Bản án số 294/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 294/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 294/2026/DS-PT ngày 28/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 294/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức T - Bùi Đỗ B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 294/2026/DS-PT Bản án số 294/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 294/2026/DS-PT Bản án số 294/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 294/2026/DS- PT
Ngày 28/9/2026
“V/v: Kiện đòi tài sản; chia di sản thừa kế
và yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết
Các Thẩm phán: Bà Đặng Hồ Điệp
Ông Phạm Văn Hợp
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hải Long - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Hải
Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà
Vũ Thị Trang Nhung- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 tháng 9 năm 2026 và ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ
sở Toà án nhân dân TP. Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
lý số 97/2026/TLPT- DS ngày 08/6/2026 về việc kiện đòi tài sản; chia di sản thừa
kế và yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do
bản án Dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS- ST ngày 20/3/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 10 Hải Phòng bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 241/2026/QĐXX- PT ngày 07/8/2026, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Đức T (tên gọi khác Bùi Duy M), sinh ngày
15/11/1980; CCCD số ************; Địa chỉ: Thôn Q, xã L, thành phố Hải
Phòng, có mặt.
- Bị đơn:
1/ Ông Bùi Đỗ B, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn Q, xã L, thành phố Hải
Phòng, có mặt.
2/ Ông Tăng Tự H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Q, xã L, thành phố Hải
Phòng, có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
- Bà Bùi Thị L, sinh ngày 25/7/1982; CCCD số ************, vắng
mặt.
- Bà Tăng Thị H1, sinh năm 1958, vắng mặt.
- Bà Bùi Thị N, sinh năm 1968, vắng mặt.
- Anh Bùi Thế C, sinh năm 1967, có mặt.
- Anh Bùi Thế H2, sinh năm 1975, có mặt.
Đều ở địa chỉ: Thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng.
- Chị Bùi Thị L1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố Hải
Phòng, vắng mặt.
- Chị Bùi Thị M1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn M, xã L, thành phố Hải
Phòng, vắng mặt.
- Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn H, xã L, thành phố Hải
Phòng, vắng mặt.
- Chị Bùi Thị H3, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn H, xã L, thành phố Hải
Phòng, có mặt.
- Ông Bùi Đỗ B1, sinh năm 1944 (Ông B1 chết ngày 17/4/2025):
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông B1:
1/ Bà Bùi Thị L, sinh ngày 01/01/1946; CCCD số: ************. Nơi
cư trú: Thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
2/ Chị Bùi Thị L2, sinh ngày 08/6/1967; CCCD số ************. Nơi
cư trú: Số D đường Q, phường A, quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh, vắng mặt
3/ Anh Bùi Đỗ Đ, sinh ngày 02/7/1975; CCCD số: ************. Nơi cư
trú: Thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng, có mặt.
4/ Chị Bùi Thị N1, sinh ngày 21/7/1973; CCCD số: ************. Nơi
cư trú: Số D đường L, xã T, TP ., vắng mặt.
5/ Anh Bùi Đỗ Đ1, sinh ngày 01/7/1969 (Anh Đ1 chết ngày 01/4/2022).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của anh Đ1:
1/ Chị Bùi Thị H4, sinh ngày 01/01/1971; CCCD số ***********. Nơi
cư trú: Thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng.
2/ Chị Bùi Thị H5, sinh ngày 13/7/1992; CCCD số: ************. Nơi
cư trú: Thôn M, xã H, thành phố Hải Phòng.
3
3/ Chị Bùi Đỗ Đ2, sinh ngày 19/6/1990; CCCD số ************. Nơi cư
trú: Thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng.
4/ Cháu Bùi Thị Mai P, sinh ngày 04/11/2008; Nơi cư trú: Thôn Q, xã L,
thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp của Bùi Thị Mai P: Chị Bùi Thị
H4.
(Đều vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà H1: Ông Chu Thanh N2, sinh
năm 1969; Địa chỉ: Thôn V, xã P, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Tăng Tự H, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà L1: Ông Bùi Thế C, có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, bà M1: Ông Bùi Thế H2, có mặt.
* Người kháng cáo: Anh Bùi Đức T và ông Bùi Đỗ B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
và người đại diện trình bày: Ông T có quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số 220,
diện tích 143m2 và thửa đất số 282d diện tích 141m2 tại thôn Q, xã L, huyện K,
tỉnh Hải Dương (Nay là xã L, thành phố Hải Phòng). Quá trnh sử dụng đất gia
đnh ông B là chủ sử dụng đất liền kề đã có hành vi lấn chiếm đất của gia đnh
ông. Gia đnh ông đã nhiều lần ý kiến với ông B nhưng ông B không hợp tác,
không trả lại diện tích đất trên. Nguồn gốc đất là của bà ngoại ông là cụ Bùi Thị
T2 được quyền sử dụng thửa đất số 282d diện tích 141m2 đã cho UBND xã L
mượn làm sân kho của Hợp tác xã, sau không làm nữa nên đã trả lại cho bà ngoại
ông. Trước năm 1985 m ông là bà Bùi Thị M2 (chết năm 1985) đang ở cùng bà
ngoại (Cụ Thị) được UBND xã L cấp cho thửa 220, diện tích 143m2. Tại tờ bản
đồ số 01 và s mục kê năm 1985 của UBND xã L thể hiện: Thửa đất số 282 diện
tích 141m2 loại đất T55 người sử dụng Bùi Duy M, thửa đất số 220 diện tích
143m2 loại đất T55 người sử dụng Bùi Duy M nhưng đều chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại bản đồ năm 1993 gp 2 thửa trên thành 1 thửa
số 137 diện tích 223m2 loại đất T tên chủ sử dụng Bùi Duy M. Diện tích bản đồ
1985 so với năm 1993 thiếu 61m2. Quá trnh sử dụng đất trên do ông còn nh
chung sống với bà ngoại và m ông, khi bà ngoại và m chết th ông về chung
sống cùng với ông B sau đó đi làm ở các nơi. Năm 2000 ông làm nhà cấp 4 diện
tích khoảng 20m2. Phần đất ở của ông do ông B quản lý, sử dụng trong thời gian
ông còn nh và không có mặt tại địa phương. Năm 2020 khi ông tháo d công
trnh cũ để xây lại nhà mới đã bị UBND xã L không cho xây dựng v thuc đất
4
nông nghiệp. Thời điểm này ông mới biết là đất của ông đã bị ông B và ông H
chiếm giữ. Do vậy ông khởi kiện yêu cầu ông H phải tháo d công trnh nhà cấp
4 đã xây dựng và trả lại ông diện tích đất có chiều rng 4,7m, chiều dài 7,9m, tng
diện tích là 37m2. Buc ông B tháo d công trnh cấp 4 đã xây và trả lại anh T
tng diện tích đất có chiều dài phía bc là 6,75m, chiều dài phía nam giáp đất nhà
ông B là 6,37m, chiều rng phía đông là 1,06m, chiều rng phía tây 3,3m, tng
diện tích là 152m2.
Trường hợp Tòa án xác định không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện
đòi tài sản của nguyên đơn và có căn cứ xác định hai thửa đất 220 và 282d tờ bản
đồ số 01 lập năm 1985 được đo vẽ lại năm 1993 là di sản thừa kế của cụ Bùi Đỗ
P1 và cụ Bùi Thị T2 để lại th yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp
luật.
Ngày 27/02/2024, nguyên đơn ông T b sung yêu cầu khởi kiện đề nghị
Tòa án chia di sản thừa kế mà cụ P1 và cụ T2 để lại là 586m2 đất tại thửa số 283
tờ bản đồ số 01 hiện do ông B đang quản lý sử dụng.
- Bị đơn (ông B) và người đại diện trình bày: Ông B không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của anh T, ông xác định nguồn gốc thửa đất diện tích đất 141m2 và
diện tích đất 143m2 tại thửa đất 220 và thửa 282d tại s mục kê năm 1985 là của
bố m ông là cụ Bùi Đỗ P1 (chết năm 1976) và cụ Bùi Thị T2 (chết năm 1991),
đều địa chỉ: Q, L, K, Hải Dương. Ông chỉ biết là đất của bố m ông ở từ trước tới
nay. Trước khi chết các cụ không để lại di chúc và cũng không tặng cho ai đất
trên. Bố m ông có 4 người con: Gồm ông Bùi Đỗ B, ông Bùi Đỗ B1, bà Bùi Thị
M2, là m đẻ anh M (chết năm 1984), bà Bùi Thị H6 (chết trước cụ P1 và chết
sau cụ T2). Anh Bùi Duy M là con của bà M2. V bà M2 không có chồng nên vn
ở cùng với m ông tại thửa đất diện tích 143m2. Sau khi bà M2 chết th anh T vn
ở cùng với m ông nhưng ông vn là người chăm nom cả m và anh T. Đến năm
1991 sau khi m ông chết th ông đón anh T về ở cùng gia đnh ông tại thửa đất
hiện nay ông đang ở. Anh T ở với gia đnh ông đến khi trưởng thành, năm 2000
th lấy vợ, ông cho anh T ra ở riêng trên phần diện tích đất 143m2. Ngôi nhà của
m ông trước ở là nhà lợp dạ qua thời gian mưa gió đã bị hng. Ông đã sử dụng
toàn b diện tích đất của bố m ông khi m ông chết, riêng phần đất 37m2 ông H
quản lý, sử dụng. Khi anh T ra ở riêng có xây 1 gian nhà nh vào năm 2001, đến
năm 2017-2018 th phá đi và xây công trnh như hiện nay đang ở trên đất. Ông có
bảo anh T cứ ra đó ở còn sau này tính sau. Nhà xây hiện tại là do anh T và vợ là
Bùi Thị L xây dựng. Đến tháng 6/2021 th anh T cho rng diện tích đất 141m2 và
143m2 là của anh T nên anh T khởi kiện. Nay ông xác định 2 thửa đất trên là của
bố m ông nên việc anh T khởi kiện cho rng ông chiếm đất diện tích đất trên là
không đúng. Quanh phần diện tích đất 143m2 có phần đất ao do ông đi rung
5
đất ngoài đồng vào với diện tích 394 m2, hiện chị H3 con gái ông đã xây nhà trọ
trên phần đất này. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, bởi: Tại
thời điểm Tòa án thụ lý b sung yêu cầu khởi kiện về việc chia di sản thừa kế của
ông T đối với hai thửa đất số 220 và 282d tờ bản đồ số 01, thời hiệu khởi kiện về
chia di sản thừa kế đã hết do cụ P1 và cụ T3 đã chết từ năm 1976 và năm 1992.
Ông đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu về chia di sản thừa kế theo luật định và
công nhận quyền sử dụng hợp pháp thửa đất trên đối với ông (B). Trường hợp
Tòa án phân chia di sản của cụ P1, cụ T2 th đề nghị trích trả công sức cho vợ
chồng ông theo quy định.
Đối với yêu cầu khởi kiện b sung của anh T về việc chia di sản thừa kế
đối với diện tích 586m2 đất tại thửa số 283 tờ bản đồ số 01 hiện do vợ chồng ông
(Vợ ông là bà Tăng Thị H1) đang quản lý sử dụng: Ông không chấp nhận yêu cầu
này của anh T v nguồn gốc thửa đất này là của bố m ông cho vợ chồng ông từ
khi ông lấy vợ năm 1976, vợ chồng ông sống n định trên đất từ đó đến nay. Mặt
khác, nếu có căn cứ thửa đất này là của cụ P2, cụ T2 để lại th thời hiệu khởi kiện
đã hết, ông đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu về chia di sản thừa kế theo luật định
và công nhận quyền sử dụng hợp pháp thửa đất trên đối với ông.
- Bị đơn (ông H) trình bày: Năm 1990 ông mua lại của cụ P1 (T) diện tích
37m2 đất (lúc đó cụ T2 còn sống và trực tiếp bán cho ông), ông mua với giá
100.000 đồng, lúc mua có cụ T2 và ông B là con trai cụ có mặt. Ông trả tiền cho
cụ và có ông B biết, hai bên không viết giấy mua bán, ông B cũng đã xác nhận
việc này. Sau khi mua đất xong th ông sử dụng luôn. Năm 1992 ông xây nhà bếp,
năm 1996 ông xây khu vệ sinh, năm 2000 ông xây nhà ở trên đó. Năm 2003 ông
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chỉ đối với phần đất của gia
đnh ông còn phần đất 37m2 chưa được cấp giấy chứng nhận mà chỉ được vẽ trên
bản đồ là của ông. Nay anh T khởi kiện buc ông phải trả lại diện tích đất 37m2
th ông không nhất trí v ông xác định đã mua diện tích đất trên từ năm 1990. Nay
ông đề nghị Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng 37 m2 đất giữa ông và
cụ Bùi Thị T2 là có căn cứ, hợp pháp.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Đỗ B1 trình bày: Ông là
con của cụ P1 và cụ T2. Bố m ông sinh được 4 người con gồm ông, ông B, bà
M2, bà H6. Ông đi miền nam từ năm 1979, khi cụ Thị mất th ông không ở nhà,
đến gần đây th ông mới về quê sinh sống nên ông không biết việc mua bán đất
giữa m ông và ông H. Anh T là con trai của bà M2, anh T ở cùng m ông tại diện
tích đất của anh T đang sinh sống. V ông đi làm xa từ lâu nên ông không biết việc
đất cát giữa anh T và ông B. Ông cũng đã được bố m cho diện tích đất bên cạnh
và đã ở n định từ lâu không có tranh chấp g.
6
Ông B1 chết ngày 17/4/2025. Người kế thừa quyền và lợi ích hợp pháp của
ông B1 gồm bà Bùi Thị L (là vợ), chị Bùi Thị L2, anh Bùi Đỗ Đ, chị Bùi Thị N1,
anh Bùi Đỗ Đ1 (anh Đ1 chết ngày 01/4/2022, anh Đ1 có vợ là chị Bùi Thị H4 và
có 3 người con là Bùi Thị H5, Bùi Đỗ Đ2 và Bùi Thị Mai P. Bà L cùng anh Bùi
Đỗ Đ và chị Bùi Thị H4 đều xác định bà đã nhận được Thông báo b sung người
kế thừa quyền, nghĩa vụ của đương sự, Thông báo kết quả phiên họp tiếp cận, giao
np, công khai chứng cứ. Bà xác định đã giao và thông báo cho các con, cháu các
văn bản tố tụng của Tòa án, bà và các con cháu của bà đều đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định của Pháp luật, bà nhận thay các con cháu các văn bản của
Tòa án và nếu ông B1 được hưởng thừa kế từ di sản các cụ để lại, bà là người
nhận thay các con, cháu của bà và có trách nhiệm xử lý đối với tài sản được hưởng
cho các con, cháu.
- Người đại diện theo u quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
bà Tăng Thị H1, bà Bùi Thị L, bà Bùi Thị N: Lời khai của bà H1 cùng quan điểm
thống nhất như ông B, lời khai của bà L cùng quan điểm thống nhất như anh T,
lời khai của bà N cùng thống nhất quan điểm như ông H.
- Tại đơn đề nghị người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông C, ông H2, bà
T1, bà L1, bà M1, đều trình bày: Các ông bà nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn anh T, buc ông Tăng Tự H tháo d công trnh nhà cấp 4 và trả lại anh T 37
m2 đất đã lấn chiếm tại thửa số 282d tờ bản đồ số 01; buc ông Bùi Đỗ B tháo d
công trnh nhà cấp 4 và trả lại anh T 152 m2 đất tại thửa số 220 và thửa số 282d
tờ bản đồ số 01 tại thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Trường hợp không có
căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi tài sản của nguyên đơn và có căn cứ xác
định hai thửa đất 220 và 282d tờ bản đồ số 01 lập năm 1985 được đo vẽ lại năm
1993 là di sản thừa kế của cụ Bùi Đỗ P1 và cụ Bùi Thị T2 để lại th yêu cầu Tòa
án chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Các ông bà đều đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh T về việc yêu cầu chia di
sản thừa kế cụ P1 và cụ T2 để lại là 586 m2 đất tại thửa số 283 tờ bản đồ số 01 tại
thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương, thửa đất hiện do ông Bùi Đỗ B đang quản
lý sử dụng, các ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị L xác định có công
sức trong quá trnh quản lý, duy tr khối di sản. Trường hợp Tòa án chia di sản
thừa kế của cụ P1, cụ T2 th phải trích trả công sức cho chị.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị H3) trình bày: Trên phần đất
03 chị làm nhà trọ, chị xác định phía Tây- Bc của thửa đất, phần nhà trọ chị có
xây chồng lấn lên phần đất các cụ để lại, phần đất đó hiện do anh T đang quản lý.
Chị xác định nếu phải tháo d phần công trnh nhà trọ đã xây lấn hoặc phải đền
7
bù chênh lệch cho các đương sự chị cũng nhất trí, trường hợp gia định không tha
thuận được, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Pháp luật.
- Quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện của đương sự, Tòa án đã tiến hành
xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ:
* Xác minh về nguồn gốc đất, tranh chấp đất tại UBND xã L (Nay là xã L)
thể hiện: Nguồn gốc thửa đất số 282d và thửa 220 tại tờ bản đồ số 01 theo bản đồ
đo đạc năm 1985 tại thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương có nguồn gốc là đất
ông cha để lại. Việc ông B khai thửa đất số 282d diện tích 141m2 trước đây khi
bố m ông còn sống có cho hợp tác xã mượn phần diện tích đất làm sân. Sau khi
hợp tác xã không sử dụng nữa th ông B là người làm đơn đề nghị trả lại cho gia
đnh ông và ông quản lý, sử dụng diện tích đất này từ đó cho đến nay, ni dung
này địa phương không nm được, không có tài liệu thể hiện. Thời điểm thu thuế
đất phi nông nghiệp năm 2020 – 2022 ông T đóng thuế 143m2 đất ở, ông B đóng
thuế 1093m2 đất ở. Khi ông T và ông B xây dựng công trnh trên đất th không
có tranh chấp g. Tại hồ sơ k thuật thửa đất năm 2009 thể hiện thửa đất số 53 tờ
bản đồ số 02 diện tích 201m2 tên chủ sử dụng đất Bùi Đức T, sở dĩ số liệu đo đạc
như trên là do đo hiện trạng sử dụng thực tế của ông T. Đến năm 2020 xảy ra tranh
chấp khi ông T phá nhà ra xây dựng, ông B không cho xây chặn mé trước nên
giữa ông T và ông B xảy ra mâu thun. Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 01 đo năm
2009 gồm 01 phần đất của thửa 282d và 1 phần thửa 220 (bản đồ đo đạc năm
1985) không liên quan đến thửa số 282. Thửa đất số 282d theo bản đồ đo đạc năm
1985 là 1 phần thửa 137 bản đồ đo đạc năm 1993 đứng tên ông Bùi Duy M, theo
bản đồ đo đạc năm 2009 mt phần diện tích nm trong thửa 52 của ông B, 1 phần
nm trong thửa 53 ông T sử dụng 1 phần trong thửa 52 ông B sử dụng. Bản đồ đo
đạc năm 1993, các h xác nhận mốc giới đo đạc, ký vào s đo đạc. Do đó khi cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lấy số liệu đo đạc theo bản đồ năm 1993. Diện
tích đất ông Tăng T4 Hưởng mua lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Việc anh T đứng tên trên bản đồ năm 1985 khi đó anh T mới 5 tui là
do tại thời điểm đo đạc năm 1993 các bên tự đăng ký với đơn vị đo đạc, với chính
quyền địa phương, thời điểm đó cụ T2 (P) và các thành viên trong gia đnh cho
anh T đứng tên trên thửa đất nên mới có tên anh T trên bản đồ. Tại các kết luận
của biên bản về việc xác minh nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của ông T
ngày 24/4/2020 của UBND xã L thể hiện đất là của anh T, lý do có ni dung kết
luận v ngày 20/4/2020 ông T có gửi UBND xã 01 đơn đề nghị, lý do có kết luận
trong biên bản là căn cứ vào ý kiến của các h trong biên bản. Ngoài căn cứ trên
không căn cứ nào khác và không có tài liệu nào chứng minh căn cứ trong kết luận
và ni dung trong kết luận ghi: UBND xã cho thêm 143m2 tại thửa đất 220 cho
cô M2 là m anh M về ni dung này cũng không có tài liệu nào thể hiện và tài liệu
8
lưu trữ tại UBND xã cũng không có. Tại báo cáo về việc đo đạc kiểm tra hiện
trạng sử dụng đất th cư theo đơn đề nghị đề ngày 22/4/2020 của UBND xã L có
chữ ký của cán b địa chính xã ông Nguyễn Văn T5. Ông Nguyễn Văn T5 xác
định sau khi đo xong có vẽ sơ đồ đo vẽ và đã làm bản báo cáo. Lý do ông xác định
thửa đất trên là của anh T là căn cứ vào hồ sơ địa chính năm 1985 và năm 1993
đều đứng tên anh Bùi Đức T. Ngoài căn cứ trên không có căn cứ nào khác để xác
định nguồn gốc đất của anh T. Lý do xác định ông B và ông H xây chiếm đất của
anh T là căn cứ vào sơ đồ đo hiện trạng năm 2009 so với bản đồ năm 1985 và
1993. Hiện tại s sách lưu trữ về đất tại xã chỉ còn hồ sơ địa chính gồm s mục kê
và bản đồ địa chính năm 1985, 1993, ngoài ra không còn tài liệu nào khác về thửa
đất. Việc xác định nguồn gốc thửa đất trên của ông cha để lại cho cụ P1 và cụ T2
căn cứ vào thực tế trước đó là bố m ông B là cụ P1 và cụ T2 sinh sống trên thửa
đất này, chứ không có tài liệu chứng minh trước thời điểm năm 1980 ai đứng tên
thửa đất trên. Anh T đứng tên khi mới 05 tui ai là người kê khai th xã không
nm được không có tài liệu nào thể hiện, không có tài liệu nào thể hiện việc chuyển
nhượng, tặng cho đối với các thửa đất trên.
Đối với thửa số 283 tờ bản đồ số 01 đo năm 1985 dt 568m2 đứng tên ông
Bùi Đỗ B, đến năm 1993 đất thuc thửa số 96 diện tích 597m2 đứng tên ông Bùi
Đỗ B, đến năm 2009 lô đất thuc thửa số 52 tờ bản đồ số 02 đứng tên ông Bùi Đỗ
B có dt 1.034 m2, trong đó gồm có đất trồng cây hng năm ông B chuyển về 394
m2, còn lại là đất ở. Nguồn gốc đất do ông cha để lại.
* Kết quả xem xt thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thể hiện:
Hai thửa đất 282d và 220 có tng diện tích 315,6m2. Có sự chênh lệch giữa
số liệu trong hồ sơ và số liệu đo thực tế 31,6m2, kết quả xác minh thể hiện là do
công tác đo tác qua nhiều thời kỳ. Thửa đất 283 có diện tích 617.4m
2
.
Giá trị đất ở tại khu vực tranh chấp là 6.500.000đồng/01m2, diện tích đất
03 tại khu vực tranh chấp là 80.000đồng/01m2.
Các tài sản trên đất:
+ Tài sản nhà ông H: Nhà 01 tầng có giá 107.622.000 đồng.
+ Tài sản nhà ông B: 01 nhà hiên tây, xây gạch đặc, mái tôn, xây năm 2011,
dt 56,9 m2, giá 130.723.000 đồng; 01 mái tôn lạnh trước cửa 60 m2 = 25.389.000
đồng; 01 sân bê tông trước cửa dt 46,6 m2 = 4.132.000 đồng; rãnh thoát nước
2.084.000 đồng; đường bê tông vào nhà trọ 62 m2 = 5.498.000 đồng; khu nhà trọ
lợp mái tôn lạnh làm năm 2021 dt 82,9 m2 = 272.606.000 đồng; 01 mái tôn lạnh
trước cửa nhà trọ làm năm 2021 dt 33,1 m2 = 14.007.000 đồng; 01 sân trạt bê
tông dưới mái tôn 33,1 m2 = 2.935.000 đồng; 01 đài nước đbê tông năm 2021
9
dt 3,3 m2 = 500.000 đồng; 01 đoạn tường xây ngăn cách giữa sân nhà trọ với vườn
dài 20m, cao 1,1 m = 6.200.000 đồng; 01 nhà bếp lợp ngói năm 2011 dt 6,7 m2 =
5.915.000 đồng; 01 mái Proximang làm năm 2011 dt 2,7 m2 = 90.000 đồng; 01
sân giếng 6,3 m2 cạnh nhà bếp = 398.000 đồng; 01 nhà tm lợp mái Proximang
dt 2 m2 = 1.820.000 đồng; 01 bể nước mưa xây năm 2011, tt 3,9 m3 = 5.252.000
đồng; 01 bể nước mưa tt 0,8 m3 = 538.700 đồng; 01 bể lọc cạnh bể nước mưa =
2.404.000 đồng; 15 cây na = 3.115.000 đồng; (01 đoạn tường giáp nhà anh Đ1,
01 giếng khơi làm năm 1984 và 01 giếng khoan đều đã hết khấu hao); trên phần
đất các cụ để lại do ông B đang quản lý, có 03 cây na = 630.000 đồng.
+ Tài sản nhà anh T: Nhà ở 01 tầng xây năm 2018, dt 27,1 m2 có giá
114.172.000 đồng; mái Proximăng làm năm 2014 có giá 1.554.000 đồng; cát san
lấp phần đất anh T quản lý 161,3 m3 = 33.873.000 đồng.
Tài sản trên đất 03 của ông B (Chị H3 quản lý, sử dụng): 01 dãy nhà trọ dt
142,5m2 = 385.334.000 đồng; 01 mái tôn lạnh trước cửa nhà trọ 42m2 =
18.000.000 đồng; 01 đường bê tông trước cửa nhà trọ = 5.498.000 đồng; 01 nhà
trọ số 2 làm năm 2021 dt 53,5m2 = 144.669.000 đồng; 01 mái tôn lạnh dt 78,6 m2
= 32.502.000 đồng; 01 sân bê tông trước nhà trọ dt 78,6m2 = 4.132.000 đồng; (01
đoạn tường dài 13 m, cao trung bnh 2m, hết khấu hao); phần dt đất 617, 4m2 ông
B sử dụng san lấp cao 0,6 m = 77.792.000 đồng; phần đất dt 116,9m2 ông B sử
dụng san lấp cao 0,6 m = 14.792.000 đồng.
Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS- ST ngày 20/3/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 10 Hải Phòng, đã xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T về việc buc ông H phải
tháo d công trnh nhà cấp 4 đã xây dựng và trả lại anh T diện tích 37m2 tại thửa
đất số 282d, tờ bản đồ số 01 tại xã L, thành phố Hải Phòng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T về việc buc ông B tháo
d công trnh cấp 4 đã xây và trả lại anh T tng diện tích đất 152m2 tại thửa đất
số 220 và 282d tờ bản đồ số 01, tại xã L, thành phố Hải Phòng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T về việc yêu cầu chia di sản
thừa kế là thửa đất số 283 tờ bản đồ số 01 tại thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng.
- Công nhận quyền sử dụng của ông B đối với thửa đất số 283 tờ bản đồ số
01 tại thôn Q, xã L, thành phố Hải Phòng.
- Chấp nhận yêu cầu của ông H về việc yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1990 giữa ông Tăng Tự H với cụ Bùi Thị
T2 đối với phần đất 37m2 thuc thửa đất số 282d tờ bản đồ số 01, lập năm 1985,
đo vẽ lại năm 1993 là có hiệu lực pháp luật.
10
- Chấp nhận yêu cầu của anh T về việc chia di sản thừa kế của cụ P1 và cụ
T2 để lại là thửa đất số 220 và thửa đất số 282d, tờ bản đồ số 01, thôn Q, xã L,
thành phố Hải Phòng (sau khi đã trừ đi 37m2 đất của ông H đã mua của cụ T2).
- Xác định di sản thừa kế của cụ Bùi Đỗ P1 và cụ Bùi Thị T2 để lại là thửa
đất số 220 và thửa đất số 282d, tờ bản đồ số 01, thôn Q, xã L, thành phố Hải
Phòng.
- Tng giá trị tài sản là di sản thừa kế cụ P1 và cụ T2 để lại là 247m2 đất =
1.605.500.000 đồng. Sau khi trích trả công sức cho vợ chồng anh T, chị L và cho
vợ chồng ông B, bà. Chia cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất, mỗi suất
thừa kế được hưởng = 292.500.000 đồng. Ông C, ông H2, bà T1, bà L1, bà M1
được nhận kỉ phần của bà H6, mỗi người được hưởng kỉ phần có giá trị là
58.500.000 đồng. Bà L đại diện nhận kỉ phần của ông B1 giá trị là 292.500.000
đồng.
- Về phân chia di sản bng hiện vật: Giao cho anh T quản lý sử dụng phần
đất diện tích 129.7m2, trị giá 843.050.000 đồng. Buc ông B dành cho anh T phần
đất 03 diện tích 31.2m2 làm lối đi. Anh T có trách nhiệm đền bù giá trị quyền sử
dụng đất cho ông B là 2.000.000 đồng. Anh T có trách nhiệm thanh toán trả cho
bà Bùi Thị L giá trị phần chênh lệch là 160.550.000 đồng. Giao cho ông B quản
lý sử dụng phần đất diện tích 116.9m2, trị giá 759.850.000 đồng. Ông B có trách
nhiệm thanh toán trả cho bà L giá trị phần chênh lệch là 131.950.000 đồng, thanh
toán trả cho ông C, ông H2, bà T1, bà L1, bà M1, mỗi người 58.500.000 đồng.
Ngoài ra còn tuyên về quyền đề nghị thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí dân
sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Sau khi xt xử sơ thẩm: Ngày 02/4/2026, nguyên đơn kháng cáo đề nghị
HĐXX xét xử xem xét lại toàn b bản án xử theo đúng quy định của pháp luật để
bảo đảm quyền lợi ích cho hợp pháp cho nguyên đơn. Ngày 31/3/2026, ông B
kháng cáo đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, v cho rng
Tòa án cấp sơ thẩm có sai sót chưa đối trừ phần đất 37,4 m
2
công nhận quyền sử
dụng đất do ông H nhận chuyển nhượng đất của cụ T2 vào năm 1990 khi xem xét
phân chia di sản của các cụ P1, T2 để lại; xem xét lại về việc trích chia công sức
cho bị đơn là ít hơn so với công sức duy tr quản lý di sản của cụ T2 để lại; đề
nghị xem xét lại thời hiệu chia di sản của các cụ P1, Thị v cho rng đến năm 2024
khi nguyên đơn khởi kiện chia di sản của các cụ P1, T2 để lại th đã hết thời hiệu.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn đưa ra các lý lẽ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu kháng cáo và
trnh bày quan điểm giữ nguyên ni dung kháng cáo.
11
Bị đơn (ông B), người đại diện bị đơn đưa ra các lý lẽ, tài liệu chứng minh cho
yêu cầu kháng cáo và trnh bày quan điểm giữ nguyên ni dung kháng cáo.
Bị đơn (ông H) trnh bày quan điểm nhất trí với bản án sơ thẩm, đề nghị
HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (có mặt tại phiên tòa) nhất trí ni dung
kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định
của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng phát biểu quan điểm: Về
việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Thư
ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của B luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp
hành theo giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa của nguyên đơn, bị đơn và người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Về đường lối giải quyết vụ án: Đối với ni dung
kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn (ông B) không có căn cứ chấp nhận, cần giữ
nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm theo quy định; Bị đơn (ông B) được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xt xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa
án cấp sơ thẩm xác định tranh chấp giữa các đương sự về Kiện đòi tài sản; chia di
sản thừa kế và yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa các đương để xem xét giải quyết là có căn cứ, đúng quy định của pháp
luật và đúng thẩm quyền giải quyết vụ án của TAND khu vực 10 Hải Phòng. Do
vụ án có kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn (ông B) nên thuc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn (ông B) được làm trong thời hạn luật
định, anh T đã np tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được xem xét giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Người liên quan không có kháng cáo bản án sơ thẩm vng mặt lần thứ
2, Tòa án đã hoãn phiên tòa nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Xét ni dung kháng cáo Bản án sơ thẩm của nguyên đơn, đề nghị HĐXX
xét xử xem xét lại toàn b bản án xử theo quy định của pháp luật để bảo đảm
quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Bị đơn (ông B) kháng cáo đề nghị HĐXX
cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, vcho rng việc cấp sơ thẩm có sai
sót chưa đối trừ phần đất 37,4 m
2
đã công nhận quyền sử dụng cho ông H do nhận
12
chuyển nhượng đất của cụ T2 vào năm 1990 khi xem xét phân chia di sản của các
cụ P1, T2 để lại; xem xét lại về việc trích chia ông công sức cho bị đơn là ít hơn
so với công sức duy tr quản lý di sản của cụ T2 để lại; đề nghị xem xét lại thời
hiệu chia di sản của các cụ P1, Thị v cho rng đến năm 2024 khi nguyên đơn khởi
kiện chia di sản của các cụ P1, T2 để lại th đã hết thời hiệu. Hi đồng xét xử nhận
thấy:
[4] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh,
thu thập trong hồ sơ vụ án và trnh bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và hi làm rõ tại phiên tòa
th thấy: Theo kết quả xác minh tại địa phương, phòng tài nguyên môi trường
huyện K xác định thửa đất số 220 và 282d thuc tờ bản đồ số 01 tại thôn Q, xã L,
huyện K, tỉnh Hải Dương là thuc quyền sử dụng hợp pháp của cụ P1 và cụ T2.
Nguồn gốc đất là của cha ông cụ P1 để lại. Trước thời điểm năm 1985 các thửa
đất trên không có tài liệu g nhưng xác định cụ P1 và cụ T2 đều ở trên thửa đất
đó. Đến thời điểm năm 1985 tại s mục kê và bản đồ địa chính thể hiện thửa số
282d, tờ bản đồ số 01 đứng tên Bùi Duy M diện tích 141m2, loại đất T55; thửa số
220 tờ bản đồ số 01 đứng tên Bùi Duy M diện tích 143m2, loại đất T55. Tại s
mục kê và bản đồ năm 1993 thể hiện 2 thửa trên thành mt thửa số 137, tờ bản đồ
số 01 diện tích 223m2 đứng tên Măng. Đến năm 2009 theo hồ sơ lưới tọa đ VN
2000 lô đất trên thuc thửa số 53, tờ bản đồ số 02 diện tích 201m2 đứng tên chủ
sử dụng Bùi Đức T. Các thửa đất trên đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Từ trước đến nay các thửa đất trên cũng không có tranh chấp mốc
cõi g với các h giáp ranh và đất của nhà nước. Anh T cho rng anh đã được tặng
cho hai thửa đất trên từ năm 1985 nhưng anh không xuất trnh được bất kỳ tài liệu
g chứng minh cụ T2, cụ P1 đã tặng cho anh thửa đất số 282d và thửa số 220, tờ
bản đồ số 01. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất số 282d và
thửa số 220, tờ bản đồ số 01 tại thôn Q, xã L, huyện K (theo hồ sơ 299) là di sản
thừa kế của cụ T2, cụ P1 để lại là có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn về việc buc ông B trả lại diện tích đất lấn chiếm (diện tích đất tại
thửa đất 282d) là phù hợp với các tài liệu chứng cứ xác định nguồn gốc đất, người
có quyền sử dụng các thửa đất 282d và 220 nêu trên, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
[5] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh,
thu thập trong hồ sơ vụ án và trnh bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan th thấy: Đối với yêu cầu của bị đơn (ông Tăng Tự H) về
việc công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1990 giữa ông
Tăng Tự H với cụ Bùi Thị T2 đối với phần đất 37m2 thuc thửa đất số 282d tờ
bản đồ số 01, lập năm 1985, đo vẽ lại năm 1993 là có hiệu lực pháp luật. HĐXX
13
thấy rng: Năm 1990, cụ T2 còn sống và có quyền sử dụng đối với diện tích đất
nêu trên, ông H đã mua 37m2 đất của cụ T2 và đã làm nhà trên đất từ năm 1990,
ông B xác nhận đúng có việc cụ T2 bán cho ông H 37m2 đất tại thửa 282d, các
đương sự trong vụ án có biết việc ông H xây nhà trên diện tích 37m2 tại thửa đất
số 282d tờ bản đồ số 01 nhưng không có ý kiến phản đối hay tranh chấp. Gia đnh
ông H tiếp tục sử dụng phần đất này n định cho đến nay. Do đó việc Tòa án cấp
sơ thẩm công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1990 giữa
ông H với cụ T2 đối với phần đất 37m2 thuc thửa đất số 282d tờ bản đồ số 01,
lập năm 1985, đo vẽ lại năm 1993, diện tích đo đạc hiện trạng là 37,4m2 là phù
hợp, có căn cứ theo quy định của pháp luật. Việc Tòa án sơ thẩm đã không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buc ông B phải tháo d nhà cấp
4, trả lại anh T diện 37m2 trong thửa đất số 282d tờ bản đồ số 01 tại thôn Q, xã
L, huyện K, tỉnh Hải Dương là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[6] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của
cụ Thị cụ Phễn để lại là 586m2 đất tại thửa số 283 tờ bản đồ số 01 tại thôn Q, xã
L, thành phố Hải Phòng. Hi đồng xét xử thấy căn cứ vào việc cung cấp của chính
quyền địa phương và các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác
định thửa đất này có nguồn gốc cụ T2, cụ P1 để lại và do ông Bùi Đỗ B quản lý
sử dụng từ năm 1976. Ông B lấy vợ (bà Tăng Thị H1) và đã xây dựng nhà cửa,
sinh sống n định trên đất từ năm 1976 đến nay. Cụ P1 chết năm 1976, cụ T2 chết
năm 1992; đến ngày 27/02/2024 nguyên đơn mới có đơn yêu cầu chia di sản thừa
kế đối với thửa đất này th thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định tại Điều 623
B luật Dân sự. Bị đơn ông B đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu về chia di sản
thừa kế, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn anh Bùi Đức
T. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử công nhận quyền sử dụng thửa đất này cho ông B
là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[7] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào thời gian quản lý, sử dụng các thửa
đất số 282d và thửa đất số 220 của ông B và anh T trong thực tế việc anh T là
người được ghi tên trong s địa chính của xã đối với cả 02 thửa đất này từ năm
1985; trong vụ án này ông B được quyền sử dụng toàn b thửa đất số 283, diện
tích 586 m
2
(do đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của các cụ P1, T2
để lại). Do đó, việc cấp sơ thẩm đã trích chia phần công sức duy tr quản lý trong
nom di sản của các cụ P1, T2 để lại là quyền sử dụng các thửa đất 282d và thửa
đất số 220 cho ông B, anh T là đã phù hợp, có căn cứ pháp luật và đảm bảo quyền
lợi cho các đương sự.
[8] Căn cứ vào các lời khai của các đương sự tại cấp phúc thẩm và được
làm rõ tại phiên tòa có căn cứ xác định tại thời điểm mở thừa kế có 01 ngôi nhà
của các cụ P1, Thị tọa lạc trên thửa các thửa đất 282d, thửa 220 và Hi đồng xét
14
xử phúc thẩm tại phiên tòa ngày 26/12/2023 (BL: 470) đã nhận định cần xác định
việc Tòa án cấp sơ thẩm (khi xét xử sơ thẩm vụ án lần thứ nhất) đã không giải
thích cho nguyên đơn về quyền yêu cầu chia di sản thừa kế của các cụ P1, T2 từ
đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là chưa đủ cơ sở, ảnh hưởng đến
thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của các đưng sự; Nguyên đơn khởi kiện vụ
án từ ngày 02/7/2021(BL: 13, 14). Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định toàn
b số di sản thừa kế của các cụ P1, T2 để lại là quyền sử dụng các thửa đất 282d
và thửa 220, còn thời hiệu chia di sản thừa kế là có cơ sở pháp luật. Sau khi trừ đi
phần đất cụ T2 đã bán cho ông H năm 1990 = 37 m
2
, phần diện tích đất còn lại là
di sản của các cụ P1, T2 để lại Tòa án cấp sơ thẩm đã chia di sản của các cụ P1,
T2 cho các hàng thừa kế với kỉ phần di sản mỗi người được hưởng là đã đảm bảo
quyền lợi hưởng di sản cho tất các đương sự trong vụ án, đúng quy định của pháp
luật.
[9] Từ những căn cứ, nhận định nêu trên, HĐXX thấy không có căn cứ
chấp nhận toàn b ni dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn (ông B), cần giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[10] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
[11] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên theo quy
định người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng do ông B là người
cao tui nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hi quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, np, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án, xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn (ông B).
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2026/DS- ST ngày 20/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 Hải Phòng.
3. Về án phí: Anh Bùi Đức T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghn đồng)
án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ số tiền anh T đã np 300.000 đồng theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004184 ngày 13 tháng 4 năm 2026
của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (anh T đã np xong án phí dân sự
phúc thẩm). Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Bùi Đỗ B.
15
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị,
cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hải Phòng;
- TAND khu vực 10 Hải Phòng;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 Hải
Phòng;
- Thi hành án dân sự TP. Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu HS; lưu toà.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Phạm Anh Tuyết
16
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 294/2026/DS-PT Bản án số 294/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 294/2026/DS-PT Bản án số 294/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất