Bản án số 1052/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1052/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1052/2026/DS-PT ngày 18/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 1052/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: LÊ THỊ T - LÊ VAN TH
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1052/2026/DS-PT Bản án số 1052/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1052/2026/DS-PT Bản án số 1052/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Bà Hoàng Th Thuý Lành
Các Thm phán:
Bà Dương Thuý Hằng
Bà Đinh Thị Ngc Yến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Huỳnh Phạm Khánh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 245/2026/TLPT-DS ngày 10
tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp di sn tha kế”
Do Bản án n sự thẩm số 10/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 a án nhân dân
khu vực 5 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 342/2026/QĐ-PT ngày 14
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Lê Thị T, sinh năm 1960
Địa chỉ: Số C, Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963
Địa chỉ: số B, Đường T, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Bị đơn: Ông Văn T2, sinh năm 1957
Địa chỉ: Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
1. Lê Thị H, sinh năm 1952
Địa chỉ: Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 1052/2026/DS-PT
Ngày: 18-8-2026
Về việc “Tranh chấp di sn tha
kế”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
2. Ông Lê Văn T3, sinh năm 1963
Địa chỉ: Số C, Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T3: Bà Lê Đoàn Như Ý, sinh năm 1989
Địa chỉ: Số C, Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Văn T3: Ông Nguyễn Văn
T1, sinh năm 1963
Địa chỉ: số B, Đường T, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
3. Ông Lê Thanh H1, sinh năm 1986
4. Ông Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
5. Ông Lê Văn H2, sinh năm 1980 (con ông Lê Văn V đã chết, không rõ địa chỉ
nên không thể triệu tập).
6. Thị H3 (con ông Văn V đã chết, không năm sinh địa chỉ nên
không thể triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/11/2023 của Thị T những lời trình
bày của ông Nguyễn Văn T1 (đại diện theo ủy quyền của T) trong quá trình giải
quyết vụ án, thì nội dung khởi kiện của bà T được tóm tắt như sau:
Cụ Lê Văn B và cụ Võ Thị Đ là vợ chồng. Cụ B tham gia cách mạng và hy sinh
năm 1963, còn cụ Đ chết năm 2021. Khi còn sống, hai cụ có 06 người con chung gồm:
Lê Thị H, sinh năm 1952; Văn V, sinh năm 1955 (chết năm 1997 có vợ 02 người
con tên Văn H2 Thị H3); Văn T2, sinh năm 1958; Thị T, sinh năm
1960; Lê Văn T3, sinh năm 1963 và Lê Văn T4, sinh năm 1968 (chết năm 1987 không
có vợ con).
Cụ Đ và cB khi còn sống có tạo lập được tài sản mà hiện nay là 03 thửa đất số
80, 690 và 721 cùng tờ bản đồ số 5, xã T, huyện T, tỉnh Long An do cụ Đ đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi cụ Đ chết vào năm 2021, thì những người thừa kế của cụ Đ không thỏa
thuận được việc phân chia di sản.
Nay bà T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ Đ đlại tại các thửa đất 80,
690 và 721 cùng tờ bản đồ số 5, xã T cho các thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
cụ Đ, trong đó T yêu cầu được nhận bằng hiện vật quyền sử dụng đất diện tích
khoảng 165m
2
, có chiều ngang 06m, chiều dài từ Đường H vào hết đất.
Bà T yêu cầu làm rõ xác thực lại Tờ di chúc mà ông T2 cung cấp cho Tòa án,
T sẽ có văn bản đề nghị gởi cho Tòa án sau.
Bị đơn ông Văn T2 trình bày: Ông T2 thống nhất với ý kiến của T v
việc cụ Văn B cụ Thị Đ vợ chồng. Cụ B tham gia cách mạng và hy sinh
năm 1963, còn cụ Đ chết năm 2021. Khi còn sống, 02 cụ có 06 người con chung gồm:
Lê Thị H, sinh năm 1952; Văn V, sinh năm 1955 (chết năm 1997 có vợ 02 người
3
con tên Văn H2 Thị H3); Văn T2, sinh năm 1958; Thị T, sinh năm
1960; Lê Văn T3, sinh năm 1963 và Lê Văn T4, sinh năm 1968 (chết năm 1987 không
có vợ con).
Cụ Đ và cB khi còn sống có tạo lập được tài sản mà hiện nay là 03 thửa đất số
80, 690 và 721 cùng tờ bản đồ số 5, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Tuy nhiên, thửa 80
thì cụ Đ đã tặng cho người cháu Văn H2 (con của ông Văn V). Đối với thửa
đất số 690 và 721 cùng tờ bản đồ số 5, xã T, huyện T, tỉnh Long An hiện do cụ Đ đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng vào năm 2000, cụ Đ đã lập di chúc để
lại toàn bộ tài sản này cho ông T2. Do đó, ông T2 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bà Lê Thị T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn T3 do Bà Lê Đoàn Như Ý
đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông T3 do chị Ý đại diện đồng ý theo 01 phần yêu cầu khởi kiện của T về
việc yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ Đ để lại tại các thửa đất 80, 690 và 721 cùng tờ
bản đồ số 5, T cho các thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ. Tuy nhiên,
phần T yêu cầu được nhận bằng hiện vật quyền sử dụng đất diện tích khoảng
165m
2
, chiều ngang 06m, chiều dài từ Đường H vào hết đất vượt quá kỷ phần thừa
kế bà T được chia, nên ông T3 chỉ đồng ý chia cho T được nhận 134,8m
2
.
Ông T3 do chị Ý đại diện xác định đồng ý chia di sản thừa kế do cụ Đ để lại làm
05 phần, mỗi kỷ phần 134,8m
2
chia bằng nhau cho T, H, ông T2, ông T3 và
ông V (ông V do 02 người con nhận).
Ông T3 yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế bằng giá trị quyền sử dụng đất theo
định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Lê Thị H trình bày như sau:
Tại đơn xin trình bày ý kiến ngày 27/11/2023, bà H xác định thửa đất 690, trên
đất có 01 căn nhà tình nghĩa, theo di nguyện của cụ Đ lúc còn sống là để phần nhà, đất
này làm nơi thờ cúng mà không tặng cho người con nào. Trường hợp Tòa án giải quyết
chia thừa kế thì phải tính phần công chăm sóc, tiền ăn mỗi ngày trong thời gian 04 năm
06 tháng mà bà H đã chăm lo cho cụ Đ, kể cả tiền xây mộ cho cụ Đ.
Tại phiên họp kiểm tra chứng cứ ngày 03/11/2025, H ý kiến là không đồng
ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại bản tự khai ngày 06/01/2026, H xác định không khởi kiện yêu cầu chia
di sản thừa kế do cụ Đ để lại. Bà H đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca bà T và đồng
ý nhận kỷ phần thừa kế của cụ Đ để lại trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của bà T
dược chấp nhận.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thanh H1 trình bày: Anh H1 con
của ông T2, anh H1 thống nhất với toàn bộ ý kiến ca ông T2 là không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của T. Anh H1 xác định hiện tại các thửa đất 80, 690 và 721 được ông
T2 cho vợ chồng anh H1 trực tiếp quản lý, sử dụng, sinh sống trên đó.
Tại phiên tòa, các đương sự trình bày ý kiến bổ sung như sau:
Nguyên đơn Thị T cùng người đại diện theo ủy quyền của T là ông
Nguyễn Văn T1 cùng thống nhất trình bày: T có thay đổi 01 phần yêu cầu khởi kiện,
4
cụ thể T chỉ yêu cầu được chia nhận phần đất chiều ngang 05m tiếp giáp
Đường huyện lộ 25, tổng diện tích 105,2m
2
thuộc 01 phần thửa 80 01 phần thửa
721, có vị trí khu A và khu B trên Mảnh trích đo địa chính số 92-2025 ngày 10/6/2025
của Chi nhánh Văn phòng Đ3, trường hợp không nhận được bằng hiện vật thì bà T xin
nhận bằng gtrị theo định giá. Đối với Tờ di chúc bản chính của cụ Thị Đ được
Chủ tịch UBND T chứng thực ngày 04/7/2000, T thừa nhận trước đây T
nghe bà H kể lại cụ Đ1 có lập tờ di chúc này, nhưng sau đó cụ Đ1 đã thay đổi ý định
lập Tờ di chúc khác để lại di sản cho người khác, rồi cụ Đ lại tiếp tục hủy bỏ,
nhưng bà T xác định không cung cấp được các Tờ di chúc do cụ Đ lập sau này. T,
ông T1 cho rằng Tờ di chúc ông T2 cung cấp không hợp pháp vì không phản ánh
đúng ý chí của cụ Đ, nội dung di chúc ghi thiếu 02 người con, di chúc không thể hiện
giao cho ai quản lý, khi lập di chúc cụ Đ đã không còn minh mẫn. Ngoài ra, T còn
bổ sung thêm tình tiết ông Văn V đến 04 người con với 02 người vợ khác nhau,
chứ không phải chỉ có 02 người con là anh H2, chị H3 như trình bày trước đây của bà
T, nhưng T cũng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể hiện nay của những người con này
của ông V.
Bà Lê Đoàn Như Ý đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn T3 trình bày: Ông T3
biết việc năm 1999, ông T2 chở cụ Đ đi làm di chúc để lại tài sản cho ông T2, nên
ông T3 phản đối, thời điểm đó cụ đổ vẫn còn minh mẫn bình thường. Sau đó khoảng
03 năm, cụ Đ ông T3 ra UBND xã lập Tờ di chúc mới có nội dung cụ Đ để lại 01
phần tài sản cho ông T3, nhưng sau khi lập xong thì giữa cụ Đ và ông T3 có xảy ra cự
cãi, nên ông T3 đã tự bỏ Tờ di chúc này. Nay chị Ý đại diện cho ông T3 xác định
đối với phần tài sản tại thửa 690 721 do trước đây ông T3 đã tự bỏ tờ di chúc,
không nhận phần tài sản này, nên coi như ông T3 đã từ bỏ. Đối với thửa đất số 80, nếu
xác định vẫn di sản do cụ Đ để lại thì đề nghchia cho ông T3 01 phần theo quy định.
Chị Ý cũng xác định không biết thông tin vhọ tên đầy đủ, địa chỉ hiện nay của những
người con của ông Lê Văn V, nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 10/2026/DS-ST ngày 26/01/2026 a án nhân dân
khu vực 5 - Tây Ninh quyết định:
Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228,
Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 650, Điều 651, Điều 652, khoản 3 Điều
653, Điều 655, Điều 656, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Các Điều 611, Điều
612, Điều 650 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí a án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về việc: Yêu cầu
được chia nhận phần đất chiều ngang 05m tiếp giáp Đường huyện l25, tổng diện
tích 105,2m
2
thuộc 01 phần thửa 80 01 phần thửa 721, vị trí khu A và khu B
trên Mảnh trích đo địa chính số 92-2025 ngày 10/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ3,
trường hợp không nhận được bằng hiện vật thì T xin nhận bằng giá trị theo định giá.
2. Về chi phí tố tụng là 19.275.200 đồng: Nguyên đơn Thị T phải chịu
toàn bộ, bà T đã nộp xong.
5
Ngày 30/01/2026 Thị T kháng cáo yêu cầu sửa toàn bộ bản án thẩm,
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu kháng cáo. Tại cấp thẩm, bà T yêu cầu chia
03 thửa đất số 80, 690 721 cùng tờ bản đồ số 5, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Tuy
nhiên, thửa 80 hiện nay Lê Văn H2 (con của ông Lê Văn V) đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (Thực tế, phần đất nay trước khi mất cụ Võ Thị Đ quản lý, sử dụng)
nên T rút yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất này để tranh chấp trong một vụ kiện
khác. Nay T chỉ yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 690
721 cùng tờ bản đồ số 5, T, huyện T, tỉnh Long An (Nay V, tỉnh Tây Ninh).
Đối với tài sản trên đất đồng ý giao cho ông Văn T2 quản lý, sử dụng, không yêu
cầu chia. Đại diện theo uỷ quyền của bà T yêu cầu chia di sản thừa kế theo giá trị của
quyền sử dụng đất. Trong trường hợp ông T2 không nhận quyền sử dụng đất thì T
xin nhận quyền sử dụng đất và trả lại phần giá trị quyền sử dụng đất cho các người thừa
kế khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu giám
định dấu vân tay của bà Võ Thị Đ tại Di chúc ngày 26/4/1999.
Kết quả giám định tại Kết luận số 529/KL-KTHS ngày 31/7/2026 của V1 phân
viện KHHS tại TP Hồ Chí Minh, kết luận: “Dấu vấn tay dưới mục “Người làm di chúc”
ghi họ tênThị Đ trên “Tờ di chúc” ghi ngày 26 tháng 4 năm 1999 không đủ yếu t
giám định.”.
Đoàn Như Ý, người đại diện theo uỷ quyền của ông Văn T3 thống
nhất lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của Thị T, yêu cầu được
nhận một kỷ phần thừa kế của cụ Võ Thị Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn T3 đề nghị Hội đồng
xét xxem xét tính hợp pháp, điều kiện hiệu lực của di chúc do ông Văn T2
cung cấp. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 1995 thì Di chúc do ông T2 cung cấp
không có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Văn T2 không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn,
đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.
Thị H không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn và ông Lê Văn T3 về việc
yêu cầu chia di sản. H đề nghị để lại căn nhà tình nghĩa đlàm nơi thờ cúng. Trong
trường hợp Toà án chia di sản thừa kế theo luật thì phần di sảnH được hưởng giao
lại cho ông T2 quản lý để thờ cúng cha mẹ.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa thc hiện đúng trình tự, th tục theo quy định ca B lut T tng dân s. Các
đương sự thc hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy đnh ca B lut T
tng dân s.
Về nội dung: Đnghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án thẩm, không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Lê Thị T nộp trong thời hạn luật định, về hình thức và nội
dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về hàng thừa kế: Cụ Lê Văn B và cụ Võ Thị Đ vợ chồng. CB tham gia
cách mạng và hy sinh năm 1963, còn cụ Đ chết năm 2021. Khi còn sống, 02 cụ 06
người con chung gồm: Lê Thị H, Lê Văn V (chết năm 1997 có vợ và 02 người con tên
Lê Văn H2Lê ThH3); Lê Văn T2; Thị T; Văn T3 Lê Văn T4, sinh năm
1968 (chết năm 1987 không vợ con). Cha mẹ cụ Đ, cụ B đã chết. Như vậy, hàng
thừa kế thứ nhất của cụ Đ gồm 5 người: Lê Thị H, Văn T2, Văn T3, Thị T
Lê Văn V.
Ông Văn H2, Thị H3 được xác định tham gia tố tụng với cách
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người thừa kế thế vị của ông Lê Văn V, được
hưởng phần di sản của ông Lê Văn V, nhưng do phía nguyên đơn và bị đơn, người
quyền nghĩa vụ liên quan đều không cung cấp được thông tin rõ ràng vnơi cư trú hiện
nay hoặc nơi cư trú cuối cùng của ông H2, bà H3 nên Tòa án không thể triệu tập tham
gia phiên tòa xét xử vụ án.
Chiếu theo án lệ 06/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA
ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thì trong trường hợp
có căn cứ phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, thì kỷ phần thừa kế thế
vị anh H2, chị H3 các người con còn lại của ông V (nếu có) sẽ được tạm giao
cho 01 trong những người thừa kế quản lý, khi nào anh H2, chị H3 yêu cầu nhận thì
sẽ được giải quyết theo quy định, nên việc Tòa án xét xử vụ án vẫn đảm bảo phù hợp
quy định của pháp luật.
[2.2] Về di sản thừa kế: Cụ Đ cụ B khi còn sống tạo lập được một số tài
sản. Các đương sự đều thừa nhận, tại thời điểm mở thừa kế còn lại 02 thửa đất số 690
và 721 cùng tờ bản đồ số 5, xã T, huyện T, tỉnh Long An do cụ Đ đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Đối với thửa 80, mặc dù cụ Đ quản lý sử dụng nhưng giấy tờ
pháp lý do ông Lê Thanh H4 đứng tên. Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện chia thừa kế
đối với phần đất thửa 80 đtranh chấp trong một vụ kiện khác. Do đó, xác định 02 thửa
đất số 690 và 721 là di sản của của cVõ Thị Đ.
[2.3] Xét tính hp pháp ca di chúc: B đơn ông Văn T2 cung cấp “Tờ di
chúc” được y ban nhân dân T, huyn T, tnh Long An chng nhn ngày 04 tháng
7 năm 2000 ni dung c Đ để li toàn b tài sn cho ông T2 được hưởng đ th cúng
c Đ, chng c Đ là lit s Lê Văn B cùng vi ông ngoi là lit s Võ Văn Q.
7
[2.3.1] Xét thy, ông Lê Văn T2 cung cấp văn bản di chúc được lp vào ngày 26
tháng 4 năm 1999, Ủy ban nhân dân xã T, huyn T, tnh Long An chng nhn ngày 04
tháng 7 năm 2000. Do đó căn cứ Lut Dân s 1995 để xét tính hp pháp ca di chúc.
[2.3.2] Di chúc do b đơn cung cấp một văn bản viết tay, được phô ghi
người làm di chúc Th Đ. Ông Văn T2 xác nhn Th Đ không biết
chữ, người viết di chúc là ông Văn Đ2, sinh năm 1949, đa ch: p C, V, tnh Tây
Ninh, hin đã chết. Ti thời điểm viết di chúc giùm bà Đ, ông Đ2 là Ch tch Hi nông
dân T. Ông T2 là người chVõ Th Đ đến UBND nh ông Đ2 viết di chúc.
Sau khi viết di chúc thì UBND xã chng thc nội dung như trên tờ Di chúc. Tuy nhiên,
trên t di chúc không th hin tên, ch ký ca người viết h di chúc cho Đ. Như vậy,
danh tính của người viết h di chúc không được xác thc. Di chúc không ghi danh tính
của người viết h vi phạm quy định ti khoản 3, Điều 655 Lut Dân s 1995“…Di
chúc ca người b hn chế v th cht hoc của ngưi không biết ch phải được người
làm chng lập thành văn bản chng nhn ca Công chứng nhà c hoc chng
thc ca U ban nhân dân xã, phưng, th trấn.” Đồng thời, Điều 659 quy định Di
chúc bằng văn bản người làm chứng: Trong trường hợp người lp di cc không th
t mình viết bn di chúc, thì th nh ngưi khác viết, nhưng phải ít nht hai
người làm chứng. Người lp di chúc phi ký hoặc điểm ch vào bản di chúc trước mt
những người làm chng; những người làm chng xác nhn ch ký, điểm ch của người
lp di chúc và vào bản di chúc” Điu 661. Th tc lp di chúc ti Công chng nhà
c hoc U ban nhân dân xã, phường, th trấn “Vic lp di chúc ti Công chng nhà
c hoc U ban nhân dân xã, phường, th trn phi tuân theo th tục sau đây:..
2- Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được
bản di chúc, không hoặc không điểm chỉ được, thì phải nhngười làm chứng
người này phải xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người thẩm quyền
chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người thẩm
quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc
trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.”
Như vậy, cấp thẩm cho rằng, “Tờ di chúc” do cụ Đ lập vào ngày 26/4/1999,
đã được y ban nhân dân T, huyện T, tỉnh Long An chứng nhận ngày 04 tháng 7
năm 2000, phù hợp với quy định tại các Điều 650, Điều 651, Điều 652, khoản 3 Điều
653, Điều 655, Điều 656, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực tại thời
điểm cụ Đ lập di chúc), nên được xác định là di chúc hợp pháp là chưa xem xét đến các
điều kiện đối với Di chúc do người lập di chúc không biết chữ.
[2.4] Xét lời chứng của cán bộ pháp trong bản Di chúc: “Chứng nhận di
chúc của bà Võ Thị Đ hiện ngụ tại Ấp C, xã T đã lập di chúc và ký tên, điểm chỉ trước
mẳ chúng tôi. Hành vi, năng lực của đ/s tôi đã kiểm tra”. Tuy nhiên, như phân tích
trên, Di chúc được lập ngày 26/4/1999 nhưng đến ngày 44/7/2000 mới được UBND
chứng thực mâu thuẫn với nội dung chứng thực cũng như lời khai của ông Văn
T2 về thời gian lập di chúc và thời gian chứng thực (Ông T2 khai lập di chúc tại xã
sau khi lập xong thì chứng thực trong cùng thời gian lập di chúc).
[2.5] Về dấu vân tay trên di chúc: Kết quả giám định tại Kết luận số 529/KL-
KTHS ngày 31/7/2026 của V1 phân viện KHHS tại TP Hồ Chí Minh, kết luận: “Dấu
8
vấn tay dưới mục “Người làm di chúc” ghi họ tên Võ Thị Đ trên “Tờ di chúc” ghi ngày
26 tháng 4 năm 1999 không đủ yếu tố giám định.”
[2.6] Mặt khác, hồ sơ thể hiện, sau khi “Tờ di chúc” thì bà Võ ThĐ vẫn tiếp
tục định đoạt tài sản bằng cách chuyển quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng tặng
cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhiều người. Tài sản được đề cập trong di
chúc không còn như tại thời điểm mở thừa kế. Điều này thể hiện ý chí của Đ về
việc để lại tài sản cho ông T2 là không có.
Như vậy, Tờ di chúc ngày 26/4/1999 không giám định được dấu vân tay có phải
của cụ Võ Thị Đ hay không, không tuân thủ các quy định của pháp luật đối với trường
hợp di chúc của người không biết chữ, mâu thuẫn về nội dung chứng thực, thời gian
chứng thực nên không coi là hợp pháp.
[3] Do di chúc không hợp pháp nên cần chia di sản theo quy định của pháp luật.
[3.1] Các đương sự thng nht Chứng thư thẩm định giá số 020/2025/295-
HD/TĐG LA-BĐS ngày 05/8/2025 của Công ty cổ phần T5 làm căn cứ tính giá trị tài
sản.
Chứng thư thể hiện: Thửa đất số 721, tbản đồ số 5 có giá trị 477.526.400 đồng;
thửa 690, tờ bản đồ số 5 có giá 772.582.400 đồng. Tổng cộng 1.250.108.800 đồng.
Đối với phần tài sản trên đất, T, ông T3 đồng ý giao cho ông T2 quản đ
thờ cúng nên không đề cập.
Như vậy di sản của cụ Đ gồm 2 thửa đất trị giá 1.250.108.800 đồng được chia
cho 5 kỷ phần: 1.250.108.800 : 5 = 250.021.760 đồng. Mỗi kỷ phần được hưởng
250.021.760 đồng.
Xét thấy, trên đất có nhà và cây trồng do ông T2 và con ông T2 đang quản lý sử
dụng. Mặt khác, phần đất diện tích không đủ để tách thửa nên chia cho các đương
sự giá trị di sản bằng tiền. Giao quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T2.
Đối với kỷ phần thừa kế của Thị H, do H không nhận đồng ý giao
lại cho ông Lê Văn T2 quản lý thờ cúng cha mẹ nên ghi nhận sự tự nguyện của H.
Đối với kỷ phần thừa kế của ông Lê Văn V, do không xác định được địa chỉ của
người thừa kế thế vị nên giao cho ông T2 quản lý.
Buộc ông Văn T2 phải giao lại cho các người thừa kế Lê Thị T, Văn T3,
mỗi người một kỷ phần thừa kế, trị giá 250.021.760 đồng.
[4] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm đã đánh
giá chưa khách quan các tình tiết trong vụ án, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp
của bà T và các người thừa kế ca bà Võ Thị Đ. Kháng cáo của T là có căn cứ nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[5] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử,
giữ nguyên bản án sơ thẩm không phù hợp với nhận định của Toà án nên không được
chấp nhận.
[6] Về chi phí tố tụng: Về chi ptố tụng là 19.275.200 đồng. Mỗi đương sự phải
chịu 3.855.040 đồng. Bà Lê Thị T đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng nên các người thừa kế
trách nhiệm hoàn trả cho T. Ông Văn T2 trách nhiệm trả phần chi phí tố
9
tụng đối với phần của H ông T2 được hưởng phần của người thừa kế thế v
của ông Lê Văn V. Ông T2 được quyền khấu trừ số tiền trả thay cho người thừa kế thế
vị của ông Lê Văn V khi bàn giao lại di sản.
[7] Về án phí: Các đương sự Lê Thị T, Văn T2, Thị H, Văn T3 đều là
người cao tuổi có đề nghị miễn án pnên được miễn tiền án phí DSST, DSPT. Ông
Văn T2 phải nộp thay phần tiền án phí đối với di sản người thừa kế thế vị của ông
Lê Văn V được hưởng. Ông T2 được quyền khấu trừ số tiền án pnộp thay cho người
thừa kế thế vị của ông Lê Văn V khi bàn giao lại di sản.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị T
Căn cứ các Điều 636, 637, 638, 649, 655, 659, 661 Bộ luật Dân sự 1995
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2026/DS-ST ngày 26-01-2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Tây Ninh.
1. Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ Thị Đ, các
thửa đất số 690 và 721 cùng tờ bản đồ số 5, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Nay V,
tỉnh Tây Ninh) của bà Lê Thị T:
Ông Lê Văn T2 được quyền sử dụng đối với các thửa đất số 690 và 721 cùng tờ
bản đồ số 5, T, huyện T, tỉnh Long An (Nay là V, tỉnh Tây Ninh) và toàn bộ tài
sản trên đất. Ông T2 được quyền đăng biến động từ Thị Đ sang tên ông
Văn T2 theo quy định của pháp luật.
Ông Văn T2 được hưởng hai kỷ phần thừa kế (của ông Văn T2
Thị H).
Ông Văn T2 nghĩa vụ quản lý phần di sản chia cho ông Văn V trị g
250.021.760 đồng. (do người thừa kế thế vị của ông V được hưởng) cho đến khi người
được hưởng di sản yêu cầu giao lại.
Ông Văn T2 có nghĩa vụ giao cho bà Lê Thị Tông Văn T3, mỗi người
một kỷ phần thừa kế trị giá 250.021.760 đồng (hai trăm năm mươi triệu, không trăm
hai mươi mốt nghìn, bảy trăm sáu mươi đồng).
2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn T3 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị T 3.855.040
đồng (ba triệu, tám trăm năm mươi lăm nghìn, không trăm bốn mươi đồng). Ông
Văn T2 nghĩa vụ trả cho Thị T 11.565.120 đồng (mười một triệu, năm trăm
sáu mươi lăm nghìn, một trăm hai mươi đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, đối với
khoản tiền, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự.
10
3. Về án phí dân sự:
3.1 Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự Lê Thị T, Lê Văn T2, Lê Thị H,
Văn T3 không phải chịu án phí dân sự thẩm. Ông Văn T2 phải nộp thay phần tiền
án phí đối với di sản người thừa kế thế v của ông Văn V được hưởng
12.501.088 đồng án phí DSST sung công quỹ nhà nước. Ông T2 được quyền khấu trừ
số tiền án phí nộp thay cho người thừa kế thế vị của ông Văn V khi bàn giao lại di
sản.
3.2 Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải nộp án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND khu vc 5 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân s tnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tp án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hoàng Th Thuý Lành
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1052/2026/DS-PT Bản án số 1052/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1052/2026/DS-PT Bản án số 1052/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất