Bản án số 786/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 786/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 786/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 786/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông; buộc ông K, bà G giao trả đất; hủy Giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông Tô Văn T2 để ông được đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo quy định; buộc ông K, bà G hoàn trả 476.000.000 đồng tiền cho thuê đất. Tại phiên hòa giải ngày 25/5/2026 và phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của ông T rút yêu cầu buộc ông K, bà G hoàn trả 476.000.000 đồng tiền thuê đất; giữ nguyên các yêu cầu còn lại và tự nguyện thanh toán cho ông K, bà G số tiền là 462.000.000 đồng công sức đứng tên, quản lý đất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 786/2026/DS-PT Bản án số 786/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 786/2026/DS-PT Bản án số 786/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 786/2026/DS-PT
Ngày: 29 - 9 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Bà Giang Thị Cẩm Thúy
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 539/2026/TLPT-DS ngày 24 tháng 8 năm
2026 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 194/2026/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 710/2026/QĐ-PT ngày
03 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tô T, sinh năm 1968. Hộ chiếu số: P********. Địa chỉ
cư trú: 57 L, G, NSW, 2168, Australia.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn T1, sinh ngày:
16/03/1953; Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 06/11/2022; nơi cấp:
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ cư trú: Chung cư Đ, lô
B, đường L, Phường A, Thành Phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày
14/11/2023) (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Phan Hoàng K, sinh ngày: 25/01/1955.
Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 10/05/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Bà Lê Kim G, sinh ngày: 01/01/1970.
Căn cước công dân số: ************;cấp ngày:10/05/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.
2
Người đại diện hợp pháp của ông K và bà G: Ông Tăng Tấn L, sinh ngày:
05/12/1990; Căn cước công dân số: ************; cấp ngày: 14/05/2023; nơi cấp:
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường
T, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/3/2026) (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Tô Văn T2, sinh năm 1966. Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã C, tỉnh Cà Mau
(vắng mặt).
2. Bà Tô Ê. Địa chỉ: E S, S, CA 92105, USA (vắng mặt).
- Người kháng cáo:
Ông Lê Văn T1 là người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Tô T trình
bày:
Năm 2012, ông nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 300m², thuộc thửa
đất số 12, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau, với giá
5.100.000.000 đồng. Do ông là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, không thể
đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nhờ vợ chồng ông Phan
Hoàng K, bà Lê Kim G đứng tên giùm. Ngày 23/10/2012, ông K, bà G được Ủy
ban nhân dân (UBND) thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy
CNQSDĐ).
Sau đó, ông K và bà G thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền ngân hàng.
Khi phát hiện, ông T nhờ ông Tô Văn T2 vay 2.000.000.000 đồng trả nợ ngân
hàng, giải chấp và giữ Giấy CNQSDĐ. Ông T yêu cầu ông K, bà G thực hiện thủ
tục chuyển quyền sử dụng đất nhưng không được chấp nhận.
Ông T khởi kiện yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp thuộc quyền sử
dụng của ông; buộc ông K, bà G giao trả đất; hủy Giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông
Tô Văn T2 để ông được đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo quy định; buộc ông K,
bà G hoàn trả 476.000.000 đồng tiền cho thuê đất.
Tại phiên hòa giải ngày 25/5/2026 và phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của
ông T rút yêu cầu buộc ông K, bà G hoàn trả 476.000.000 đồng tiền thuê đất; giữ
nguyên các yêu cầu còn lại và tự nguyện thanh toán cho ông K, bà G số tiền là
462.000.000 đồng công sức đứng tên, quản lý đất.
Bị đơn ông Phan Hoàng K, bà Lê Kim G trình bày:
Ông bà là người trực tiếp nhận chuyển nhượng phần đất của ông Trần Hữu
H, bà Trịnh Thị Minh K1 với giá 5.100.000.000 đồng và được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; không có việc nhận chuyển nhượng và đứng tên giùm ông
T. Ông bà vay ông Tô Văn T2 2.000.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng và giao
Giấy CNQSDĐ cho ông T2 giữ làm tin. Ông bà không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông T.
Ông K, bà G có yêu cầu phản tố buộc ông T2 giao trả bản chính Giấy
CNQSDĐ và yêu cầu ông T bồi thường 300.000.000 đồng thiệt hại do không có
3
Giấy CNQSDĐ để tiếp tục cho thuê đất. Quá trình giải quyết lại vụ án, bị đơn rút
các yêu cầu phản tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tô Văn T2 trình bày:
Ông không cho vợ chồng ông K, bà G vay 2.000.000.000 đồng mà theo yêu
cầu của ông T đã vay tiền để trả khoản nợ ngân hàng của ông K, bà G, giải chấp và
nhận Giấy CNQSDĐ. Ông không yêu cầu giải quyết khoản tiền 2.000.000.000
đồng trong vụ án này vì ông và ông T tự tính toán với nhau.
Chị Phan Thúy D, anh Lê Minh T3 trình bày:
Chị D thuê phần đất của bà G từ năm 2015, giá thuê 20.000.000 đồng/tháng.
Trong thời gian thuê, người thuê có đắp nền, cất nhà với chi phí khoảng
120.000.000 đồng. Nếu chủ đất không tiếp tục cho thuê thì người thuê đồng ý tự di
dời công trình, không yêu cầu bồi thường hoặc hỗ trợ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2020/DS-ST ngày 06/11/2020, Tòa án
nhân dân (TAND) tỉnh Cà Mau chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, công nhận
phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông T nhưng không xem xét công
sức của vợ chồng ông K, bà G theo Án lệ số 02/2016/AL.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 65/2023/DS-GĐT ngày 28/12/2023, Hội
đồng Thẩm phán TAND tối cao hủy bản án sơ thẩm và các quyết định đình chỉ xét
xử phúc thẩm, giao hồ sơ cho TAND tỉnh Cà Mau xét xử lại. Quyết định giám đốc
thẩm xác định việc cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng Án lệ số 02/2016/AL để
tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho
người đứng tên hộ là không đúng, không bảo đảm quyền lợi của vợ chồng ông K,
bà G.
Tại kết quả thẩm định giá tháng 3/2026, quyền sử dụng 300m² đất tranh
chấp có giá trị 34.940.400.000 đồng, làm tròn 34.940.000.000 đồng; các đương sự
thống nhất kết quả thẩm định giá.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 194/2026/DS-ST ngày 29/6/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 1 – Cà Mau quyết định (tóm tắt):
Đình chỉ xét xử yêu cầu của ông T về việc buộc ông K, bà G hoàn trả
476.000.000 đồng tiền thuê đất; đình chỉ các yêu cầu phản tố của ông K, bà G;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, công nhận phần đất diện tích 300m² thuộc
quyền sử dụng của ông T; buộc ông K, bà G giao trả đất; Hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DG 617121 cấp cho ông Tô Văn T2 ngày 30/5/2022 để ông
T được đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo quy định; Buộc ông T thanh toán cho
ông K, bà G 14.920.000.000 đồng công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá
trị đất;
Ngoài ra, Bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo.
Ngày 10/7/2026, người đại diện theo ủy quyền của ông T kháng cáo toàn bộ
bản án, nhưng nội dung chủ yếu không đồng ý việc buộc ông T thanh toán cho vợ
chồng ông K, bà G 14.920.000.000 đồng và việc chia đôi chi phí thẩm định giá.
Người kháng cáo cho rằng vợ chồng ông K, bà G không chứng minh được công
4
sức đóng góp làm tăng giá trị đất; cấp sơ thẩm xác định hai bên có công sức ngang
nhau để chia đôi giá trị chênh lệch là không có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày:
Giữ nguyên kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không buộc ông T thanh
toán 14.920.000.000 đồng cho vợ chồng ông K, bà G, buộc ông K và bà G chịu
toàn bộ chi phí thẩm định giá, với lý do: Cấp sơ thẩm chưa xem xét bị đơn không
còn quản lý đất từ năm 2017 đến 2022. Ngày 03/8/2017 bị đơn đã thế chấp quyền
sử dụng đất để vay ngân hàng, sau đó hết hạn vay ngân hàng nên vay của ông Tô
Văn T2 2.000.000.000 đồng để giải chấp ngân hàng. Bị đơn đã giao Giấy
CNQSDĐ cho ông T2. Năm 2023 ông T2 đã được cấp Giấy CNQSDĐ. Nay
nguyên đơn chỉ đồng ý trả công sức gìn giữ, làm tăng giá trị đất cho bị đơn với số
tiền là 426.000.000 đồng. Đối với chi phí định giá, yêu cầu Hội đồng xét xử buộc
bị đơn chịu toàn bộ do bị đơn yêu cầu định giá.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K và bà G trình bày:
Không đồng ý với kháng cáo về công sức đóng góp với số tiền 426.000.000
đồng. Năm 2022 nguyên đơn cho rằng bị đơn chấm dứt sử dụng đất là không đúng.
Bị đơn sử dụng liên tục đến nay, chứng cứ là bị đơn vừa lập hàng rào bằng tôn và
cắm bảng “Cấm đổ rác” tại phần đất tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm số:
194/2026/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà
Mau theo hướng chỉ buộc nguyên đơn trả công sức gìn giữ, bồi đắp với số tiền
426.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Lê Văn T1 là người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh
chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định
và thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
[2] Căn cứ “Giấy tay làm bằng về sau” ngày 03/8/2017 âm lịch giữa ông K
với ông T2; “Giấy xác nhận làm bằng về sau” ngày 26/8/2017 âm lịch giữa bà G
với ông T2; các biên bản ghi lời khai của ông K tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; kết
luận giám định các file ghi âm cùng lời khai của những người có liên quan, có đủ
căn cứ xác định ông T là người bỏ tiền nhận chuyển nhượng phần đất diện tích
300m², thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 14; vợ chồng ông K, bà G chỉ là người
5
thay mặt ông T thực hiện giao dịch và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Phần này của bản án sơ thẩm không có kháng cáo theo hướng phủ nhận
quyền sử dụng đất của ông T và phù hợp với nhận định tại Quyết định giám đốc
thẩm số 65/2023/DS-GĐT ngày 28/12/2023 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
[3] Xét kháng cáo của ông T không đồng ý thanh toán công sức cho vợ
chồng ông K, bà G, thấy rằng:
Tuy ông T là người bỏ tiền nhận chuyển nhượng đất nhưng vợ chồng ông K,
bà G là người trực tiếp thực hiện giao dịch, đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng
và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sau khi nhận chuyển nhượng đã quản lý,
cho thuê đất trong thời gian dài. Do đó, có căn cứ xác định ông K, bà G có công
sức trong việc đứng tên, bảo quản, giữ gìn và quản lý phần đất tranh chấp.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 65/2023/DS-GĐT, Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao đã xác định việc bản án trước không xem xét áp dụng Án
lệ số 02/2016/AL để tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền
sử dụng đất cho vợ chồng ông K, bà G là không đúng và không bảo đảm quyền lợi
của người đứng tên hộ.
Theo Án lệ số 02/2016/AL, trường hợp người thực chất bỏ tiền nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nhờ người khác đứng tên hộ thì phải xem xét công sức
bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất cho người đứng tên; nếu không xác
định được chính xác công sức thì xác định người bỏ tiền và người đứng tên hộ có
công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm.
Trong vụ án này, các bên không cung cấp được chứng cứ xác định chính xác
tỷ lệ công sức của mỗi bên đối với phần giá trị đất tăng thêm. Vì vậy, cấp sơ thẩm
xác định ông T và vợ chồng ông K, bà G có công sức ngang nhau đối với phần giá
trị chênh lệch là phù hợp Án lệ số 02/2016/AL và đúng với định hướng của quyết
định giám đốc thẩm.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn xác định mặc dù Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông Tô Văn T2 ngày 30/5/2022 nhưng
đến nay ông K, bà G vẫn là người trực tiếp quản lý phần đất tranh chấp, cụ thể là
ông K và bà G gần đây thấy có nhiều người vô phần đất để đổ rác nên đã dựng bức
tường bằng tôn và cắm bảng “Cấm đổ rác” (tại phiên tòa, ông T1 xác định khi làm
thủ tục định giá, ông có mặt tại phần đất tranh chấp, lúc đó không có hàng rào hay
tường rào bằng tôn). Đại diện nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng
minh từ ngày 30/5/2022 ông K, bà G đã giao đất và chấm dứt việc quản lý trên
thực tế. Vì vậy, việc thay đổi người đứng tên trên giấy chứng nhận chỉ làm chấm
dứt tư cách đứng tên hộ về mặt pháp lý, không đồng nghĩa công sức quản lý, bảo
quản đất của ông K, bà G chấm dứt từ thời điểm này.
Mặt khác, đại diện nguyên đơn thống nhất giá nhận chuyển nhượng ban đầu
là 5.100.000.000 đồng và giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm định giá là
34.940.000.000 đồng, các đương sự thống nhất kết quả này, không ai có ý kiến gì
về kết quả định giá, không yêu cầu định giá lại; đồng thời, các bên không cung cấp
được chứng cứ xác định chính xác mức độ công sức của mỗi bên.
6
Đại diện nguyên đơn chỉ đồng ý thanh toán cho bị đơn 426.000.000 đồng
công sức nhưng không nêu được căn cứ và phương pháp tính, bị đơn không chấp
nhận nên không có cơ sở ghi nhận.
Việc không xác định được chính xác mức độ công sức của mỗi bên chính là
trường hợp Án lệ số 02/2016/AL xác định phải xem công sức của hai bên ngang
nhau.
[5] Đối với khoản 2.000.000.000 đồng dùng để trả nợ ngân hàng và giải
chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T2 xác định không yêu cầu giải
quyết trong vụ án này vì ông và ông T tự tính toán với nhau.
[6] Đối với tiền cho thuê đất, ông T đã tự nguyện rút yêu cầu buộc ông K, bà
G hoàn trả 476.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử là đúng quyền tự
định đoạt của đương sự. Hơn nữa, Quyết định giám đốc thẩm số 65/2023/DS-GĐT
đã phân biệt lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng đất với công sức bảo quản,
giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất. Vì vậy, việc vợ chồng ông K, bà G đã cho thuê
đất không làm mất quyền được xem xét công sức theo Án lệ số 02/2016/AL.
[7] Người thuê đất khai có đắp nền, cất nhà với chi phí khoảng 120.000.000
đồng nhưng đồng ý tự di dời, không yêu cầu bồi thường hoặc hỗ trợ. Kết quả thẩm
định giá 34.940.000.000 đồng chỉ xác định giá trị quyền sử dụng 300m² đất, không
bao gồm nhà và công trình do người thuê tạo lập. Vì vậy, tài sản của người thuê
không được tính vào phần giá trị chênh lệch phân chia giữa ông T với vợ chồng
ông K, bà G và không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.
[8] Về việc người kháng cáo cho rằng tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn vắng mặt
nhưng bản án vẫn xác định các bên không chứng minh được công sức: Việc đánh
giá công sức được căn cứ vào toàn bộ tài liệu, chứng cứ và lời khai đã được thu
thập hợp pháp trong hồ sơ, không chỉ căn cứ lời trình bày trực tiếp tại phiên tòa.
Việc đương sự vắng mặt hợp lệ không làm mất giá trị của các chứng cứ đã thu
thập. Do đó, lý do kháng cáo này không có căn cứ.
[9] Đối với việc nguyên đơn không đồng ý chia đôi chi phí thẩm định giá:
Kết quả thẩm định giá được sử dụng làm căn cứ giải quyết quyền lợi của các bên
đối với phần đất tranh chấp và xác định giá trị chênh lệch, đại diện nguyên đơn và
bị đơn thống nhất về giá đã định, không có ý kiến gì khác. Cấp sơ thẩm buộc ông T
và vợ chồng ông K, bà G mỗi bên chịu một nửa chi phí thẩm định giá là phù hợp
với kết quả giải quyết vụ án.
[10] Từ những phân tích trên, ông T không cung cấp được chứng cứ mới
làm thay đổi nội dung vụ án; các lý do kháng cáo không có căn cứ chấp nhận. Cấp
sơ thẩm đánh giá chứng cứ, áp dụng Án lệ số 02/2016/AL và xác định phần giá trị
chênh lệch mà vợ chồng ông K, bà G được hưởng là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[11] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm không phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
7
[13] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Tô T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 194/2026/DS-ST ngày 29 tháng 6
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tô T về việc yêu cầu ông
Phan Hoàng K, bà Lê Kim G hoàn trả khoản tiền cho thuê đất bằng 476.000.000
đồng.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Phan Hoàng K, bà Lê Kim G
về việc yêu cầu ông Tô Văn T2 bồi thường khoản tiền thiệt hại do ông T2 giữ
không trả giấy chứng nhận QSDĐ cho ông bà bằng 300.000.000 đồng.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tô T. Công nhận phần đất
có diện tích 300m
2
, thuộc thửa số 12, tờ bản đồ số 14, tọa lạc đường T, phường E
(nay là phường T), tỉnh Cà Mau thuộc quyền sử dụng của ông Tô T. Buộc ông
Phan Hoàng K, bà Lê Kim G có trách nhiệm hoàn trả phần đất này cho ông T.
(Hiện trạng phần đất thể hiện tại bản trích đo hiện trạng ngày 19/6/2019
của Trung tâm K2).
4. Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số DG617121 do Sở Tài Nguyên và Môi
Trường tỉnh C cấp cho ông Tô Văn T2 ngày 30/5/2022 đối với phần đất tại điều 3
nêu trên. Ông T có quyền liên hệ cơ quan quản lý nhà nước về cấp QSDĐ để lập
hồ sơ xin cấp QSDĐ đối với phần đất này theo quy định.
5. Buộc ông Tô T có trách nhiệm hoàn trả cho vợ chồng ông Phan Hoàng K
và bà Lê Kim G khoản tiền công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng
giá trị đất bằng 14.920.000.000 đồng (Mười bốn tỷ chín trăm hai mươi triệu đồng).
6. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định tại chỗ 600.000 đồng và chi phí
giám định giọng nói 4.000.000 đồng, ông T nhận nộp và đã nộp xong.
Chi phí định giá tài sản lần đầu là 18.000.000 đồng, lần sau là 40.500.000
đồng, tổng cộng là 58.500.000 đồng, ông T đã tạm ứng thanh toán xong. Ông T và
ông K, bà G mỗi bên phải chịu một nửa bằng 29.250.000 đồng. Ông K bà G đã
hoàn trả cho ông T 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) tại cơ quan THA, ông
bà phải hoàn trả thêm cho ông T 11.250.000 đồng.
7. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm: Ông Tô T phải nộp án phí có giá ngạch là 128.020.000
đồng (Một trăm hai mươi tám triệu không trăm hai mươi nghìn đồng). Giai đoạn
8
thi hành án ông đã nộp 22.800.000 đồng đối trừ ông phải nộp tiếp 105.220.000
đồng.
Ông K bà G phải chịu án phí dân sự có giá ngạch bằng 122.920.000 đồng
(Một trăm hai mươi hai triệu, chín trăm hai mươi nghìn). Mỗi người phải chịu ½
bằng 61.460.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn). Ông K là
người cao tuổi nên được miễn nộp. Bà G sau khi đối trừ số tiền 63.450.000 đồng
đã nộp trong giai đoạn thi hành án, bà được hoàn lại 1.990.000 đồng (Một triệu
chín trăm chín mươi nghìn đồng).
Các khoản tiền hoàn trả, trường hợp bên có nghĩa vụ thi hành chậm thực
hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho bên được thi hành, thì phải chịu lãi suất theo quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền và thời gian chậm thi
hành cho đến khi thi hành xong.
- Án phí phúc thẩm: Ông Tô T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 20/7/2026 ông
Lê Văn T1 đã nộp thay tạm ứng án phí phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng, theo
biên lai số 0000891, của Thi hành án Dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
9
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Giang Thị Cẩm Thúy Bùi Anh Tuấn
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 786/2026/DS-PT Bản án số 786/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 786/2026/DS-PT Bản án số 786/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất