Bản án số 10/2023/DS-ST ngày 25/05/2023 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2023/DS-ST ngày 25/05/2023 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Krông Nô (TAND tỉnh Đắk Nông) |
| Số hiệu: | 10/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | nguyên đơn ông Vũ Hưng Thịnh, bà Nguyễn Thị Hằng khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Nguyễn Viết Bình, bà Đinh Thị Hoàn. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN KRÔNG NÔ Độc lập- Tự Do – Hạnh Phúc
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 10/2023/DS-ST
Ngày 25/5/2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Hiển, bà H’Thủy Bon Jốc Ju
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Hường – Thư ký, Tòa
án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa:
Ông Mai Văn Hữu – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Krông
Nô, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số:
160/2022/TLST-DS, ngày 22 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-DS, ngày 24
tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 131/2023/QĐST-DS, ngày 05 tháng 5
năm 2023, giữa các đương sự:
*/ Nguyên đơn: Ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Tổ 8, thị trấn E,
huyện C, tỉnh Đắk Nông (Vắng mặt)
Người được nguyên đơn ủy quyền: Ông Nguyễn Khánh L; Địa chỉ: Số 08A,
thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
*/ Bị đơn: Ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H; địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện
K, tỉnh Đắk Nông (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2022 và bản tự khai, người được nguyên
đơn ủy quyền trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết và tin tưởng nhau, ngày 23/10/2020 ông Vũ Hưng
T, bà Nguyễn Thị H có cho vợ chồng ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H vay số tiền
là 227.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu đồng), thời hạn trả nợ là ngày
23/11/2020. Khi vay tiền, ông Nguyễn Viết B và bà Đinh Thị H có giao cho ông Vũ
Hưng T, bà Nguyễn Thị H giữ 01 GCNQSDĐ số BX 779083, số vào sổ cấp GCN:
2
CH 02132, do Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô cấp ngày 21/4/2015, mang tên ông
Nguyễn Viết B và bà Đinh Thị H. Mục đích của việc giao GCNQSDĐ trên là nếu
ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H không trả đủ nợ hoặc không có khả năng trả nợ
bằng tiền mặt thì vợ chồng ông sẽ trả bằng tài sản là quyền sử dụng đất trên cho ông
Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H. Việc vay tiền được thể hiện bằng văn bản là Giấy
nhận nợ (viết tay) và có đầy đủ chữ ký của bên vay là ông Nguyễn Viết B, bà Đinh
Thị H.
Tuy nhiên, quá thời hạn trả nợ nhưng vợ chồng ông Nguyễn Viết B, bà Đinh
Thị H vẫn không trả nợ cho ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H. Mặc dù ông Vũ Hưng
T, bà Nguyễn Thị H đã nhiều lần liên lạc nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Viết B, bà
Đinh Thị H vẫn chây ì và không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Do đó, ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Viết
B, bà Đinh Thị H trả tổng số tiền là 283.523.000 đồng, trong đó gồm: Tiền nợ gốc:
227.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu đồng); Tiền lãi từ ngày bị đơn vi
phạm nghĩa vụ ngày 24/11/2020 cho đến ngày xét xử 25/5/2023 là 30 tháng 01 ngày
(tính tròn 30 tháng), lãi suất 0,83%/tháng là 56.523.000 đồng (Năm mươi sáu triệu
năm trăm hai mươi ba nghìn đồng)
- Đối với bị đơn ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H: Tòa án nhân dân huyện
Krông Nô đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Viết B, bà Đinh
Thị H nhưng ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H đều vắng mặt tại các buổi làm việc,
không đến Tòa án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh hoặc có yêu cầu
phản tố với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên quan điểm
khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H trả cho ông
Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H số tiền 283.523.000 đồng, trong đó gồm: Tiền nợ gốc:
227.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu đồng); Tiền lãi xuất là 56.523.000
đồng (Năm mươi sáu triệu năm trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng
xét xử và nguyên đơn đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị
đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 274, 275, 323, 463, 466 của Bộ luật
Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H phải thanh toán trả cho ông Vũ Hưng T, bà
Nguyễn Thị H tổng số tiền là 283.523.000 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 227.000.000
đồng; Tiền nợ: 56.523.000 đồng; Ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả
lại cho ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
3
BX 779083 do Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô cấp ngày 21/4/2015 mang tên ông
Nguyễn Viết B và bà Đinh Thị H; Về lệ phí: Nguyên đơn nộp chi phí thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng số tiền 3.525.000 đồng; Về án phí: Bị đơn phải chịu
theo quy định của pháp luật, trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Đây là vụ án Dân sự tranh chấp về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
Bị đơn ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H có địa chỉ tại thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh
Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
Krông Nô theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Kết quả xác minh tại Công an xã Đắk Drô
thể hiện: Ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn
Đ, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Nông tuy nhiên ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H
không có mặt tại địa phương mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi
cư trú mới vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã làm thủ tục thông báo ấn
định thời gian làm việc đối với ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H trên Báo công lý
trong các số 13, 14, 15 ra các ngày 15, 17, 22/02/2023; trên Đài tiếng nói Việt Nam
phát sóng các ngày 10; 11; 12/02/2023 nhưng ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H
đều không có thông tin gì. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật
tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, để tiến hành giải quyết, xét xử vắng
mặt bị đơn là đúng quy định.
[2]. Về nội dung vụ án: Ngày 23/10/2020 ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H
có cho vợ chồng ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H vay số tiền là 227.000.000 đồng
(Hai trăm hai mươi bảy triệu đồng), thời hạn trả nợ là ngày 23/11/2020. Khi vay tiền,
ông Nguyễn Viết B và bà Đinh Thị H có giao cho ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị
H giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 779083, số vào sổ cấp GCN:
CH 02132, do Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô cấp ngày 21/4/2015, cấp cho ông
Nguyễn Viết B và bà Đinh Thị H. Mục đích của việc thế chấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất trên là nếu ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H không trả đủ nợ hoặc
không có khả năng trả nợ bằng tiền mặt thì vợ chồng ông, bà sẽ trả bằng tài sản là
quyền sử dụng đất trên cho ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H. Việc vay tiền được
thể hiện bằng văn bản là Giấy nhận nợ (viết tay) và có đầy đủ chữ ký của bên vay là
ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H. Về nội dung các bên thỏa thuận là phù hợp với
các quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và hợp đồng dân sự.
Điều 463 Bộ luật dân sự quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận
giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay
phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và
chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

4
Căn cứ vào nội dung thỏa thuận trong hợp đồng vay tiền thì hai bên có thỏa
thuận thời hạn trả tiền là 01 tháng kể từ ngày 23/10/2020 đến 23/11/2020, nhưng từ
khi đến hạn đến nay ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H vẫn chưa thanh toán cho ông
Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H bất kỳ một khoản tiền nào. Theo khoản 1 Điều 466
Bộ luật dân sự thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài
sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác”.
Hội đồng xét xử xét thấy, đến hạn trả nợ ngày 23/11/2020, ông Nguyễn Viết
B, bà Đinh Thị H không trả nợ cho ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H. Do đó, việc
ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông
Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H phải trả số tiền nợ gốc 227.000.000 đồng là phù hợp
cần chấp nhận.
Đối với tiền lãi suất: Trong giấy vay tiền ngày 23/10/2020 các bên không thỏa
thuận về lãi suất, tuy nhiên theo khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
dân sự quy định:
Khoản 4 Điều 466 cuả Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả
không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời
gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Khoản 2 Điều 468 cuả Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ
lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi
suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Do vậy, ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Nguyễn Viết B, bà
Đinh Thị H trả tiền lãi từ ngày vi phạm nghĩa vụ ngày 24/11/2020 cho đến ngày xét
xử ngày 25/5/2023 là 30 tháng 01 ngày (tính tròn 30 tháng), với lãi suất 0,83%/tháng
thành tiền là 56.523.000 đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, HĐXX nghĩ cần
buộc ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Vũ Hưng
T, bà Nguyễn Thị H số tiền 283.523.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu năm trăm
hai mươi ba nghìn đồng) trong đó tiền nợ gốc là 227.000.000 đồng (Hai trăm hai
mươi bảy triệu đồng), tiền nợ lãi 56.523.000 đồng (Năm mươi sáu triệu năm trăm
hai mươi ba nghìn đồng) mới phù hợp.
Việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 779083, số vào sổ
cấp GCN: CH 02132, do Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô cấp ngày 21/4/2015 cho
ông Nguyễn Viết B và bà Đinh Thị H. Giữa các bên là để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ của ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H với ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày
01/9/2017 thì “các giao dịch đảm bảo thế chấp quyền sử dụng đất phải đăng ký giao
5
dịch đảm bảo”. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai quy định:
“Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất,
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng
thực…” và khoản 4 Điều 323 Bộ luật dân sự quy định Quyền của bên nhận thế chấp
“4. Thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, việc
thế chấp này chưa được hai bên đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp
luật mà chỉ được ghi chung trong hợp đồng vay tiền nên việc thế chấp quyền sử dụng
đất này không đúng với quy định của pháp luật, không có hiệu lực. Tuy nhiên, không
có đương sự nào yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề này. Bên cạnh đó Người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn cũng đồng ý trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H nên cần ghi nhận mới phù hợp.
[3]. Đối với ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H, mặc dù đã được Tòa án triệu
tập nhiều lần (đã niêm yết theo đúng quy định của pháp luật và đã được thông báo
trên các phương tiện thông tin đại chúng) nhưng không có thông tin, không đến Tòa
án làm việc; không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra chứng cứ để chứng minh
theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Về chi phí xác minh, đăng tin: Nguyên đơn phải chịu số tiền 3.525.000
đồng chi phí xác minh, đăng tin theo Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự được khấu
trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp. Nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ.
[5]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị
đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm
ứng án phí đã nộp.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô
tại phiên toà là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 144, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp
dụng các Điều 274, Điều 275, Điều 323, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Hưng T, bà
Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Nguyễn
Viết B, bà Đinh Thị H.
1. Buộc ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H phải thanh toán trả cho ông Vũ
Hưng T, bà Nguyễn Thị H số tiền 283.523.000 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc:
227.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu đồng); Tiền nợ lãi: 56.523.000 đồng
(Năm mươi sáu triệu năm trăm hai mươi ba nghìn đồng).

6
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/5/2023) cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Viết
B, bà Đinh Thị H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 779083 do Ủy ban nhân
dân huyện Krông Nô cấp ngày 21/4/2015 mang tên ông Nguyễn Viết B và bà Đinh
Thị H.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Viết B, bà Đinh Thị H phải
chịu 14.176.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tiền án
phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Vũ Hưng T, bà Nguyễn Thị H số tiền 6.758.000
đồng (Sáu triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai số 0003432, ngày 21/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông
Nô, tỉnh Đắk Nông.
4. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: số tiền 3.525.000
đồng (Ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Nguyên đơn ông Vũ Hưng T,
bà Nguyễn Thị H phải chịu (đã nộp trong quá trình giải quyết vụ án).
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thu hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời
hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh Đắk Nông; THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
-VKSND huyện Krông Nô (02 bản);
-THADS huyện K; (đã ký)
-Những người tham gia tố tụng;
-Lưu HS.
Nguyễn Thế Hạnh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm