Bản án số 1141/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1141/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1141/2026/DS-PT ngày 26/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1141/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà L đòi bà Đ bồi thường thiệt hại về tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1141/2026/DS-PT Bản án số 1141/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1141/2026/DS-PT Bản án số 1141/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
——————————
Bản án số: 1141/2026/DS-PT
Ngày: 26 - 8 - 2026
V/v Tranh chấp đòi bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do tài
sản bị xâm phạm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Ông Phạm Lâm Đồng.
- Thư phiên tòa: Trần Thảo Ngân Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: bà Lưu Thị Kim Chúc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/8/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 1412/2026/TLPT-DS
ngày 22/7/2026 về việc:“Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do
tài sản bị xâm phạm”. Do Bản án dân sự thẩm số 387/2026/DS-ST ngày
29/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 Cần Thơ có kháng cáo. Theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1496/2026/QĐ-PT ngày 24/7/2026, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn:Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1956. (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần T.
Người đại diện theo ủy quyền của L (Giấy ủy quyền ngày 17/8/2026):
Bùi Như Ý, sinh năm 1999; địa chỉ: B, khu vực T, phường C, thành phố Cần
Thơ. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1967. (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngọc Q, sinh năm
1981; địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Vào ngày 09/6/2023 bà có
cho Nguyễn Thị Đ thuê thửa đất 930 931 tổng diện tích 25.300m
2
đất ruộng
không cho thuê đất bờ, giá thuê 200.000.000 đồng trong thời hạn 03 năm. Đ
đã giao tiền đủ thuê.
Đến tháng 09/2024 bà phát hiện bà Đ lấy phần đất bkênh xáng cạp 324m
3
(chiều ngang 9 mét dài 36 mét, cao 1 mét ) ông Q chở đi mà không xin ý
kiến của bà.
Nay, bà khởi kiện yêu cầu Đ trả giá trị tài sản là phần đất bị mang đi là
324m
3
x 100.000 đồng/1 m
3
= 32.400.000 đồng. Phần xáng cạp kênh đã thuê
nhân công bồi đắp nhiều năm nên phần bờ chiều cao khoảng 1,5 mét giờ chỉ
còn 0,5 mét.
Ngày 25/12/2025 đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung yêu cầu Đ bồi
thường số tiền 70.000.000 đồng là:
700m
3
x 100.000 đồng/1m
3
= 70.000.000 đồng.
Bị đơn Nguyễn Thị Đ trình bày: Vào năm 2023 thỏa thuận thuê
đất của L hai bên lập văn bản Hợp đồng thuê mướn đất vào ngày
09/6/2023, nội dung thỏa thuận L cho thuê hai thửa đất 930 931 (do
L đứng tên quyền sdụng đất) với diện tích 18 công tầm lớn, gthuê
200.000.000 đồng bà trả tiền đủ. Thời han thuê 03 năm.
Đến năm 2024 chính quyền tiến hành nạo vét kênh Ba Lâm phần đất nạo
vét kênh sẽ được đắp lên phần đất bờ bà thuê củaL, do phần đất cao bà không
chỗ để lúa thu hoạch thời điểm này có nhiều chủ đất lân cận cũng thuê ông Q
sang lắp nên cũng làm theo, đã thuê ông Q lấy đất này để lấp lung ruộng
cũng trong thửa đất 930 và 931 của đất bà L phần dư thì bà cho ông Q 04 chẹt đất
(tương đương 40m
3
khối đất) do L đi nước ngoài nên bà không có báo cho bà
L biết.
Nay, bà đồng ý trả cho bà L tiền 40m
3
là 4.000.000 đồng.
Người quyền nghĩa vụ liên quan ông Ngọc Q trình bày: Vụ
Đông Xuân năm 2024 ông có nhận sang lắp bờ khu vực kênh B do nạo vét kênh
nên các hộ dân canh tác ruộng khu vực này nhu cầu sang lắp, bà Đ cũng bị ảnh
hưởng từ đất nạo vét nên Đ thuê ông san lắp Đ đã cho ông phần đất dư
sau khi ông san lắp phần đất ruộng (sau này ông mới biết bà Đ thuê đất của bà L)
số đất ông lắp lung tương đương 160m
3
, phần đất dư bà Đ cho ông tương đương
40m
3
(4 chẹt). Ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông.
3
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử. Tại bản án số
387/DSST ngày 29/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 Cần Thơ đã tuyên
xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim L.
Buộc Nguyễn Thị Đ phải nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị
Kim L số tiền giá trị đất bờ là 4.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tiền lãi giai đoạn thi hành án, tiền án
phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ tuyên
xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà Bùi Như Ý đại diện ủy quyền cho Nguyễn
Thị Kim L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng buộc bà Nguyễn Thị
Đ bồi thường số tiền 70.000.000 đồng.
Nguyễn Thị Đ trình bày: Phần đất bờ kênh bà thuê ông Q mang vào để
lấp thửa 930thửa 931 của Nguyễn Thị Kim L. m việc này vì nghĩ
bà L sẽ đồng ý và tiếp tục cho bà thuê đất tiếp tục. Do bà L đi nước ngoài nên bà
không xin ý kiến L được. Riêng 04 ghe đất tặng cho ông Q đồng ý bồi
thường cho bà L số tiền này như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết,
thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về nội dung: Phía nguyên đơn khởi kin không chứng minh được Đ
mang đất đi nơi khác chính bà Đ đã mang đất vào đ lp nhng phần đất trũng
trên đất của nguyên đơn. Việc này m tăng giá trị đất của nguyên đơn chứ không
gây thit hi. Bản án sơ thẩm chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca nguyên
đơn có căn cứ. Đề ngh Hi đng xét x phúc thm áp dng Khon 1, Điều 308
B lut T tng Dân s. Gi nguyên bn án dân s sơ thẩm ca Tòa án cấp
thm.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật tđây là vụ kiện:
“Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm hại.”. Vụ
kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ
4
luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết
đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được
xem xét.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Do nguyên đơn cho
bị đơn thuê 02 thửa đất tổng diện tích 25.300m
2
đất ruộng, không cho thuê đất
bờ, giá thuê 200.000.000 đồng trong thời hạn 03 năm. Bị đơn đã giao tiền đủ cho
nguyên đơn. Quá trình thuê đến tháng 09/2024 nguyên đơn phát hiện bị đơn lấy
mất phần đất bờ kênh xáng cạp diện tích là 700m
3
x 100.000 đồng/1m
3
=
70.000.000 đồng vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền
70.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng bị đơn thuê mướn ông Q lấy đất này để lắp vào
phần đất tại hai thửa đất ca nguyên đơn. do chở đất đi nơi khác do phần đất
mé kênh cao bà không có chỗ để lúa thu hoạch thời điểm đó. Vì vậy, bị đơn thuê
ông Q sang lắp để lấp lung ruộng cũng trong thửa đất 930 và 931 phần dư thì
cho ông Q 04 chẹt đất (tương đương 40m
3
đất) do L đi nước ngoài nên
không báo cho L biết. Bị đơn đồng ý trả cho L tiền 40m
3
4.000.000
đồng. Ông Q thừa nhận nhận 04 ghe đất do Đ cho tương đương 40m
3
(4
chẹt). Ông không biết bà L cho bà Đ thuê đất.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét về tài sản: Phần đất này công trình của Nhà nước không phải tài
sản riêng của nguyên đơn. Cụ thể vào năm 2024 chính quyền địa phương tiến
hành nạo vét kênh B hay còn gọi kênh Lung Trâu để lấy đất gia cố đê bao phục
vụ sản xuất. Nguyên đơn cho rằng bị đơn lấy đi 324m
3
sau đó khởi kiện bổ sung
cho rằng 700m
3
nhưng nguyên đơn không chứng cứ chứng minh cụ thể diện
tích đất bị đơn mang đi của nguyên đơn. Phần đất cao do nguyên đơn bồi
đắp thì nguyên đơn cũng không có chứng minh mình tự bỏ tiền ra để tôn lên cao
như lời trình bay của nguyên đơn. Ngược lại, phần đất bị đơn mang đi được đem
vào đất lung trũng của nguyên đơn đlắp những chỗ còn thấp cho ngang bằng
mặt ruộng. vậy, bị đơn không mang đi bán phần đất này bị đơn đem vào
phần đất của nguyên đơn. Do đó, không việc gây thiệt hại tài sản cho nguyên
đơn mà trái lại còn làm tăng giá trị đất cho nguyên đơn.
Xét việc làm của bị đơn thuê người chở đất đến lắp chỗ đất trũng thấp của
nguyên đơn chưa gây thiệt hại ảnh hưởng đến tài sản của nguyên đơn. Vì vậy, bản
án sơ thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.
Đối với yêu cầu của bị đơn: Do bị đơn tặng cho ông Q 04 ghe đất tương
đương khối lượng là 40m
3
bị đơn đồng ý bồi thường cho nguyên đơn là phù hợp.
Vì nếu buộc ông Q trả lại 04 ghe đất trên thì không khả thi nên bị đơn đồng ý trả
giá trị là có căn cứ. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp nên giữ nguyên.
5
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị Kim L: L kháng cáo
nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới nên không chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: 3.000.000 đồng. Mỗi người chịu ½ do L đã chi
xong nên bà Đ có nghĩa vụ trả lại cho bà 1.500.000 đồng.
[5] Về án phí dân ssơ thẩm: Bà L được miễn nộp do là người cao tuổi. Bà
Đ phải chịu 300.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà L được miễn nộp do là người cao tuổi.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là
có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 91, Điều 92,
Khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Điều 584, Điều 585, và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của bà Nguyễn Thị Kim L.
Buộc Nguyễn Thị Đ phải nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị
Kim L số tiền giá trị đất bờ là: 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phi thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Kim L về việc đòi Nguyễn Thị Đ bồi thường số tiền 66.000.000 đồng (Sáu
mươi sáu triệu đồng) trong tổng số tiền 70.000.000 đồng. Giá trị bờ đất theo yêu
cầu khởi kiện bổ sung.
Về chi phí tố tụng: 3.000.000 đồng. Mỗi người chịu 1/2 do L đã chi xong
nên bà Đ có nghĩa vụ trả lại cho bà 1.500.000 đồng.
6
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L được miễn nộp do là người cao tuổi. Bà Đ
phải chịu 300.000 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà L được miễn nộp do là người cao tuổi.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 3 – Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 3 - Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Nguyễn Văn Hải
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1141/2026/DS-PT Bản án số 1141/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1141/2026/DS-PT Bản án số 1141/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất