Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 109/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 109/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TX. Cai Lậy (TAND tỉnh Tiền Giang) |
Số hiệu: | 109/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/09/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị L xin ly hôn anh T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ CAI LẬY Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 109/2024 /HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 9 - 2024
V/v tranh chấp xin ly hôn,
nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông: Lê Văn Tám.
2/ Bà: Đặng Thị Tiềm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc - Cán bộ TAND thị xã Cai Lậy,
tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quốc Vƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm
2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự.
1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 01/01/1985; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã C, huyện N, tỉnh Tiền Giang.
2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/6/1986; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã L, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2024 và lời khai thể hiện có trong hồ sơ,
nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Do mai mối chị Nguyễn Thị L và anh
Nguyễn Văn T được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào tháng 12 năm 2011 có đăng
ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Phước Tây, thị xã Cai Lậy, theo giấy chứng nhận kết hôn
số 136 ngày 27/11/2012. Sau khi cưới về chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2019
thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống,
sống với nhau không hạp tánh tình từ đó dẫn đến vợ chồng cãi vã nhau thường xuyên,
anh T thường hay nhậu nhẹt không quan tâm lo cho vợ con; vợ chồng ly thân và cắt
đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay. Nay chị L yêu cầu xin được
2
ly hôn với anh T vì cho rằng về tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống
chung không hạnh phúc.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 06/10/2012 và
Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2014 hiện chị L đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị L
yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung; chị L không yêu cầu anh T phải cấp
dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị L không có, nên không đặt ra yêu cầu
Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn T dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông
báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,
quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều
lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án.
Về phía đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và cho rằng trong quá trình giải
quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký
phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng quy định nên không
có đề nghị gì.
Về ý kiến của phía đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội
đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L cho chị Nguyễn Thị
L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 06/10/2012 và cháu
Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không
phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị L chưa có yêu cầu; anh T được quyền thăm nom,
chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị L khai không có, nên không đặt ra yêu
cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có
ý kiến gửi cho Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải
quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra
xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
chung.
[2] Về thủ tục tố tụng: Việc vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn T. Xét thấy, bị
đơn anh T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt phía bị đơn anh T.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L: yêu cầu xin được ly hôn với
anh Nguyễn Văn T. Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay, chị L vẫn giữ yêu cầu xin được
ly hôn với anh T, vì cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống
không hạnh phúc. Phía anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gửi
3
cho Tòa án. Xét thấy, trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, đã triệu tập phía anh T
nhiều lần đến để hòa giải về việc chị L xin ly hôn với anh T. Nếu như về tình cảm vợ
chồng, anh T muốn vợ chồng đoàn tụ lại thì anh T phải đến Tòa án để gặp chị L, để
hòa giải về tình cảm vợ chồng xem có khả năng đoàn tụ hàn gắn lại được hay không
nhưng phía anh T không đến, thể hiện anh T không còn quan tâm đến tình cảm vợ
chồng đối với chị L. Ngoài ra, theo chị L khai giữa chị L và anh T đã ly thân và cắt
đứt quan hệ vợ chồng với nhau từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay đã hơn 01 năm. Cho
thấy, về tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị L đã đến mức trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên Hội đồng xét xử đã
có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L và cho chị Nguyễn Thị L
được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
[4] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 06/10/2012 và
Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2014 hiện chị L đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị L
yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung; chị L không yêu cầu anh T phải cấp
dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu N và A hiện do chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng từ khi
vợ chồng ly thân với nhau cho đến nay đã ổn định về mọi mặt; hơn nữa cháu N và A là
nữ nên giao cho chị L nuôi dưỡng là đảm bảo tốt về mọi mặt cho sự phát triển của
cháu N vàA sau này; nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ giao cháu Nguyễn Thị N và
cháu Nguyễn Thị Bảo A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do
phía chị L chưa có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.
Nếu sau này chị L có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì chị L được quyền khởi kiện bằng
một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị L khai không có, nên không đặt ra yêu
cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có
ý kiến gửi cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Nếu
sau này phía anh T cho rằng vợ chồng có tài sản chung và nợ chung nhưng không thỏa
thuận được với nhau và có tranh chấp thì được quyền làm đơn khởi kiện bằng một vụ
kiện khác khi có đơn yêu cầu.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn theo
quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 271, 272 và 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban

4
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L, cho chị
Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 06/10/2012 và
cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 23/4/2014 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh T
không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị L chưa có yêu cầu; anh T được quyền
thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn,
nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên
lai thu số 0004979 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy;
nên chị L đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản
án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Nguyễn Văn T
thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi Nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang;
- VKSND tỉnh Tiền Giang;
- VKSND thị xã Cai Lậy; (Đã ký)
- Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
- UBND xã T;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Văn phòng. Phan Thanh Sơn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm