Bản án số 282/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 282/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 282/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 282/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 282/2026/DS-PT Bản án số 282/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 282/2026/DS-PT Bản án số 282/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 282/2026/DS-PT
Ngày: 22-9-2026
V/v tranh chấp về chia tài sản chung,
thừa kế tài sản, tranh chấp quyền sử
dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Lâm
Ông Phạm Anh Tuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Quyên, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số dân sự phúc thẩm thụ lý số
188/2026/DS-PT ngày 06 tháng 8 năm 2026 về việc: Tranh chấp về chia tài sản
chung, thừa kế tài sản, tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2026/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 272/2026/QĐ-PT ngày
25 tháng 8 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 386/2026/QĐ-PT ngày 17
tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh ngày 01/01/1960; CCCD số
************; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà G: Ông Đinh Ngọc P và bà
Lưu Thị H – Luật sư Văn phòng Luật sư Tâm Đức P1; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà G: Bà Lưu Thị H – Luật sư Văn phòng
L; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 26/6/1980; CCCD số
************; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T: Ông Nguyễn Quốc
T1, sinh ngày 25/11/1956; CCCD số ************; địa chỉ: Tổ dân phố C,
phường T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H; Trụ sở: 48 T, phường T, thành
phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tuấn N- Chủ tịch
phường. Người được ủy quyền của ông Nguyễn Tuấn N: Bà Phạm Thị T2 -
Chuyên viên VP HĐND&UBND phường T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn T3, sinh ngày 15/3/1986; CCCD số ************; (đã
chết năm 2024).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Văn T3: Bà
Nguyễn Thị G (mẹ đẻ); chị Phạm Thị N1, sinh năm 1987 (vợ); cháu Nguyễn Ngọc
Bảo T4, sinh ngày 04/7/2013 (con); cháu Nguyễn Quang D, sinh ngày 26/12/2016
(con); đều trú tại: Thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng; bà G có mặt; chị N1, cháu
T4, cháu D vắng mặt.
+ Người đại diện hợp pháp của cháu T4, cháu D: Chị Phạm Thị N1, sinh
năm 1987. Địa chỉ: Thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị T5, sinh ngày 25/9/1987; CCCD số ************; địa
chỉ: TDP C, phường T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị T6, sinh năm 1976;
địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn T7, sinh ngày 10/02/1963; CCCD số ************ và
bà Vũ Thị H2, sinh ngày 08/10/1968; CCCD số ************; nơi cư trú: Tổ
dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T,
thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H3: Bà Nguyễn Thị T8, sinh năm
1953; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Cháu Nguyễn Quang S, sinh ngày 23/4/2015;
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Quang S: Bà Nguyễn Thị T,
sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Bà Trần Thị N2, sinh năm 1965; địa chỉ: Khu dân cư M, phường C, thành
phố Hải Phòng; vắng mặt.
3
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T là bị đơn và ông Nguyễn Văn T7 là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Các đương sự trình bày thống nhất nội dung: Mẹ đẻ của ông Nguyễn
Quang T9 là cụ Đào Thị Đ (sinh năm 1928, chết ngày 24/02/2015) và bố đẻ cụ
Nguyễn Quang T10 (sinh năm 1930, chết ngày 21/3/1988). Ngày 14/6/1985 ông
Nguyễn Quang T9 ly hôn với bà Trần Thị M, ông T9 và bà M có 01 con chung là
chị Nguyễn Thị H3. Năm 1985 ông T9 lấy bà Nguyễn Thị G có 2 con là Nguyễn
Văn T3 và Nguyễn Thị T5. Ngày 07/9/2008, ông T9 và bà G ly hôn. Năm 2008
ông T9 kết hôn với bà Trần Thị N2, ông T9 và bà N2 không có con chung. Năm
2014 ông T9 và bà N2 ly hôn. Năm 2015 ông T9 kết hôn với bà Nguyễn Thị T có
01 con là Nguyễn Quang S. Ông T chết ngày 01/01/2022.
- Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, bà Nguyễn Thị G và người đại
diện theo ủy quyền của bà G, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà G
trình bày:
Bà được bố mẹ ông T cho diện tích đất 542m
2
tại thửa đất số 36 tờ bản đồ
số 03 tại tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng. Ngày 24/7/2002, UBND
huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà và ông T. Quá trình
chung sống ông bà xây 01 nhà cấp 4 (có 3 gian), 1 bếp và chuồng lợn và năm
1988 ông, bà xây dựng tường bao xung quanh nhà trên diện tích đất trên. Ngày
07/9/2008, bà và ông T ly hôn nhưng chưa giải quyết về tài sản chung giữa bà và
ông T.
Sau khi ly hôn với bà, ông T kết hôn với bà Trần Thị N2. Năm 2009, ông
T, bà N2 đã phá nhà cũ, bếp, chuồng lợn đi và xây nhà 1 tầng bắn tôn. Còn nợ của
vợ chồng ông H1, bà T6 số tiền 28.258.000 đồng tiền vật liệu xây dựng. Năm
2014, ông T và bà N2 ly hôn.
Ngày 01/01/2022, ông T chết. Trước khi chết, ông T lập di chúc cho bà T
và cháu S được hưởng toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất. Bà cho rằng việc
ông T định đoạt cả phần tài sản của bà cho bà T và cháu S là không đúng.
Bà đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất trên là tài sản chung của bà và
ông T; xác định tài sản riêng của bà là một nửa diện tích đất chung với ông T;
buộc bà T là người đang trực tiếp sử dụng, quản lý đất phải trả một nửa diện tích
đất trên cho bà. Bà đề nghị Tòa án cho bà được sử dụng diện tích đất phần phía
trước nhà chính đồng thời đề nghị Tòa án tuyên di chúc của ông T là không hợp
pháp.
Bà T giao nộp 01 USB có chứa 01 file ghi âm, bà xác định giọng nói trong
file ghi âm là giọng của bà. Tuy nhiên bà không đồng ý với nội dung file ghi âm
cung cấp bởi lý do: Nội dung file ghi âm không rõ ràng, giọng nữ 1 khẳng định
4
chẳng định giá gì, giọng nói nhắc đến 50 triệu đồng nhưng không nói rõ là tiền gì.
Tại thời điểm năm 2008, bà T chưa lấy ông T nên không thể biết được việc ly hôn
của bà và ông T. Khi ông T đi nước ngoài đã phải vay bà T8 55.000.000 đồng và
vợ chồng ông K 50.000.000 đồng. Cho đến khi ông T đi Hàn Quốc về mới trả tiền
cho vợ chồng ông K. Bà đã cung cấp cho Tòa án giấy biên nhận năm 1997 của
ông K và giấy cam kết năm 2008 có chữ ký của ông T. Do đó, số tiền 50.000.000
đồng được nhắc đến trong cuộc ghi âm là số tiền ông T bà G đã trả cho vợ chồng
ông K.
Hiện trạng thửa đất còn lại là 481,7m
2
, bà nhất trí Tòa án giải quyết diện
tích đất tranh chấp là 481,7m
2
và giá trị tài sản mà Hội đồng định giá đã định giá
vào ngày 28/8/2025.
- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn là chị Nguyễn Thị T và người
đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Nguyễn Quốc T1 trình bày:
Trước khi chết, ông T đã lập di chúc ngày 10/7/2017 với nội dung để lại
cho bà và con S được quyền sử dụng, định đoạt toàn bộ nhà và các tài sản trên
thửa đất số 03 tại tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng. Bà và ông T mua
sắm gồm: Bộ bàn ghế phòng khách, kệ ti vi, đồng hồ quả lắc, 01 lục bình gỗ, 1
lục bình bé, tủ lạnh, máy giặt. Của ông T có 01 tủ gỗ 2 buồng, 2 loa, bàn ghế đá.
Ngoài ra, các công trình trên đất, cây cối và 01 xe máy nhãn hiệu Lead Honda
BKS 34B1 601.01 (mất đăng ký xe) là tài sản của ông T và bà N2.
Bà cũng nhất trí với phần trình bày của bà G đối với khoản vay của vợ
chồng ông H1, bà T6; tranh chấp đất ông T7, bà H2 diện tích đất tranh chấp là
481,7m2 và giá trị tài sản mà Hội đồng định giá đã định giá vào ngày 28/8/2025.
Bà giao nộp cho Tòa án 01 USB chứa 01 file ghi âm trong đó đã thể hiện
nội dung khi ông T và bà G ly hôn, ông T đã trả cho bà G 50.000.000 đồng là tiền
tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, toàn bộ nhà đất hiện nay thuộc quyền sử
dụng, sở hữu của ông T. Bà xác định di chúc của ông T là hợp pháp. Trong trường
hợp bà được hưởng một nửa diện tích đất trên thì bà đề nghị được sử dụng diện
tích đất trên có nhà hiện bà đang ở.
Ngày 24/10/2025, bà làm đơn đề nghị Tòa án chia tài sản là nhà đất hiện bà
G đang quản lý, sử dụng tại thửa đất số 177, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: Tổ dân phố
C, phường T, thành phố Hải Phòng. Bà cho rằng tài sản nhà đất này do bà G nhận
chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn V (là anh trai của bà G) trong thời kỳ hôn
nhân với ông T nên đây là tài sản chung của bà G và ông T.
- Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hải Phòng trình bày: Qua kiểm
tra hệ thống lưu trữ chứng thực tại địa phương không có hồ sơ lưu trữ chứng thực
di chúc của ông Nguyễn Quang T9 lập ngày 10/7/2017 tại UBND xã A, thành phố
H, tỉnh Hải Dương (nay là UBND phường T, thành phố H). Nay bà đề nghị Tòa
án xác định bản di chúc do ông Nguyễn Quang T9 lập ngày 10/7/2017 là hợp
5
pháp, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị T5, anh Nguyễn Văn T3 trình bày: Nhất trí với phần trình
bày của bà G.
- Chị Phạm Thị N1 trình bày: Chị là vợ của anh T3, anh chị có 02 con chung
là Nguyễn Ngọc Bảo T4, sinh ngày 04/7/2013 và cháu Nguyễn Quang D, sinh
ngày 26/2/2016. Chị được biết Tòa án đang giải quyết vụ án chia tài sản chung và
chia di sản thừa kế của bố mẹ chồng. Chị mong muốn được giữ nguyên hiện trạng
tài sản của ông T9. Trong trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế, chị xin hưởng
thừa kế bằng hiện vật.
- Chị Nguyễn Thị H3 và người đại diện theo ủy quyền của chị H3 là bà
Nguyễn Thị T8 trình bày: Bà T8 là chị ruột của ông T9. Nhất trí với phần trình
bày của bà G. Đối với bản di chúc ông T9 định đoạt nhà đất cho bà T9 có phần tài
sản của bà G là không đúng. Mặt khác, việc lập di chúc không hợp lệ vì hiện nay
không có sổ chứng thực tại UBND phường T. Quá trình chung sống, vợ chồng
ông T9 thường xuyên mâu thuẫn, đánh cãi chửi nhau nên ông T9 nói với bà T8 là
đã xé tờ di chúc. Tuy nhiên, bà không hiểu vì sao hiện nay bà T9 vẫn còn bản di
chúc gốc để cung cấp cho Tòa. Bà T9 trình bày bà G đã nhận của ông T9
50.000.000 đồng chia tài sản chung là không có căn cứ. Vì giữa bà G và ông T9
đã lập Giấy cam kết việc bà G không nhận tiền để ông T9 có trách nhiệm nuôi hai
con chung và sau này phân chia nhà đất cho con bà G. Bản gốc Giấy cam kết bà
T8 đã nộp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án quyết định bà G được phần diện tích đất
sân và ao, còn 1/2 diện tích đất là di sản còn lại chia cho bà T9, cháu S sử dụng
phần đất có nhà, phần đất còn lại phía sau nhà chia cho chị H3.
- Bà Trần Thị N2 trình bày: Nhất trí với phần trình bày của bà G, bà xác
định khi xây nhà còn nợ vợ chồng ông H1, bà T6 số tiền 28.258.000 đồng. Nay
bà G yêu cầu Tòa án chia tài sản chung, quan điểm của bà tự nguyện không yêu
cầu hưởng phần tài sản của bà và ông T9 cho các hàng thừa kế. Bà đề nghị những
người được phần đất có nhà phải có trách nhiệm thanh toán khoản nợ cho ông H1
và bà T6. Còn đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Lead Honda BKS 34B1 601.01
(mất đăng ký xe) là tài sản của bà và ông T9 hiện nay bà T9 đang quản lý, sử
dụng. Nay bà đề nghị Tòa án giao chiếc xe này cho chị H3 quản lý và sử dụng bà
không yêu cầu hưởng.
- Ông Nguyễn Văn H1 và bà Phạm Thị T6 trình bày: Cuối năm 2011 đầu
năm 2012, vợ chồng ông T9 bà N2 có xây dựng nhà ở và công trình trên đất của
ông T9 tại thôn C, xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là tổ dân phố C,
phường T, thành phố Hải Phòng). Hiện nhà đất này do bà T9 quản lý. Khi xây
dựng nhà, ông T9, bà N2 đã mua vật liệu xây dựng của ông bà với số tiền là
67.158.000 đồng đã trả được 38.900.000 đồng và còn nợ 28.258.000 đồng. Ông
bà đề nghị người được hưởng di sản của ông T9 phải có trách nhiệm trả khoản nợ
6
trên và tự nguyện không tính lãi.
- Ông Nguyễn Văn T7 và bà Vũ Thị H2 trình bày: Ông bà xây dựng nhà
năm 1993. Khi xây nhà, ông bà còn để 1 phần đất lưu không khoảng cách đến nhà
ông T9 là 0,60m. Năm 2012, ông T9 xây nhà, đã xây hết lưu không của ông bà
0,50m, phía tây bắc chiếm 0,50m, phía tây nam chiếm 0,45m. Tổng diện tích lấn
chiếm sang nhà ông bà là 10m
2
. bà T9 đang sử dụng diện tích nhà đất của ông T9.
Ông bà đề nghị bà T9 phải trả 10m2 đất và dỡ các công trình xây dựng trên đất.
- Tài liệu thu thập về nguồn gốc đất tại UBND phường T thể hiện: Về nguồn
gốc thửa đất của ông T7, bà H2 và thửa đất mang tên ông T9, bà G mà hiện nay
bà T9 đang quản lý, sử dụng là do cha ông để lại. Được thể hiện tại sổ mục kê
đăng ký 299, trang 188 thửa 46 tờ bản đồ số 5 diện tích 419m
2
đất thổ cư ghi tên
ông Nguyễn Đình T11 (bố đẻ của ông T9, ông T7), tại trang 189 thửa đất số 49 tờ
bản đồ số 5 diện tích 316m
2
ghi tên ông Nguyễn Đình T12.
Tại sổ mục kê năm 1993 tại trang 188 thửa số 15 tờ bản đồ số 03 diện tích
768m
2
ghi tên Nguyễn Văn T13 +Thuấn, thửa số 36 diện tích 126m
2
đất ao ghi
tên ông Nguyễn Quang T9.
Ngày 24/7/2022, UBND huyện N, tỉnh Hải Dương đã cấp giấy chứng nhận,
vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0481/QSD Đ/587/QĐUB mang
tên ông Nguyễn Văn T7 và bà Vũ Thị H2 được quyền sử dụng 448m
2
đất (trong
đó có 300m2 đất ở, 136m
2
đất trồng cây lâu năm và 12m
2
đất thời hạn sử dụng
đến năm 2043) tại thửa số 15, số tờ bản đồ 03 tổ dân phố C, phường T, thành phố
Hải Phòng và cấp giấy chứng nhận, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 0495/QSD Đ/587/QĐUB mang tên ông Nguyễn Văn T13 và bà Nguyễn
Thị G được quyền sử dụng 542m
2
đất (trong đó có 300m2 đất ở, 134m
2
đất trồng
cây lâu năm và 108m
2
đất thời hạn sử dụng đến năm 2043) tại thửa số 36, số tờ
bản đồ 03 tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng.
Người làm chứng:
Ông Bùi Quang T14 – Nguyên Phó Chủ tịch UBND xã A, thành phố H,
tỉnh Hải Dương trình bày: Sau khi Tòa án cho ông xem văn bản di chúc của ông
T13 có chứng thực của UBND xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương lập ngày
10/7/2017, ông xác định đây là chữ ký của ông và dấu đỏ của UBND xã A. Ngày
10/7/2017, ông T13 lập văn bản di chúc bằng hình thức đánh máy vi tính. Trước
mặt ông và ông Đỗ Văn M1 – là công chức tư pháp của UBND xã A, ông T13 đã
ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ ngón tay phải, ngón tay trái vào văn bản di chúc.
Việc UBND xã A chứng thực văn bản di chúc của ông T13 được ghi trong sổ
chứng thực 88, quyển 01/2017.
Ông Nguyễn Tuấn N3 khai: Năm 2009, ông T13 và bà N2 có thuê ông xây
nhà và công trình trên đất, ông T13 xây sang phần đất nhà ông T7, bà H2 20cm.
Ông Nguyễn Văn K1 khai: Như ông N3 trình bày nhưng phần đất ông T13
7
xây sang phần đất nhà ông T7, bà H2 40cm.
- Kết quả thẩm định tại chỗ:
Hiện trạng thửa đất của ông T7, bà H2 là S1=410.6m
2
Hiện trang thửa đất hiện bà T13 đang quản lý, sử dụng là S2= 481,7m
2
.
- Kết quả định giá tài sản:
+ Tổng tài sản chung của bà G và ông T13 là S2= 481,7m
2
(trong đó
300m2đất ở x 7.000.000 đồng/m
2
= 2.100.000.000 đồng và 181,7m
2
đất trồng cây
lâu năm) x 1.000.000 đồng = 181.700.000 đồng. Tổng trị giá là 2.281.700.000
đồng.
+ Các tài sản trên đất: 01 nhà mái bằng xây năm 2009, có diện tích 93,6m
2
,
có lợp tôn chống nóng bên trên giá 235.400.256 đ; 01 mái tôn cạnh nhà mái bằng
giáp đường ngõ xóm có diện tích 11m2 giá 729.667 đ; 01 nhà bếp sau nhà mái
bằng giáp đường diện tích 12m2 lợp mái Proximang giá 7.027.200 đ; 01 nhà bếp
lợp mái Proximang giáp nhà ông T7 có diện tích 8,3m
2
giá 4.860.480đ; 01 chuồng
gà cạnh nhà bếp lợp mái Proximang có diện tích 12,4m
2
giá 4.982.320đ; 01
chuồng gà giáp nhà ông T7 lợp mái Proximang có diện tích 18,8m
2
giá 7.553.840
đ; 01 kho chứa đồ đổ mái bằng có diện tích 2,8m
2
giá 3.326.400 đ; 01 sân lát gạch
đỏ 30x30 trước nhà mái bằng diện tích 105,9m
2
giá 3.539.241đ; 01 mái tôn cạnh
nhà ông T7 diện tích 27,1m
2
giá 1.797.635đ; 01 ao trước cửa nhà diện tích 94,9m
2
xung quanh xây bờ kè 20 cao 1,3m có chiều dài 37,0m; giữa ao có 1 hòn non bộ
diện tích 7,6m
2
xây năm 2010 giá 3.355.416 đ; đoạn tường giáp nhà Bà H2 có
chiều dài 11m, cao 2,1m giá 3.030.720 đồng; đoạn tường giáp đường xóm có
chiều dài 8m cao 2m xây gạch ba banh, có B40 dài 7m cao 1m giá 2.099.200đ; 01
đoạn tường giáp cổng và xây xung quanh ao dài 25m cao 1,3m giá 4.264.000 đ;
01 đoạn tường giáp nhà ông T7 dưới mái tôn có chiều dài 8,2m cao 2,1m giá
2.259.264 đồng; 01 đoạn tường rào B40 phía sau nhà mái bằng dài 7,5m cao 1,3m
(phía dưới xây tường gạch chỉ 0,4m) giá 1.279.200đ; 02 trụ cổng có kích thước
0,4m x 0,6m cao 2,5m giá 533.250 đồng; 01 cánh cổng làm bằng sắt hộp tuýp sắt
có độ rộng 3,3m cao 1,6m giá 500.000 đồng, 01 hòn non bộ giá 2.000.000 đồng,
tổng 288.538.089 đồng
Cây cối trên đất: 01 cây khế giá 264.000đ; 09 cây cau 240.000đ/cây x 09 =
2.160.000 đ; 1 cây sung = 240.000đ; 01 cây me giá 480.000 đ; 02 cây lộc vừng
156.000đ/cây x 02 = 312.000đ; 01 cây vú sữa trị giá 1.040.000 đ; 01 cây xanh trị
giá 622.000 đồng. Tổng 5.118.000 đồng.
Đồ dùng sinh hoạt: 01 bộ bàn ghế phòng khách giá 3.600.000 đ, kệ ti vi
giá 1.600.000 đ, đồng hồ quả lắc giá 1.000.000 đ, 01 lục bình gỗ và 1 lục bình bé
giá 1.500.000 đ, tủ lạnh (đã hỏng không còn giá trị), máy giặt giá 500.000 đồng;
xe máy nhãn hiệu Lead Honda BKS 34B1 601.01 giá 7.000.000 đ; 01 tủ gỗ 2
buồng giá 1.000.000 đ, 2 loa giá 500.000 đ, bàn ghế đá giá 2.000.000 đ; ti vi
8
panasonic đời cũ màn hình dầy (đã hỏng không có trị giá)
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 34/2026/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T7, bà Vũ Thị H2 về việc
yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải trả lại diện tích 10m2 đất lấn chiếm và dỡ các công
trình trên đất. Xác định ranh giới giữa phần đất của ông T7, bà H2 và phần đất
bà T, bà G được giới hạn bởi các điểm A1,A24, A25,A26,A27,A28,A12.
2. Xác định khối tài sản chung của bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Quang
T9 gồm: Diện tích 481,7m
2
(trong đó 300m
2
đất ở và 181,7m
2
đất trồng cây lâu
năm) tại thửa số 36, tờ bản đồ số 03; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành phố
Hải Phòng trị giá 2.281.700.000 đồng và 50.000.000 đồng bà G đang quản lý.
Tổng 2.331.700.000 đồng.
3. Xác nhận Bản di chúc do ông Nguyễn Quang T9 lập ngày 10/7/2017 có
chứng thực của UBND xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là UBND phường
T, thành phố Hải Phòng) có hiệu lực pháp luật một phần.
4. Về phân chia tài sản theo hiện vật:
4.1. Giao cho bà G quản lý, sử dụng diện tích 209m
2
(trong đó có 120m
2
đất
ở và 89m
2
đất trồng cây lâu năm), tại thửa 36, tờ bản đồ số 03 tại tổ dân phố C,
phường T, thành phố Hải Phòng giá 923.900.000 đồng, được ký hiệu là S5 và các
tài sản trên đất gồm 1 cây xanh; 01 cây vú sữa, 2 trụ cổng, 01 cánh cổng; 02 cây
lộc vừng, 3 cây cau, 01 cây sung, sân lát gạch đỏ; 01 đoạn tường; mái tôn; bờ kè;
01 hòn non bộ; 01 cây vú sữa, 01 đoạn tường và 50.000.000 đồng (bà đang quản
lý). Tổng 994.730.773 đồng.
4.2. Giao cho bà T9, cháu S quản lý, sử dụng diện tích 275,7 m
2
( trong đó
có 180m
2
đất và 95,7m
2
đất trồng cây lâu năm) giá 1.355.700.000 đồng tại thửa
36, tờ bản đồ số 03 tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải Phòng được ký hiệu
là S6 và các tài sản trên đất gồm 01 nhà mái bằng; 01 mái tôn cạnh nhà mái; 01
nhà bếp; 01 nhà bếp lợp mái Proximang giáp nhà ông T7; 02 chuồng gà cạnh
nhà bếp; 01 kho chứa đồ, 01 sân lát gạch đỏ, 6 cây cau, 01 cây me; 01 mái tôn;
01 tủ gỗ 2 buồng; 2 loa, bàn ghế đá, ti vi; 01 bộ bàn ghế phòng, kệ ti vi, đồng hồ
quả lắc, 01 lục bình gỗ và 1 lục bình bé, tủ lạnh, máy giặt. Tổng 1.640.225.316
đồng.
4.3. Đường ranh giới giữa hai phần đất chia cho bà G, bà T9 là đường A,
A25 đường ranh giới vào tài sản bên nào thì bên đó phải dỡ bỏ không được bồi
thường. (có sơ đồ chi tiết kèm theo bản án)
Bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị T có quyền làm thủ tục đăng ký quyền
9
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật.
4.4. Giao cho chị Nguyễn Thị H3 quản lý, sử dụng Xe máy nhãn hiệu Lead
Honda BKS 34B1 601.01.
4.5. Buộc chị Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn H1
và bà Phạm Thị T6 số tiền 28.258.000 đồng; chị Nguyễn Thị H3 số tiền
30.959.809 đồng; chị Phạm Thị N1 số tiền 25.844856 đồng; chị Nguyễn Thị T5
số tiền 34.459.809 đồng, bà Nguyễn Thị G số tiền 42.355.179 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 11/6/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng nhận được đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị T,
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 34/2026/DS-ST bao gồm: công sức đóng
góp của mỗi bên về quyền sử dụng đất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không yêu cầu giải quyết nhưng Tòa án vẫn giải quyết, xác định về tài sản không
đúng dẫn đến chia không đúng đối tượng được hưởng. Ngày 12/6/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn
T7, kháng cáo một phần bán án sơ thẩm số 34/2026/DS-ST phần tranh chấp mốc
giới, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu độc lập
của ông T7, buộc bà T và bà G phải tháo dỡ phần tường gạch đã xây sang đất của
ông T7 để trả lại mốc giới cho ông T7.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện,
nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên các lời trình bày tại Toà án cấp sơ
thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên
Bản án sơ thẩm.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T rút yêu cầu kháng cáo về việc phân chia tài sản
chung, phân chia di sản thừa kế; bà giữ nội dung kháng cáo về việc xem xét lại về
phần án phí, đề nghị Hội đồng xét xử tính lại phần án phí liên quan đến cháu S do
cháu S là trẻ em phải được miễn án phí.
Chị Nguyễn Thị H3 trình bày: Chị giữ nguyên các lời trình bày tại cấp sơ
thẩm, chị không có ý kiến gì, thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị T8.
Bà Nguyễn Thị T8 trình bày: Bà xác định khi bố mẹ bà còn sống đã phân
chia đất cho hai anh em là ông Nguyễn Quang T9 và ông Nguyễn Văn T7, các chị
em còn lại trong gia đình đều thống nhất, không ai có ý kiến gì. Bà xác định khi
ông T9, bà G xây nhà đã xây lấn sang đất nhà ông T7, bà H2.
10
Ông Nguyễn Văn T7 và bà Vũ Thị H2 Trình bày: Ông bà xây nhà năm 1993,
khi xây nhà để một phần đất lưu không khoảng 0,6cm. Năm 2012 khi ông T9 xây
nhà đã xây hết phần diện tích đất này của gia đình bà, anh em xảy ra mâu thuẫn
từ đó đến khi ông T9 mất. Nay ông bà đề nghị bà T9 phải trả lại phần diện tích
đất đã lấn chiếm khoảng 10m
2
.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã tuân theo đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các
quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Về nội dung: Xét việc rút kháng cáo của bà Nguyễn Thị T là tự nguyện, đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với phần kháng cáo liên quan đến việc chia tài sản thừa kế của bị
đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS,
không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông
Nguyễn Văn T7; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T, sửa
Bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại án phí sơ thẩm theo phần bản án sơ thẩm
được sửa theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và sau khi tranh tụng công khai tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu chia
tài sản chung với ông Nguyễn Quang T9 sau khi ly hôn, tài sản do bị đơn là bà
Nguyễn Thị T quản lý; bị đơn bà T yêu cầu tuyên bố bản di chúc do ông T lập
ngày 10/7/2017 là hợp pháp; người có quyền lợi liên quan là chị Nguyễn Thị H3
yêu cầu chia di sản thừa kế của ông T. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông T7, bà H2 yêu cầu người đang quản lý, sử dụng đất của ông T trả lại diện tích
lấn chiếm. Bị đơn bà T có địa chỉ tại tổ dân phố C, phường T, thành phố Hải
Phòng. Quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là chia tài sản chung; chia di
sản thừa kế; tranh chấp quyền sử dụng đất. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 39;
khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo. Xét kháng cáo của bị đơn, người có
11
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là trong thời hạn quy định của pháp luật, nên Tòa
án nhân dân thành phố Hải Phòng xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại
phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét, phiên tòa
được mở lại lần thứ hai; các đương sự đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 296
Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về nội dung:
[3] Xét kháng cáo của bị đơn: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn tự nguyện rút
toàn bộ kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với
quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ Điều 289 Bộ luật
Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo liên quan đến
việc chia tài sản thừa kế của bị đơn.
[4] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T7, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Về nguồn gốc đất: Ông Nguyễn Văn T7 và ông Nguyễn Quang T9 là
anh em ruột. Nguồn gốc diện tích đất của ông T7 và ông T9 là của bố mẹ để lại.
Theo hồ sơ 299, trang 188, thửa 46 tờ bản đồ số 5 diện tích là 419m
2
, đất thổ cư
ghi tên ông Nguyễn Đình T11 (là bố đẻ ông T9 và ông T7). Tại trang 189 thửa 49,
tờ bản đồ số 5, diện tích 316m
2
ghi tên ông Nguyễn Đình T12. Sổ Mục kê năm
1993 tại trang 188 thửa số 15, tờ bản đồ số 03, diện tích 768m
2
ghi tên ông Nguyễn
Văn T13 + Thuấn; thửa 36, diện tích 126m
2
đất ao ghi tên ông Nguyễn Quang T9.
Ngày 24/7/2002, ông T7, bà H2 và ông T9, bà G đều được cấp GCNQSDĐ và sử
dụng ổn định. Trước khi cấp GCNQSDĐ cũng không có ai tranh chấp về việc sử
dụng đất.
[4.2] Tại cấp sơ thẩm, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, thể
hiện: Diện tích đất ông T7, bà H2 có diện tích là 410,6m
2
; diện tích đất bà T9 đang
sử dụng là 481,7m
2
. Cả hai thửa đều thiếu so với GCNQSDĐ. Tòa án cấp sơ thẩm
cũng đã tiến hành lồng ghép GCNQSDĐ, thể hiện: Diện tích đất ông T7, bà H2
bị giảm do dịch chuyển mốc giới về phía Đông và phía Bắc thửa đất; thửa đất của
ông T9 bị giảm do làm đường ngõ xóm.
[4.3] Khi xem xét thẩm định tại chỗ tiến hành đào một đoạn tường phía bên
phần đất của ông T7, bà H2 thể hiện hai móng tách rời, hàng gạch xây phía ông
T7, bà H2 có quay sang bên phần đất của bà T9 đã bị chặt.
[4.4] Từ các phân tích trên, không có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị T đã
lấn chiếm đất của ông Nguyễn Văn T7, bà Nguyễn Thị H4. Toà án cấp sơ thẩm
12
không chấp nhận yêu cầu của ông T7 về việc tháo dỡ tường là có căn cứ. Không
có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T7.
[5] Về án phí đối với phần tài sản được giao cho bà Nguyễn Thị T và cháu
Nguyễn Văn S1: Tòa án cấp sơ thẩm xác định nghĩa vụ án phí của bà Nguyễn Thị
T trên toàn bộ giá trị tài sản được giao là chưa phù hợp. Bởi lẽ, phần tiện tích được
giao cho bà Nguyễn Thị T và cháu Nguyễn Văn S1 cùng quản lý, sử dụng. Do đó,
cần xác định giá trị tài sản thuộc phần của mỗi người là 1/2 trong tổng số tài sản
được phân chia để làm căn cứ tính án phí. Cháu Nguyễn Văn S1 thuộc trường hợp
được miễn án phí, nên chỉ xác định án phí đối với phần giá trị tài sản mà bà
Nguyễn Thị T được hưởng. Bà T và cháu S1 được giao quản lý là 1.640.225.316
đồng, phần giá trị tài sản của bà Nguyễn Thị T là 820.112.658 đồng. Án phí dân
sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần giá trị tài sản này 36.603.380 đồng. Bà T
phải chịu án phí phần trả nợ cho ông H1 bà T6 là 1.412.900 đồng, nên án phí của
bà T là 38.016.280 đồng. Như vậy, cần sửa án phí sơ thẩm đối với bà Nguyễn Thị
T theo hướng chỉ buộc bà T chịu án phí trên phần giá trị tài sản bà được hưởng;
cháu Nguyễn Văn S1 được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
[6] Khi giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm còn một số thiếu sót: Đối với
yêu cầu tuyên bố bản di chúc của ông Nguyễn Quang T9 lập ngày 10/7/2017 tại
UBND xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương là hợp pháp, cần xác định đây là yêu
cầu phản tố của bị đơn. Ông Nguyễn Văn H1, bà Phạm Thị T6 có đơn đề nghị
thanh toán khoản tiền ông T9, bà N2 nợ là 25.844.856 đồng nên cần xác định ông
H1, bà T6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, song Toà
án cấp sơ thẩm không làm thủ tục để ông H1, bà T15 nộp tiền tạm ứng án phí theo
quy định của pháp luật. Việc tính toán giá trị tài sản phân chia chưa chính xác.
Tuy nhiên, do bị đơn đã rút kháng cáo và các thiếu sót trên không làm thay đổi
nội dung giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử chỉ sửa phần án phí, không xem
xét các nội dung khác trong vụ án.
[7] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đình chỉ kháng cáo của
bị đơn là bà Nguyễn Thị T về việc phân chia tài sản chung, chia di sản thừa kế;
chấp nhận phần kháng cáo về án phí dân sự sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T7. Căn cứ khoản
2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số
34/2026/DS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải
Phòng.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án dân sự sơ thẩm bị sửa nên căn cứ
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bà T không
13
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông T7 được miễn án phí dân sự phúc thẩm
do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 289, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án,
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần đối với kháng cáo của bị đơn là bà
Nguyễn Thị Thúy ;
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T về phần án
phí dân sự sơ thẩm; Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T7; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2026/DS-
ST ngày 28 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Cháu Nguyễn Quang S được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị T phải chịu 36.603.380 đồng án phí hưởng di sản và
1.412.900 đồng án phí trả nợ, tổng cộng là 38.016.280 đồng (ba tám triệu không
trăm mười sáu nghìn hai trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm; được trừ
vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T nộp theo biên lai số 0000289 ngày
04/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8, Hải Phòng)
2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T7
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp, theo Biên lai thu tiền số
0007616 ngày 18/6/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Khoản tiền án phí bà Nguyễn Thị T còn phải nộp là 37.416.280 đồng (ba
bẩy triệu bốn trăm mười sáu nghìn hai trăm tám mươi đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về quyền thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
14
người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSNDTP Hải Phòng;
- TAND khu vực 8-Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 8 -Hải
Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thúy Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 282/2026/DS-PT Bản án số 282/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 282/2026/DS-PT Bản án số 282/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất