyền
đối với phần đất diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T,
3
xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh). Giấy chứng
nhận QSDĐ (viết tắt: QSDĐ) số DG527085, số vào sổ cấp GCN: CS07466 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 05-7-2022 cho ông bà đứng tên
để làm tin nhằm đảm bảo cho hợp đồng vay tài sản. Do tin tưởng nên ông bà
đồng ý và ký tên vào hợp đồng uỷ quyền. Ngoài ra, ông D còn viết thêm giấy
tay với tiêu đề “Tờ cam kết” thể hiện nội dung: Ông D có cho ông P mượn số
tiền 80.000.000 đồng với thời hạn 06 tháng và lãi suất 2.400.000 đồng/tháng
(tương ứng 3%/tháng). Ông P uỷ quyền cho ông D giấy chứng nhận QSDĐ số
DG527085 trên do ông P và bà L đứng tên. Khi nào ông P trả đủ tiền hai bên ra
huỷ công chứng. Ông P và ông D ký ghi họ tên vào tờ cam kết. Tại đây ông bà
chỉ nhận 77.800.000 đồng, đã trừ 2.400.000 đồng tiền lãi tháng đầu tiên.
Sau đó vợ chồng ông bà nhờ con gái tên Đặng Thị H1 đóng tiền lãi hàng
tháng cho ông D thông qua hình thức chuyển khoản. Đến hết 06 tháng theo nội
dung của “Tờ cam kết” khi vay tiền thì ông bà yêu cầu ông D huỷ hợp đồng uỷ
quyền, trả giấy chứng nhận QSDĐ cho ông bà, nhưng ông D cứ hứa hẹn mà
không trả.
Ngày 28-10-2024, chị H1 gọi điện thoại hẹn gặp ông D để trả số tiền nợ
gốc 80.000.000 đồng thay vợ chồng ông bà. Khi gặp thì ông D viết giấy tay đã
nhận lại số tiền 80.000.000 đồng và hẹn ngày 15-01-2025 (âm lịch) sẽ trả lại
giấy chứng nhận QSDĐ cho ông bà. Tại thời điểm này để cho chứng cứ được
vững chắc thì chị H1 có quay video ông D đang viết giấy tay, nhưng sau khi viết
giấy xong ông D chưa kịp nhận tiền thì đã bỏ đi. Do muốn ông D hợp tác với
Toà án nên khi khởi kiện ông bà trình bày là ông D đã nhận lại số tiền
80.000.000 đồng từ chị H1, thực tế ông D chưa nhận số tiền trên.
Sự việc ông D sang tên đất cho chị Võ Thị Hồng C thông qua hợp đồng uỷ
quyền về đất giữa ông D với vợ chồng ông bà. Sau đó chị C thế chấp phần đất
của ông bà để vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phầQ (viết tắt: TMCP ) thì ông
bà hoàn toàn không biết, do ông D tự ý sang tên đất cho chị C và chị C cũng
không thông báo cho ông bà biết.
Khi chị C vay tiền tại Ngân hàng TMCP Q và thế chấp đất thì ông bà cũng
không biết Ngân hàng có đến đất để thẩm định hay không. Vì ông bà đi làm từ
sáng đến chiều mới về, nhà đóng cửa thường xuyên, chỉ được nghỉ làm ngày chủ
nhật. Từ khi ông bà vay tiền của ông D chỉ đến ngày 29-12-2024, Ngân hàng
mới đến thông báo là phần đất của ông bà người khác đã đứng tên vay và thế
chấp đất tại Ngân hàng, hiện không trả nợ và yêu cầu ông bà trả lại tiền, nếu
không sẽ phát mãi nhà đất thì mới biết việc ông D đã tự ý chuyển nhượng đất
của ông bà cho chị C.
Vợ chồng ông bà xác định việc lập hợp đồng uỷ quyền ngày 06-10-2023
giữa ông bà với ông Trần Trí D là giả tạo nhằm đảm bảo cho hợp đồng vay số
tiền 80.000.000 đồng. Từ ngày vay đến nay, vợ chồng ông bà vẫn sinh sống trên
đất, không ai tranh chấp.
4
Nay vợ chồng ông bà yêu cầu:
- Hợp đồng uỷ quyền ký ngày 06-10-2023 giữa vợ chồng ông bà với ông
Trần Trí D công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 10039, quyển số
01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu do giả tạo.
- Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 10-10-2023 được ký giữa ông
Trần Trí D và chị Võ Thị Hồng C công chứng tại Văn phòng C3, số công chứng:
006644, quyển số 14/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đối với phần đất diện tích 661,4
m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh là vô hiệu.
- Hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0019684.23.641 ngày 03-11-2023 được ký
giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và chị Võ Thị Hồng C công chứng tại
Văn phòng C4, số công chứng: 7974, quyển số: 11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD
đối với phần đất diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T,
xã C, tỉnh Tây Ninh là vô hiệu.
- Công nhận phần đất diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ
lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông bà. Vợ
chồng ông bà đồng ý trả lại cho ông D số tiền vay gốc còn nợ lại là 80.000.000
đồng cùng tiền lãi với mức 20%/năm, kể từ ngày vay cho đến ngày xét xử sơ
thẩm. Số tiền lãi tháng 11/2023 ông bà trả cho ông D vượt quá quy định thì vợ
chồng ông bà không yêu cầu khấu trừ vào tiền vay gốc. Ông bà yêu cầu được
khấu trừ 06 tháng tiền lãi ông bà đã trả cho ông D với tổng số tiền 7.400.000
đồng vào tiền lãi được tính.
Bị đơn ông Trần Trí D: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp
lệ nhiều lần nhưng ông D không đến, không có lý do và cũng không gửi cho Tòa
án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông P và bà L, nên
không có ý kiến trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Võ Thị Hồng C trình bày:
Vợ chồng chị làm nghề cắt tóc (có chồng tên Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1991,
cùng địa chỉ với chị). Do ông D hay đến tiệm cắt tóc nên vợ chồng chị có quen
biết ông D. Khoảng tháng 9-10/2023, ông D nói với vợ chồng chị là ông bị nợ
xấu ngân hàng không vay được, nên nhờ vợ chồng chị đứng tên giùm giấy
chứng nhận QSDĐ, đồng thời đứng tên vay tiền, thế chấp giấy chứng nhận
QSDĐ đối với thửa đất 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh tại
Ngân hàng TMCP Q giùm. Vợ chồng chị có hỏi ông D là đất này của ai, ông D
khẳng định phần đất này là của ông D mua, không có ai tranh chấp, nên vợ
chồng chị tin tưởng và đồng ý. Ông D nói vợ chồng chị ký vay giùm, còn tiền
trả gốc, lãi tại ngân hàng thì ông D sẽ tự trả. Việc thỏa thuận đứng tên giùm giấy
chứng nhận QSDĐ, vay giùm thì hai bên không làm giấy tờ gì và cũng không có
ai chứng kiến.
Tuy nhiên, khi ông D làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận đối với thửa đất
221 trên cho vợ chồng chị, thì ông D nói tên chồng chị bị vướng nên chỉ để một
mình chị đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ. Chị hoàn toàn không nhìn thấy giấy
5
chứng nhận QSDĐ và hồ sơ đất đai, chị chỉ ký tên vào hồ sơ theo yêu cầu của
ông D. Chị đã được làm thủ tục và đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ số DM
504452, số vào sổ cấp GCN: CN 09216 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất
đai huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20-10-2023. Ngoài ra, ông D còn nhờ chị
đứng tên phần đất thuộc thửa 198, tờ bản đồ 32, tại xã B, huyện D. Giấy chứng
nhận QSDĐ số DM 533687, số vào sổ cấp GCN: CN 14741 do Chi nhánh Văn
phòng Đăng ký đất đai huyện D, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16-10-2023. Hiện tại
Ngân hàng TMCP Q đang khởi kiện về hợp đồng tín dụng đối với chị tại Toà án
nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân khu
vực 11 – Tây Ninh) và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là 02 phần đất chị đứng tên
giùm ông D, trong đó có phần đất thuộc thửa 221 đang tranh chấp trong vụ án
này.
Sau khi chị đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ thuộc thửa đất 221 thì ông D
đứng ra làm hồ sơ vay tại Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T4, toàn bộ hồ sơ
ông D làm, chị chỉ đến ký tên. Khi Ngân hàng giải ngân tiền vay cho chị thì ông
D đi cùng và chị giao tiền lại ngay lúc đó cho ông D 700.000.000 đồng và một
thẻ ngân hàng. Chị đưa tiền và thẻ cho ông D đều không làm giấy tờ do tin
tưởng ông D. Khi đến Ngân hàng nhận tiền thì chồng chị không đi cùng, nhưng
quá trình thỏa thuận đứng tên giùm, vay giùm ông D thì chồng chị đều biết.
Do đứng tên giùm thửa đất 221 nên chị không có đến đất để xem hiện
trạng. Đến khi Ngân hàng đi thẩm định để cho vay thì ông D chở chị đi cùng và
có đại diện Ngân hàng cùng đến đất. Lúc đó, thửa đất số 221, tờ bản đồ 22, tại
xã A (nay là xã C) có nhà trên đất nhưng không có ai ở nhà. Những người ở trên
thửa đất 221 thời điểm đó là ai thì chị không biết. Vì ông D không nói và chị
cũng không hỏi do tin tưởng là nhà của ông D. Nay chị mới biết thửa đất trên là
của vợ chồng ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị Len .
Sau khi vay Ngân hàng thì ông D là người đóng lãi, chị không đóng khoản
nào. Trước tết âm lịch 2025, ông D ngưng đóng tiền lãi cho Ngân hàng, vì vậy
bên Ngân hàng yêu cầu chị cùng Ngân hàng đến thửa đất 198, 221 với mục đích
là thẩm định lại giá đất để phát mãi tài sản thế chấp. Tuy nhiên đến thửa đất 198,
221 thì trên hai thửa đất này đều có nhà và có người sinh sống. Những người
trên đất không đồng ý Ngân hàng phát mãi nên không thực hiện phát mãi tài sản
được.
Chị xác định chỉ đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ, thế chấp đất và vay tiền
giùm ông D nên nhà đất thuộc thửa 221, tờ bản đồ 21, diện tích 661,4 m
2
, toạ lạc
ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của chị. Hiện tại
ông D đã bỏ địa phương đi, chị điều kiện khó khăn nên không có khả năng trả
tiền vay cho Ngân hàng. Nên nay ông D và bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp
đồng uỷ quyền giữa vợ chồng ông P, bà L với ông D; hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ giữa ông D với chị và hợp đồng thế chấp tài sản giữa chị với Ngân hàng
TMCP Q là vô hiệu. Công nhận QSDĐ thuộc thửa 221 là của vợ chồng ông P và
bà L thì chị đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
6
Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng TMCP Q – ông Khúc Tân
N trình bày:
Ngày 03-11-2023, chị Võ Thị Hồng C và Ngân hàng TMCP Q (V1) có ký
hợp đồng tín dụng số 103531019.23 với nội dung: V1 cho chị C vay số tiền
700.000.000 đồng. Mục đích vay vốn: kinh doanh mua bán nước ngọt. Thời hạn
vay: 11 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 06-10-2024. Lãi suất
vay: tại thời điểm giải ngân: 8,50%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với
lãi suất thông thường là 12,00%/năm) và chỉ được áp dụng trong 06 tháng đầu
tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ
được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng
biên độ 3,20%/năm. Thông tin về lãi suất cơ sở theo sản phẩm tại từng thời kỳ
được thông báo công khai trên website của V1 và/hoặc theo hình thức thông báo
khác do V1 quyết định trong từng thời kỳ. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: Cuối
kỳ. Ngày trả lãi: hàng tháng, vào ngày 06, kỳ trả lãi đầu tiên ngày 06-12-2023.
Ngày trả phí: Theo quy định của V1 từng thời kỳ.
Ngày 06-11-2023, Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh T4 đã giải ngân cho
chị C theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 103606892.23 với số
tiền 700.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp
đồng tín dụng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, chị C đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại
Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán
kể từ ngày 07-10-2024 và đang xếp loại nợ nhóm 2 là nợ xấu theo quy định tại
Điều 10 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của Ngân hàng N1. Hiện nay chị C
đang xếp loại nợ nhóm 5.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất 221, tờ bản đồ 22, địa chỉ: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T,
xã C, tỉnh Tây Ninh), theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số DM 504452, số vào sổ cấp GCN: CN09216 do Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20-10-2023,
đứng tên chị Võ Thị Hồng C. Tài sản này được thế chấp tại V1 theo Hợp đồng
thế chấp QSDĐ số công chứng: 7974, quyển số: 11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD
do Văn phòng C4, tỉnh Tây Ninh công chứng ngày 03-11-2023. Việc thế chấp
và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, chị C còn thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất
198, tờ bản đồ 32, địa chỉ: xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh, theo giấy chứng nhận
QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 533687, số
vào sổ cấp GCN: CN14741 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D,
tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16-10-2023, đứng tên chị Võ Thị Hồng C. Tài sản
này được thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ số công chứng: 7973,
quyển số: 11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C4, tỉnh Tây Ninh công
chứng ngày 03-11-2023. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng
quy định của pháp luật.
7
Tạm tính đến ngày 09-12-2024, chị Võ Thị Hồng Cg Cẩm đã thanh toán
cho V1 số tiền là 57.332.976 đồng (trong đó: 0 đồng tiền gốc và tiền lãi
là 57.332.976 đồng) và còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền là 749.814.140 đồng.
Ngân hàng đã khởi kiện chị C tại Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu,
tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh) và Toà án đã thụ
lý tại Hồ sơ dân sự sơ thẩm số 181/2025/TLST-DS ngày 02-4-2025.
Nay ông D và bà L khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng thế chấp QSDĐ số
0019684.23.641 ngày 03-11-2023 được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Q và chị Võ Thị Hồng C công chứng tại Văn phòng C4, số công chứng:
7974, quyển số: 11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD đối với phần đất diện tích 661,4
m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh là vô hiệu thì
Ngân hàng không đồng ý. Vì việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đối
với thửa đất 221, tờ bản đồ 22, toạ lấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, theo
giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
DM 504452, số vào sổ cấp GCN: CN09216 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20-10-2023, đứng tên chị Võ Thị Hồng
C theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 286/2026/DS-ST ngày 04-6-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 10, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ Điều 122, 124, 131, 317, 407, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 106,
195 Luật Đất đai; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị
Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn P và bà
Nguyễn Thị L đối với bị đơn ông Trần Trí D.
- Tuyên bố Hợp đồng uỷ quyền ký ngày 06-10-2023 giữa vợ chồng ông
Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L với ông Trần Trí D công chứng tại Văn phòng
C2, số công chứng 10039, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu do
giả tạo.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 10-10-2023 được ký
giữa ông Trần Trí D và chị Võ Thị Hồng C công chứng tại Văn phòng C3, số
công chứng: 006644, quyển số 14/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đối với phần đất
diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây
Ninh là vô hiệu.
- Tuyên bố Hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0019684.23.641 ngày 03-11-2023
được ký giữa Ngân hàng TMCP Q và chị Võ Thị Hồng C công chứng tại Văn
phòng C4, số công chứng: 7974, quyển số: 11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD đối với
phần đất diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh
Tây Ninh là vô hiệu.
8
- Ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L được quyền tiếp tục quản lý, sử
dụng thửa đất 221, tờ bản đồ 22, diện tích 661,4 m
2
, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây
Ninh.
- Ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ hoặc điều chỉnh
giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Cơ quan cấp giấy chứng nhận QSDĐ căn cứ vào quyết định của Tòa án
để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ phù hợp với kết
quả giải quyết của Tòa án.
- Ngân hàng TMCP Q có nghĩa vụ nộp bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ
số DM 504452, số vào sổ cấp GCN: CN09216 do Chi nhánh Văn phòng Đăng
ký Đất đai huyện C cấp cho chị Võ Thị Hồng C ngày 20-10-2023 đối với thửa
đất 221, tờ bản đồ 22, diện tích 661,4 m
2
nêu trên để Văn phòng đất đai, cơ quan
Tài nguyên và Môi trường điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận
QSDĐ theo quyết định của bản án. Trường hợp Ngân hàng không giao nộp bản
chính giấy chứng nhận QSDĐ thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ đã
cấp.
- Buộc ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho
ông Trần Trí D số tiền 115.104.000 (một trăm mười lăm triệu một trăm lẻ bốn
nghìn) đồng, bao gồm: 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng tiền vay gốc và
35.104.000 (ba mươi lăm triệu một trăm lẻ bốn nghìn) đồng tiền lãi.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ do
chậm thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 19-6-2026 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V1) có đơn kháng
cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L về yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế
chấp QSDĐ số 0019684.23.641 ngày 03-11-2023 được ký giữa Ngân hàng
TMCP Q và công chứng tại Văn phòng C4, số công chứng: 7974, quyển số:
11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD đối với phần đất diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa
221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP
Q trình bày: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V1) giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật
của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
9
Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Q (V1); giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Q (V1) là còn trong thời hạn, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q
(V1), Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét về hình thức Hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0019684.23.641 ngày 03-
11-2023 được ký giữa Ngân hàng TMCP Q và chị Võ Thị Hồng C công chứng
tại Văn phòng C4, số công chứng: 7974, quyển số: 11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD
đối với phần đất diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T,
xã C, tỉnh Tây Ninh, nhận thấy Hợp đồng thế chấp này đảm bảo điều kiện về
hình thức của hợp đồng, được công chứng hợp pháp.
Xét về nội dung Hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0019684.23.641 ngày 03-
11-2023 giữa Ngân hàng TMCP Q và chị Võ Thị Hồng C, nhận thấy: do Hợp
đồng ủy quyền giữa ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L với ông Trần Trí D và
Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Trần Trí D với chị Võ Thị Hồng C
là giao dịch giả tạo, bị vô hiệu vì các hợp đồng này là giả tạo nhằm che giấu,
đảm bảo cho Hợp đồng vay tài sản giữa ông P, bà L và ông D. Chị C xác nhận
ông D nhờ chị C đứng tên giùm giấy đất này để chị C vay số tiền 700.000.000
đồng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đưa cho ông D; khi cho vay Ngân
hàng VIB thẩm định tài sản thiếu chặt chẽ, vì nhà đất thế chấp này vẫn do ông
P, bà L quản lý sử dụng từ trước đến nay; nên Ngân hàng V1 không được bảo
vệ là người thứ ba ngay tình theo quy định của pháp luật.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11-02-2026 thể hiện tài sản
trên đất gồm 01 căn nhà cấp 4, 01 nhà bếp cùng mái che phía trước, nhà tắm và
nhà vệ sinh bên ngoài cùng xây dựng năm 2014, 01 chuồng gà cùng một số cây
trồng trên đất do ông P, bà L quản lý sử dụng đến nay. Việc chuyển nhượng
QSDĐ giữa ông D và chị C là giả tạo, không thể hiện việc giao nhận nhà đất
trên thực tế; ông P, bà L không biết chị C đứng tên giấy đất này thế chấp vay
tiền tại Ngân hàng V1. Theo biên bản thẩm định tài sản thế chấp, không thể hiện
có mặt ông P, bà L, vì ông bà không biết việc chị C thế chấp đất này vay tiền
Ngân hàng V1 giùm ông D và chị C cũng không quản lý sử dụng đất này. Qua
đó, có căn cứ xác định việc thẩm định tài sản nhận thế chấp của Ngân hàng V1
chưa thực hiện đúng quy định, không kiểm tra hiện trạng nhà đất thực tế hiện tại
ai đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp. Việc thẩm định, kiểm tra tài sản thiếu
tính chặt chẽ, ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của ông P, bà L đang sinh sống
quản lý, sử dụng nhà đất này từ trước đến nay. Do đó, Ngân hàng V1 không
10
được pháp luật bảo vệ là người thứ ba ngay tình theo quy định tại Điều 133 Bộ
luật Dân sự, nên cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp QSDĐ số
0019684.23.641 ngày 03-11-2023 giữa Ngân hàng TMCP Q và chị Võ Thị
Hồng C là có căn cứ.
Do hợp đồng vô hiệu, căn cứ Điều 131 của Bộ luật Dân sự các bên phải
giao trả lại cho nhau những gì đã nhận, nên cấp sơ thẩm buộc Ngân hàng V1
giao nộp lại bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ số DM 504452, số vào sổ cấp
GCN: CN09216 là phù hợp.
[3] Từ những nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng
TMCP Q; chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; giữ nguyên Bản
án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên Ngân hàng
TMCP Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 286/2026/DS-ST ngày 04 tháng 6
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 122, 124, 131, 317, 407, 463, 466 của Bộ luật Dân sự;
Điều 106, Điều 195 Luật Đất đai; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn P và bà
Nguyễn Thị L đối với bị đơn ông Trần Trí D.
1.1. Tuyên bố Hợp đồng uỷ quyền ký ngày 06-10-2023 giữa vợ chồng ông
Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L với ông Trần Trí D công chứng tại Văn phòng
C2, số công chứng 10039, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu do
giả tạo.
1.2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 10-10-2023 được ký
giữa ông Trần Trí D và chị Võ Thị Hồng C công chứng tại Văn phòng C3, số
công chứng: 006644, quyển số 14/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đối với phần đất
diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây
Ninh là vô hiệu.
11
1.3. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0019684.23.641 ngày 03-11-
2023 được ký giữa Ngân hàng TMCP Q và chị Võ Thị Hồng C công chứng tại
Văn phòng C4, số công chứng: 7974, quyển số: 11/2023.TP/CC-SCC/HĐGD
đối với phần đất diện tích 661,4 m
2
thuộc thửa 221, tờ bản đồ 22, toạ lạc ấp T,
xã C, tỉnh Tây Ninh là vô hiệu.
1.4. Ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L được quyền tiếp tục quản lý, sử
dụng thửa đất 221, tờ bản đồ 22, diện tích 661,4 m
2
, toạ lạc ấp T, xã C, tỉnh Tây
Ninh.
1.5. Ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm liên hệ cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ hoặc điều
chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai.
1.6. Cơ quan cấp giấy chứng nhận QSDĐ căn cứ vào quyết định của Tòa án
để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ phù hợp với kết
quả giải quyết của Tòa án.
1.7. Ngân hàng TMCP Q có nghĩa vụ nộp bản chính Giấy chứng nhận
QSDĐ số DM 504452, số vào sổ cấp GCN: CN09216 do Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký Đất đai huyện C cấp cho chị Võ Thị Hồng C ngày 20-10-2023 đối với
thửa đất 221, tờ bản đồ 22, diện tích 661,4 m
2
nêu trên để Văn phòng Đăng ký
đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường điều chỉnh biến động hoặc cấp lại
giấy chứng nhận QSDĐ theo quyết định của bản án. Trường hợp Ngân hàng
không giao nộp bản chính giấy chứng nhận QSDĐ thì bên được thi hành án
được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi giấy
chứng nhận QSDĐ đã cấp.
1.8. Buộc ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho
ông Trần Trí D số tiền 115.104.000 (một trăm mười lăm triệu, một trăm lẻ bốn
nghìn) đồng, bao gồm: 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng tiền vay gốc và
35.104.000 (ba mươi lăm triệu, một trăm lẻ bốn nghìn) đồng tiền lãi.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05-6-2026) cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số
tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền 1.500.000 (một triệu năm
trăm nghìn) đồng. Ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L đã tạm nộp, ông Trần
Trí D có nghĩa vụ trả lại cho ông P và bà L số tiền 1.500.000 (một triệu năm
trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
12
+ Ông Trần Trí D phải chịu 900.000 (chín trăm nghìn) đồng án phí dân sự
sơ thẩm.
+ Ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị L phải chịu 5.755.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000
đồng theo Biên lai thu số 0010322 ngày 07-01-2025 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Châu Thành (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Tây
Ninh) và Biên lai thu số 0004984 ngày 13-3-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Tây Ninh. Ông P và bà L còn phải nộp tiếp 5.155.000 (năm triệu một trăm năm
mươi lăm nghìn) đồng.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP Q phải chịu 300.000;
được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu số 0014484 ngày 24-6-2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy
định tại Ðiều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7 và 36 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Ðiều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 10;
- Phòng THADS Khu vực 10;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quốc Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1195/2026/DS-PT Bản án số 1195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1195/2026/DS-PT Bản án số 1195/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất