Bản án số 389/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 389/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 389/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 389/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 389/2026/DS-PT Bản án số 389/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 389/2026/DS-PT Bản án số 389/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Minh Quang;
2. Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Thu ơng - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 157/2026/TLPT-DS ngày 26/5/2026,
về việc: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản vàđắp tổn thất về tinh thân”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 09/2026/DS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số: 346/2026/QĐPT-DS, ngày 17/7/2026 Quyết định hoãn phiên tòa số
385/2026/QĐ-PT ngày 06/8/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đặng Thị H, sinh năm: 1962; địa chỉ: Thôn T, K, tỉnh
Đắk Lắk, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Hoàng Thị H1, sinh năm:
1993; địa chỉ: Số A đường L, phường B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Văn H2, sinh năm: 1968; địa chỉ: Buôn J, K, tỉnh
Đắk Lắk, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị V, sinh năm: 1972;
địa chỉ: Buôn J, xã K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đặng Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên
đơn Đặng Thị H người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày
nội dung như sau:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 389/2026/DS-PT
Ngày: 18 - 8 - 2026
V/v: Yêu cầu bồi thường thiệt hại về
tài sản và bù đắp tổn thất về tinh thần.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (cũ) giải
quyết vụ việc “Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn ông Phạm
Văn H2, Huỳnh Thị V với bị đơn Đặng Thị H, thì ông Phạm Văn H2 đã
hành vi phá hoại, chiếm đoạt tài sản của bà, cụ thể: Từ ngày 21/6/2023 đến
ngày 27/6/2023, ông H2 thuê xe máy múc san lấp mặt bằng, làm hỏng các
công trình trên đất của bà, gồm: Nhà cấp 4 lợp tôn diện tích khoảng 60m², trị g
khoảng 60.000.000 đồng; chuồng heo diện tích khoảng 30m², trị giá 30.000.000
đồng; giếng đào trị giá 10.000.000 đồng; phế liệu sắt, thép, nhôm, nhựa trị giá
khoảng 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, từ tháng 8/2023 đến nay, ông H2 tiếp tục hành vi xâm phạm tài
sản của H2 bằng việc thu gom phế liệu, nhổ rào chặt phá cây trồng. Các tài
sản gồm: Phế liệu sắt, thép, nhôm, nhựa trị giá khoảng 15.000.000 đồng; 12
trứng ngỗng trị giá 6.000.000 đồng; 15 bụi gừng trồng năm 2008 trị giá 7.500.000
đồng; 14 cây sầu riêng trồng năm 2008 trị giá 70.000.000 đồng; 02 cây mít trồng
năm 2008 trị giá 2.000.000 đồng; 01 cây xoan đào trồng năm 2006 bị cưa đổ, bán
gỗ trị giá 3.000.000 đồng; 04 cây Booth trồng năm 2008 trị giá 8.000.000
đồng. Tổng giá trị tài sản của bị ông Phạm Văn H2 phá hoại, chiếm đoạt là
211.500.000 đồng (hai trăm mười một triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngoài thiệt hại về tài sản như trên, thì hành vi của ông H2 đã xâm phạm đến
quyền sở hu tài sản hợp pháp của bà, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống,
tinh thần và sức khỏe của bà. Do đó, bà H2 yêu cầu ông H2 bồi thường tổn thất về
tinh thần tương ứng với 60 tháng lương sở, theo mức 2.340.000 đồng/tháng,
với số tiền 140.400.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu bốn trăm nghìn đồng).
Hiện nay, toàn bộ các i sản nêu trên đều không còn. Khi xảy ra sự việc,
H2 có mời Công an xã đến làm việc nhưng không lập biên bản ghi nhận sự việc và
thiệt hại, nên bà H2 không có tài liệu, chứng cứ để xác định chính xác số lượng tài
sản bị thiệt hại. Tuy nhiên, c tài sản nêu trên tài sản thực tế của đã bị ông
Phạm Văn H2 phá hoại, làm hỏng. Do đó, H2 yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Phạm Văn H2 phải bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền là 211.500.000
đồng (hai trăm mười một triệu năm trăm nghìn đồng); bồi thường thiệt hại về tinh
thần số tiền 140.400.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu bốn trăm nghìn đồng). Bà
H2 xác định, sau khi nộp đơn khởi kiện thì ông H2 vẫn tiếp tục hành vi phá
hoại, gây thiệt hại đối với i sản, nên đnghị Tòa án tiến hành xác minh, làm
rõ.
*/ Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Văn H2 trình
bày có nội dung như sau:
Thửa đất số 932, tờ bản đồ số 66 tại K, tỉnh Đắk Lắk nguồn gốc do bố
mẹ vợ của ông H2 là ông Huỳnh Xuân S và bà Hồ Thị L cho vợ chồng ông H2, bà
V quản , sử dụng từ m 1995 đến nay. Trong quá trình sử dụng thửa đất, năm
2013 bà V thấy hoàn cảnh gia đình của Đặng Thị H khó khăn, nên đã cho bà H
vào nhờ trên một phần đất của gia đình. Gia đình ông H, bà V đã xây dựng một
căn nhà diện tích khoảng 24m², vật liệu xây dựng và tiền công thợ do bà V chi trả,
H là người gọi công thợ xây dựng căn nhà để H đến nhờ. Việc vợ chồng
3
ông H cho nhờ không thỏa thuận chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử
dụng đất.
Trong thời gian sinh sống trên phần đất cho nhờ, H chăn nuôi gia cầm
gây thiệt hại hoa màu của gia đình ông H và các hộ dân xung quanh, dẫn đến phát
sinh mâu thuẫn. Đến năm 2018, gia đình ông H yêu cầu H chuyển đi nơi khác
sinh sống nhưng bà H không thực hiện mà tự ý dựng thêm một căn nhà khung sắt,
thưng tôn, mái tôn, diện ch khoảng 30,6m² trên phần đất của gia đình ông H
trả lại căn nhà cũ cho vợ chồng ông H.
Vào năm 2019, ông H làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk giải quyết nhưng không thành nên ông H đã khởi kiện ra Tòa án. Tại Bản
án số 55/2023/DS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc
(nay Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk) đã xét xử tuyên buộc Đặng
Thị H phải tháo dỡ, di dời căn nhà khung sắt, thưng tôn, mái tôn, nền láng xi
măng để trả lại cho Huỳnh Thị V ông H phần đất diện tích 30,6m² thuộc
thửa đất số 932, tờ bản đồ số 66, tại thôn P, E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Bản án
còn giao 01 cây dừa 01 bụi tre cho V, ông H được quyền quản lý, sử dụng;
đồng thời buộc bà V ông H thanh toán lại giá trị hai tài sản này với số tiền
10.878.200 đồng Tại Bản án phúc thẩm số 82/2024/DS-PT ngày 05/02/2024
của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã giữ nguyên bản án thẩm. Ngày
16/10/2025, Chi cục Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đắk Lắk đã tổ chức cưỡng
chế thi hành án giao trả lại đất cho gia đình ông H. Hiện nay gia đình ông H
đang làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.
Ông H xác định đối với việc H cho rằng ông san lấp mặt bằng làm
hỏng tài sản, cây trồng trên đất của không căn cứ, ông H chỉ thực hiện
việc cải tạo, canh tác trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông
đã được quan nhà nước thẩm quyền xác định. Do đó, toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của Đặng Thị H không căn cứ, không phù hợp với thực tế, nên đề
nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị H.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Huỳnh Thị V trình bày có nội dung như sau: Bà V là vợ của ông Phạm Văn H2, bà
hoàn toàn đồng ý với ý kiến trình bày của ông Phạm Văn H2 đề nghị Tòa án
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị H.
Tại Bn án dân sự thẩm s 09/2026/DS-ST ngày 26/3/2026 của Tán
nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều
271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 584, 585, 589 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Th
H v việc yêu cầu ông Phạm Văn H2 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền
211.500.000 đồng và bồi thường tổn thất về tinh thần số tiền 140.400.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo
cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xthẩm, ngày 03/4/2026, nguyên đơn Đặng Thị H
đơn kháng cáo, với nội dung: Bản án thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của không đúng; đnghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án dân sự
thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phạm Văn H2
phải bồi thường thiệt hại vtài sản cho Đặng Thị H với số tiền 211.500.000
đồng và bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 140.400.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Đặng Thi H3 rút một phần yêu cầu
kháng cáo, cụ thể: Nguyên đơn rút nội dung kháng cáo về yêu cầu bị đơn ông
Phạm Văn H2 bồi thường tiền đắp tổn thất về tinh thần 140.400.000 đồng;
nguyên đơn giữ yêu cầu kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại về tài sản, đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm buộc ông Phạm Văn H2 phải bồi
thường thiệt hại về tài sản số tiền là 211.500.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến, với nội dung: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán
cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đã
phân tích, đánh giá về yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo của nguyên đơn
cho rằng bản án thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, căn cứ và phù hợp với pháp luật, nên kháng cáo của Đặng Thị H
không căn cứ chấp nhận. Tại phiên a phúc thẩm người kháng cáo đã rút một
phần kháng cáo, nên cần đình chxét xphúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo đã
rút. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều
289 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị H về
buộc ông Phạm Văn H2 bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 140.400.000 đồng.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Đặng Thị H về bồi thường
thiệt hại tài sản số tiền là 211.500.000 đồng và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
Đối với yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Đặng
Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Đối với nội dung kháng o của nguyên đơn Đặng Thị H về yêu cầu
ông Phạm Văn H2 phải bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 140.400.000 đồng:
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo Đặng Thị H đã rút yêu cầu kháng
cáo về nội dung này, xét thấy: Việc người kháng cáo Đặng Thị H đã rút một
phần kháng cáo tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Hội
đồng xét xử không xem xét về yêu cầu kháng cáo đã rút cần đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với yêu cầu kháng o đã rút theo quy định tại điểm c khoản 1
khoản 3 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, là phù hợp.
[2] Về yêu cầu khởi kiện và phần kháng cáo bồi thường thiệt hại về tài sản:
[2.1] Nguyên đơn bà Đặng Thị H cho rằng trong thời gian từ ngày 21/6/2023
đến ngày 27/6/2023, ông Phạm Văn H2 đã hành vi thuê xe máy múc san lấp
mặt bằng làm hư hỏng tài sản, thu gom phế liệu, nhổ rào và chặt phá cây trồng của
H2, đã gây thiệt hại về tài sản của H2, nên yêu cầu ông H2 bồi thường thiệt
hại về tài sản, với tổng số tiền 211.500.000 đồng. Nguyên đơn H2 cung cấp
08 tấm ảnh màu để chứng minh việc bị đơn có hành vi gây thiệt hại về tài sản. Tuy
nhiên, 08 tấm ảnh do nguyên đơn cung cấp chỉ thể hiện hình ảnh chụp tại hiện
trường khu đất máy múc một số người mặt; không xác định được tình
trạng các tài sản có trước sau khi bị hỏng, thiệt hại cụ thể như thế nào; các
hình ảnh này không xác định được ông Phạm Văn H2 người thực hiện hành vi
gây thiệt hại tài sản như nội dung trình bày của nguyên đơn. Đồng thời, Tại Công
văn số 29/CV-CAX ngày 30/01/2026 của Công an K, tỉnh Đắk Lắk trả lời cho
Toà án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk về đơn trình o của Đặng Thị H, cũng
chỉ thể hiện nội dung lực lượng chức ng của Công an đến hiện trường
nhưng khi đến địa điểm xảy ra tranh chấp thì không thấy ông Phạm Văn H2
mặt tại đó mà chỉ cóH2 và bà Huỳnh Thị V (vợ ông H2), các bên không xảy ra
xát, va chạm gì, nên Công an chỉ tiến hành các biện pháp nắm tình hình,
đảm bảo trật tự không để xảy ra va chạm giữa hai bên, do hai bên không xảy ra xô
xát hay va chạm nên Công an E không lập biên bản. Còn đối với bị đơn ông
Phạm Văn H2 thì không đồng ý với nội dung khởi kiện của nguyên đơn, ông H2
cho rằng gia đình ông chỉ thực hiện việc cải tạo, canh tác trên phần đất thuộc
quyền quản lý, sử dụng của gia đình đã được Tòa án các cấp xác định ông
không có hành vi phá hoại tài sản hay gây thương tích cho Đặng Thị H.
[2.2] Như vậy, các tài sản mà nguyên đơn cho bị thiệt hại hiện không còn
tồn tại, không được quan thẩm quyền lập biên bản ghi nhận tại thời điểm
xảy ra sự việc; nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu và chứng cứ chứng
minh vsố lượng, nguồn gốc tài sản bị thiệt hại gồm những tài sản gì, thiệt hại
thực tế đã xảy ra lỗi của người gây thiệt hại ông Phạm Văn H2; ngoài ra, tại
phần diện tích đất nơi xảy ra sự việc đã được xác định thuộc quyền quản lý, s
dụng của gia đình bị đơn theo các bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
[2.3] Xét thấy: Nguyên đơn Đặng Thị H cho rằng bị đơn ông Phạm Văn
H2 đã hành vi thuê xe múc san lấp mặt bằng làm hỏng tài sản, thu gom phế
liệu, nhổ rào và chặt phá cây trồng, gây thiệt hại về tài sản, đời sống tinh thần, sức
khoẻ của bà nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu khởi kiện của mình, nên bản án thẩm đã tuyên không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị H, căn cứ. Do đó, kháng cáo của
6
Đặng Thị H không sở chấp nhận cần giữ nguyên bản án thẩm,
phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo không được chấp
nhận nên Đặng Thị H phải chịu án pdân sự thẩm án phí dân sphúc
thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Đặng Thị H, sinh năm 1962 (64
tuổi) người cao tuổi đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 3 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Đình chỉ xét xphúc thẩm phần kháng cáo của Đặng Thị H về yêu cầu
ông Phạm Văn H2 phải bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 140.400.000 đồng.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Đặng Thị H; giữ nguyên
Bản án dân sthẩm số: 09/2026/DS-ST ngày 26/3/2026 của Toà án nhân dân
khu vực 4 - Đắk Lắk.
Áp dụng: Các Điều 584, 585, 589 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm
đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị H về
việc yêu cầu ông Phạm Văn H2 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 211.500.000
đồng (hai trăm mười một triệu, năm trăm nghìn đồng) bồi thường đắp tổn
thất vtinh thần số tiền 140.400.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu, bốn trăm
nghìn đồng).
2.2. Về án phí: Nguyên đơn Đặng Thị H được miễn tiền án phí dân sự
thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhn:
- TAND ti cao (v 2);
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 4 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS KV4 - Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trương Công Bình
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 389/2026/DS-PT Bản án số 389/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 389/2026/DS-PT Bản án số 389/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất