Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 13/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 13/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa |
| Số hiệu: | 10/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn L, tranh chấp về nuôi con |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - THANH HOÁ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 8 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn
Ông Bùi Trung Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mỹ Duyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10
- Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá tham gia
phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh
Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng
5 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn
phiên toà số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 và Thông báo thay
đổi thời gian mở lại phiên toà số 02/TB-TA ngày 29 tháng 7 năm 2025, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; sinh năm: 1987; HKTT: Thôn L, xã T
(trước là thôn L, xã T, huyện N), tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã T
(trước là thôn Q, xã Q, huyện N), tỉnh Thanh Hoá.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L; sinh năm: 1988; HKTT: Thôn L, xã T (trước
là thôn L, xã T, huyện N), tỉnh Thanh Hoá; chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã T (trước là
thôn L, xã T, huyện N), tỉnh Thanh Hoá.
Tại phiên toà vắng mặt chị H, anh L. Chị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt, anh L vắng mặt không có lý do lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L kết hôn tự
nguyện, đăng ký ngày 21/4/2008 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh
Hoá (nay là xã T, tỉnh Thanh Hoá). Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận
được khoảng 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình
2
vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia
đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày
13/11/2023 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ
chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Hải S, sinh ngày
04/01/2009, cháu Nguyễn Huyền T, sinh ngày 21/5/2012 (cháu T bị bệnh bại não)
và cháu Nguyễn Khôi N, sinh ngày 08/12/2018. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng
được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T và cháu N; giao
cháu S cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai
phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, chị đang làm công nhân, thu nhập bình
quân hằng tháng khoảng 9.000.000đ (Chín triệu đồng), chị đủ khả năng nuôi cháu
T và cháu N.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn L để
làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H
nhưng anh L không có mặt nên không có lời khai của anh L và các bên không
thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký
phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị H đã thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh L không
thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị
HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao
nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp
luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82;
83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử
cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Giao cháu Nguyễn Hải S,
sinh ngày 04/01/2009 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục. Giao cháu Nguyễn Huyền T, sinh ngày 21/5/2012 và cháu Nguyễn Khôi N,
sinh ngày 08/12/2018 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn L, nơi cư trú tại
Thôn L, xã T, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và
3
điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh L không có mặt nên Tòa án
đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh
L theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.
Anh L đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh L đều
không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là
trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207
BLTTDS.
Chị Phạm Thị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp
lệ anh Nguyễn Văn L lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh L
vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2
Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị H, anh
L.
[2] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở
tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/4/2008 tại Uỷ ban nhân dân xã T, tỉnh
Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn
nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính
tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày
13/11/2023 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Về phía anh L, biết chị H làm
đơn xin ly hôn và Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh L lên làm việc để anh L
được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh L đều không
có mặt, thể hiện anh L không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng
tỏ chị H, anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho
hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
cho chị H được ly hôn anh L.
[3] Về con chung: Chị H và anh L có 03 con chung. Xét thấy, hiện tại cháu S
đang ở với anh L, cháu T và cháu N đang ở với chị H. Cháu S có nguyện vọng
muốn được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Ngoài ra, một người trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba cháu sẽ không đảm bảo điều kiện phát triển
tốt nhất cho các cháu được. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát
triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu S.
Chấp nhận yêu cầu của chị H: giao cháu S cho anh L trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu T và cháu N cho chị H trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị H, đây là sự tự
nguyện của chị H, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình;
các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản
1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn L có 03 con chung là
cháu Nguyễn Hải S, sinh ngày 04/01/2009, cháu Nguyễn Huyền T, sinh ngày
21/5/2012 và cháu Nguyễn Khôi N, sinh ngày 08/12/2018. Giao cháu S cho anh L
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu T và cháu N cho
chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp
dưỡng nuôi con chung.
Chị H, anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm
ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc (nay thuộc Thi hành án dân sự
tỉnh Thanh Hoá), theo biên lai số 0007596 ngày 07/5/2025. Chị H đã nộp đủ tiền
án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Chị H, anh L có quyền kháng cáo bản án này
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND cùng cấp;
- UBND xã Thạch Lập;
- THADS cấp tỉnh;
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
- Lưu HSVA; Văn thư.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Thịnh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 45/2025/HNGĐ-PT ngày 25/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm