Bản án số 09/2024/KDTM-PT ngày 04/05/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2024/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 09/2024/KDTM-PT ngày 04/05/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 09/2024/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/05/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ, sửa toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 09/2024/KDTM-PT
Ngày: 04/5/2024.
V/v tranh chấp yêu cầu huỷ bỏ Biên
bản thoả thuận và yêu cầu tiếp
tục thực hiện Biên bản ghi nhớ.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
bà Trần Thị Kim Liên
Các Thẩm phán:
ông Vũ Thanh Liêm
ông Đặng Kim Nhân
- Thư phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư Tòa án nhân n cấp
cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Trần Thị
Thắng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số
16/2023/TLPT-KDTM ngày 01/12/2023 về tranh chấp yêu cầu huỷ bBiên bản
thoả thuận yêu cầu tiếp tục thực hiện Biên bản ghi nhớ. Do Bản án kinh
doanh thương mại thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án
nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 547/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 3
năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ng ty cổ phần Đ.
Địa chỉ: số H đường H, phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn T; chức vụ: Giám đốc.
mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Bùi Mạnh H
- Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH S.
Địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo pháp luật: ông Chuah Keh T1; chức vụ: Tổng Giám
đốc. Có mặt.
2
Người đại diện theo uquyền của bị đơn: bà Lâm Thị Phương K - sinh
năm 1982.
Địa chỉ: thôn P, A, huyện T, Phú Yên (văn bản uỷ quyền ngày
22/4/2024). Có mặt.
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Huỳnh Xuân Q - sinh
năm 1955.
Địa chỉ: số C đường P, phường B, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
4. Người kháng cáo: nguyên đơn Công ty cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 09/12/2022, các tài liệu trong hồ vụ án tại
phiên tòa thẩm, người đại diện theo pháp luật người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 24/5/2022, Công ty TNHH S Biên bản ghi nhớ về việc chuyển
nhượng vốn góp cho Công ty cổ phần Đ. Trong đó: ng ty TNHH S chuyển
100% vốn góp cho Công ty cổ phần Đ với tổng số tiền chuyển nhượng
88.000.000.000đồng (tám mươi m t đồng). Khi Biên bản ghi nhớ này,
Công ty cổ phần Đ chuyển cho Công ty TNHH S số tiền cọc 5.000.000.000đồng
(năm tỷ đồng). Theo Biên bản ghi nhớ, hai bên thống nhất ngày 10/6/2022 sẽ ký
hợp đồng chính thức chuyển nhượng 100% vốn theo Điều 2 của Biên bản ghi
nhớ. Đại diện pháp luật tại thời điểm Biên bản ghi nhớ của Công ty cổ phần
Đ ông Huỳnh Xuân Q. Tuy nhiên, sau đó các cổ đông của Công ty cổ phần Đ
đã chuyển nhượng tất cả phần vốn góp cho ông Nguyễn Văn T, trong đó có cả
phần vốn góp của ông Huỳnh Xuân Q (tài liệu đính kèm theo đơn khởi kiện)
ông Nguyễn Văn T đã làm thủ tục thay đổi người đại diện pháp luật của Công ty
theo quy định pháp luật. Ngày 12/8/2022, Phòng Đ1 cũng đã tiếp nhận hồ
(thông báo qua mail) ngày 15/8/2022 cấp Giấy chứng nhận đăng kinh
doanh (thay đổi lần 2). Tuy nhiên, ngày 15/8/2022, ông Huỳnh Xuân Q đã tý
làm việc với Công ty TNHH S xác lập: Biên bản thỏa thuận chấm dứt quan hệ
chuyển nhượng vốn góp và thanh Biên bản ghi nhớ. Việc làm của ông Huỳnh
Xuân Q đã xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty vì tại thời điểm này
ông Huỳnh Xuân Q đã không còn đại diện pháp luật của Công ty nên ông
không đủ điều kiện làm việc đđàm phán chấm dứt Biên bản ghi nhớ đã
ông Q ký, đóng dấu bằng con dấu cũ của Công ty ở quận G khi chưa chuyển đổi
địa chỉ Công ty qua quận E không đúng Luật Doanh nghiệp, trái quy định
pháp luật, hành vi của ông Q trực tiếp xâm phạm lợi ích Công ty. Công ty đã
nhiều lần gửi thông báo đề nghị Công ty TNHH S tiếp tục thực hiện theo Biên
bản ghi nhớ đã ký nhưng không có phản hồi.
Vì vậy, Công ty cổ phần Đ yêu cầu Toà án giải quyết:
3
- Buộc Công ty TNHH S tiếp tục thực hiện theo Biên bản ghi nhớ đã
giữa hai bên ngày 24/5/2022;
- Hủy Biên bản thỏa thuận trái pháp luật do ông Huỳnh Xuân Q đã với
Công ty TNHH S ngày 15/8/2022.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của bị đơn trình bày:
Các ông, bà vẫn giữ nguyên văn bản trả lời Tòa án ngày 10/01/2023 như
sau:
Thứ nhất: về quá trình hai bên Biên bản ghi nhớ, bàn bạc đàm phán để
ký kết hợp đồng chuyển nhượng vốn góp nhưng không thành công thanh
Biên bản ghi nhớ, hoàn trả tiền đặt cọc.
Ngày 24/5/2022, ông Tan Swee L, Giám đốc Công ty TNHH S đại diện
cho Công ty S.Bhd - Malaysia và ông Huỳnh Xuân Q - Tổng Giám đốc đại diện
Công ty Cổ phần Đ có ký Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022 để ghi nhận việc hai
bên bàn bạc đtiến tới ký kết Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp tại Công ty
S. Theo Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022, có nội dung cơ bản:
" 2.1. Giá mua bán, chuyển nhượng 100% vốn góp Công ty TNHH S theo
Biên bản ghi nhớ này là: 88.000.000.000VNĐ (bằng chữ: tám mươi tám tỷ Việt
Nam đồng).
2.2.1 Ngay khi ký Biên bản ghi nhớ này, Bên B đặt cọc cho Bên A
5.000.000.000VNĐ (bằng chữ: năm t Việt Nam đồng), vào tài khoản:
0751.0000.13026 của Công ty TNHH S tại ngân hàng V chi nhánh tỉnh P.
2.2.2 Các bên sẽ cùng phối hợp, đàm phán đchậm nhất ngày 10/6/2022,
hai bên hợp đồng chuyển nhượng vốn góp chính thức tại K Malaysia sự
chứng kiến của Luật sư, nội dung trong hợp đồng chuyển nhượng dựa trên biên
bản ghi nhớ này. Tại ngày này bên B thanh toán cho bên A số tiền:
40.000.000.000VND (bằng chữ: bốn mươi tỷ Việt Nam đồng) vào tài khoản
0751.0000.13026 của Công ty TNHH S tại ngân hàng V chi nhánh tỉnh P. Đồng
thời bên B gửi các hồ liên quan về việc thay đổi vốn góp để bên A các hồ
liên quan. Nếu bên B không hợp đồng chuyển nhượng vốn góp thanh
toán 40.000.000.000VND (bằng chữ: bốn mươi tỷ Việt Nam đồng) coi như Biên
bản ghi nhớ này chấm dứt, Bên B chấp nhận mất khoản tiền đặt cọc
5.000.000.000VNĐ (bằng chữ: năm tỷ Việt Nam đồng).
2.2.3 Chậm nhất ngày 15/7/2022, bên A sẽ thông báo cho bên B nhận
được hồ sơ chuyển nhượng đã duyệt. Bên B thanh toán số tiền còn lại
43.000 000.000đồng (bằng chữ: bốn mươi ba tỷ đồng) số tiền còn lại cho bên A
vào tài khoản 0751.0000.13026 của Công ty TNHH S tại Ngân hàng V, chi
nhánh tỉnh P, đồng thời bên A bên B làm thủ tục phong tỏa với số tiền
43.000.000.000đồng (bằng chữ: bốn mươi ba tViệt Nam đồng). Khi giấy
4
báo kết quả của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh P về việc bên B nhận được văn bản
chuyển nhượng vốn này (nghĩa Giấy phép kinh doanh đã sang tên bên B) thì
ngân hàng sẽ tự động mở phong tỏa và bên A quyền sử dụng số tiền này. Tại
thời điểm này, nếu bên B không thanh toán số tiền còn lại 43.000.000.000VNĐ
(bằng chữ: bốn mươi ba tỷ đồng) thì giao dịch coi như đã đóng bên A
quyền tịch thu 02 khoản tiền bên B đã thanh toán là: 45.000 000.000đồng
(bằng chữ: bốn mươi lăm tỷ đồng).”
Sau khi Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022, hai bên đã gặp nhau vào các
ngày 15 - 16/6/2022, ngày 28/6/2022 22/7/2022 để bàn bạc đàm phán, kết
hợp đồng nhưng không đạt được sự thống nhất về nội dung của hợp đồng.
- Lần đàm phán thứ nhất tại thành phố T vào ngày 15 - 16/6/2022, hai bên
đã thống nhất giá trị chuyển nhượng 88.000.000.000đồng không bao gồm
quyền sdụng đất tài sản trên đất tại chi nhánh của Công ty TNHH S tại
Bình Dương (do quyền sử dụng đất tài sản trên đất này Công ty S đã chuyển
nhượng cho Công ty cổ phần Đ2, Bình Dương) nhưng không thống nhất được
về phương thức thanh toán do Công ty Đ đề xuất phương thức thanh toán khác
với phương thức mà hai bên đã đồng thuận tại Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022
(VLD không đồng ý thanh toán 40 tỷ đồng khi kết hợp đồng chuyển nhượng
vốn góp, mà chỉ cung cấp thư bảo lãnh của Ngân hàng). Ngoài ra, còn có một số
nội dung khác. Đối với Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp và việc giảm
vốn điều lệ, Công ty cổ phần Đ yêu cầu Công ty TNHH S điều chỉnh Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giảm vốn điều lệ. Về việc này, hai bên thống
nhất: Công ty TNHH S sẽ thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, giảm vốn điều lthông báo cho Công ty cổ phần Đ biết để
cùng gặp nhau tiếp tục đàm phán hợp đồng; nếu quá thời hạn 05 ngày kể từ ngày
nhận thông báo của Công ty TNHH S Công ty cổ phần Đ không ra tại trụ sở
Công ty TNHH S để tiếp tục đàm phán ký hợp đồng thì được hiểu Công ty cổ
phần Đ không còn nhận chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty TNHH S nữa
sẽ chuyển trả lại số tiền đặt cọc 05 tỷ đồng cho Công ty cổ phần Đ; sau khi
Công ty TNHH S đã chuyển tiền 05 tỷ đồng cho Công ty cổ phần Đ thì hai bên
không còn quyền nghĩa vụ liên quan đến việc chuyển nhượng phần vốn
góp của Công ty TNHH S nữa.
- Lần đàm phán thứ hai tại thành phố T vào ngày 28/6/2022 sau khi Công
ty cổ phần Đ nhận tài liệu của Công ty TNHH S về điều chỉnh Giấy chứng nhận
đăng doanh nghiệp, giảm vốn điều lệ, Công ty cổ phần Đ yêu cầu Công ty
TNHH S phải xuất trình tài liệu kế toán tài chính để chứng minh phần vốn góp
tại cuộc họp. Công ty TNHH S đồng ý với đề nghị của Công ty cổ phần Đ
nhưng do tài liệu tài chính kế toán được lưu tại trụ Công ty ở huyện T nên Công
ty TNHH S đề nghị Công ty Đ đến tại trụ sở Công ty để kiểm tra, xem xét v
các tài liệu này; Công ty cổ phần Đ không đồng ý và tuyên bố kết thúc buổi đàm
phán rồi rời cuộc họp, không biên bản theo đề nghị của Công ty TNHH S.
5
Điều này thể hiện Công ty cổ phần Đ không còn muốn kết hợp đồng nhận
chuyển nhượng vốn góp của Công ty S nữa.
- Trước tình hình trên, trên tinh thần hợp tác tôn trọng lẫn nhau, Công ty
TNHH S đã gửi Công văn số 07/CV-JRD ngày 12/7/2022 thông báo cho Công
ty cổ phần Đ: Công ty TNHH S sẵn sàng tạo điều kiện để Công ty cổ phần Đ
thực hiện việc xem xét, kiểm tra tài liệu kế toán tài chính của Công ty TNHH S,
từ đóđánh giá của riêng mình để quyết định đồng ý hay không đồng ý kết
hợp đồng nhận chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty TNHH S. Nếu Công
ty cổ phần Đ vẫn còn muốn tiếp tục thương vụ này, Công ty TNHH S dành cho
Công ty cổ phần Đ thời gian 07 ngày kể từ ngày 18/7/2022 đCông ty đến tại
trụ sở Công ty TNHH S kiểm tra, xem xét tài liệu kế toán tài chính. Quá thời
hạn trên Công ty cổ phần Đ không đến kiểm tra tài liệu kế toán tài chính
cử người thẩm quyền đến Công ty S để bàn bạc, đàm phán ký kết hợp đồng
thì được coi là đã từ bỏ việc ký kết hợp đồng nhận chuyển nhượng phần vốn góp
của Công ty TNHH S, Công ty cổ phần Đ không còn đối tác của Công ty
TNHH S trong việc chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty N.
Qua tin nhắn zolo điện thoại, ông Huỳnh Xuân Q - Tổng Giám đốc
Công ty cổ phần Đ hẹn lịch làm việc tại trụ sở Công ty TNHH S vào lúc 13
giờ 00 ngày 21/7/2022, sau đó hẹn lại đến 15 giờ nhưng vẫn không có người đến
làm việc; mãi đến 16 giờ 45 phút, ông Q mới gọi điện báo không ra Phú Yên
làm việc được do bị tăng huyết áp hẹn lại đến 09 giờ ngày 22/7/2022 làm
việc. Trước sự việc này, Công ty TNHH S đã lập biên bản về sự vắng mặt của
phía Công ty cổ phần Đ và mời Thừa phát lại đến ghi nhận sự việc.
Sáng ngày 22/7/2022, ông Huỳnh Xuân Q đi cùng ông Nguyễn Văn T (có
tên gọi khác P) đến làm việc với Công ty TNHH S, nhưng không xem xét
về tài liệu kế toán, đề nghị giảm giá chuyển nhượng từ 88 tđồng xuống 50
tỷ đồng lại tiếp tục thay đổi phương thức thanh toán: Công ty cổ phần Đ
không đồng ý chuyển tiền vào tài khoản của Công ty TNHH S - Việt Nam,
mở tài khoản đồng sở hữu của hai bên thực hiện đến đâu thanh toán đến đó.
Công ty không đồng ý với ý kiến nêu trên của Công ty cổ phần Đ. Ông Huỳnh
Xuân Q và ông Nguyễn Văn T một lần nữa tý rời cuộc họp không biên
bản thông báo đã khởi kiện Công ty TNHH S ra Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Yên. Công ty TNHH S tiếp tục mời Thừa phát lại đến ghi nhận sự việc.
Với việc từ bỏ đàm phán tuyên bố khởi kiện Công ty TNHH S ra Tòa
án, chính Công ty cổ phần Đ đã tmình chấm dứt quan hệ hợp tác đàm phán
giữa hai bên để bắt đầu quan hệ tố tụng tại Tòa án. Kể từ thời điểm này, việc
thực hiện Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022, tức việc bàn bạc, đàm phán kết
thúc, không hợp đồng nào được xác lập giữa hai bên, không quyền
nghĩa vụ phát sinh giữa hai bên, ngoại trừ việc Công ty TNHH S tnguyện
chuyển trả lại cho Công ty cổ phần Đ số tiền đặt cọc lẽ ra Công ty bị mất số
6
tiền này cho Công ty TNHH S do đã đưa ra gchuyển nhượng, điều kiện thanh
toán... khác với nội dung đã thống nhất trong Biên bản ghi nhớ.
Sau đó, vào sáng ngày 15/8/2022, ông Huỳnh Xuân Q - Tổng Giám đốc
Công ty cổ phần Đ Công ty TNHH S đã ký Biên bản thỏa thuận chấm dứt
quan hệ chuyển nhượng vốn góp thanh biên bản ghi nhớ đnhận lại tiền
đặt cọc với nội dung:
“Bên A Bên B đã nhiều lần gặp nhau bàn bạc, đàm phán để ký kết hợp
đồng chuyển nhượng phần vốn góp (lần 1 vào các ngày 15, 16/6/2022; lần 2 vào
ngày 28/6/2022; lần 3 vào ngày 22/7/2022) nhưng không thống nhất được do
Bên B đề xuất phương thức thanh toán khác với phương thức hai bên đã
đồng thuận tại Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022 và tại buổi làm việc ngày
22/7/2022, Bên B tiếp tục đưa ra thêm đnghị giảm giá chuyển nhượng; Bên A
không đồng ý.
Do Bên B yêu cầu thay đổi điều kiện so với Biên bản ghi nhớ đã ngày
24/5/2022 nên Bên A Bên B không thống nhất được nội dung của hợp đồng
chuyển nhượng phần vốn góp. Nay hai bên đồng ý thanh lý Biên bản ghi nhớ
phụ lục biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022, chấm dứt quan hệ chuyển nhượng vốn
góp giữa hai bên, với nội dung cụ thể:
1. Trong số tiền 5.000.000.000đồng (năm tỷ đồng chẵn) Bên B đã đặt
cọc, Bên B nhận lại số tiền 3.000.000.000đồng (ba tỷ đồng chẵn), còn lại
2.000.000.000đồng (hai tỷ đồng chẵn) Bên B bù đắp những chi phí, thiệt hại của
Bên A do không ký được Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp vì lỗi của Bên B.
2. Bên A chuyển trả số tiền 03 tđồng vào tài khoản của Bên B: Công ty
Đ, stài khoản: 2107898 tại ngân hàng A. Thời hạn trả lại tiền: ngay sau khi
Bên A Bên B vào Biên bản này, Bên A nghĩa vụ chuyển trả đủ stiền
03 tỷ đồng cho Bên B.
3. Sau khi Bên B nhận đủ số tiền 03 tỷ đồng, hai bên chấm dứt quan hệ
chuyển nhượng vốn góp, Công ty Đ không còn đối tác của Công ty S trong
việc chuyển nhượng vốn góp của Công ty S nữa. Công ty Đ trách nhiệm rút
đơn kiện đã gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên cam kết không bất cứ
khiếu nại, khởi kiện gì đối với Công ty S; mọi sự khiếu nại, khởi kiện đều không
còn giá trị.
4. Hai bên không còn quyền nghĩa vụ liên quan đến việc chuyển
nhượng vốn góp tại Công ty S. Sau ngày hai bên biên bản Biên bản thỏa
thuận chấm dứt quan hệ chuyển nhượng vốn góp thanh Biên bản ghi nhớ
ngày 24/5/2022, Công ty S đã trả lại số tiền 05 tỷ đồng cho Công ty Đ (kèm theo
tài liệu)”.
Thứ hai: việc Công ty cổ phần Đ thay đổi người đại diện theo pháp luật
việc nội bộ của Công ty. Về phía Công ty TNHH S không nhận được bất cứ
thông báo nào của Công ty cổ phần Đ liên quan đến việc thay đổi người đại diện
7
theo pháp luật của Công ty cho đến khi Biên bản thỏa thuận chấm dứt quan
hệ chuyển nhượng vốn góp và thanh lý Biên bản ghi nhớ với Công ty cổ phần Đ
vào sáng ngày 15/8/2022. Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp
là Sở Kế hoạch Đầu thành phố Hồ Chí Minh cũng không bất cứ thông
báo nào về sự thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty. Vì vậy, không
bất cứ do để Công ty S không văn bản thỏa thuận với người đại diện
theo pháp luật của Công ty ông Huỳnh Xuân Q, Tổng Giám đốc Công ty -
người đã kết Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022 sau đó tiếp tục đàm phán
với Công ty S về nội dung hợp đồng chuyển nhượng vốn góp. Hơn nữa, chính
ông Huỳnh Xuân Q người đại diện pháp luật của Công ty đến làm việc với
Công ty S vào ngày 15/8/2022 cũng không thông báo hay cung cấp thông tin
về việc thay đổi người đại diện pháp luật. Do đó, việc thay đổi người đại diện
theo pháp luật của Công ty công việc nội bộ của Công ty ng ty không
thông báo công khai, minh bạch và kịp thời không ảnh ởng đến gtrị hiệu
lực của văn bản do người đại diện theo pháp luật đã ký, mà cụ thtrong trường
hợp này Biên bản thỏa thuận chấm dứt quan hệ chuyển nhượng vốn góp
thanh Biên bản ghi nhớ, lập ngày 15/8/2022. Trong nội bộ Công ty tự giải
quyết trách nhiệm những người liên quan đối với hậu quả xảy ra (nếu có).
Thứ ba: về giá trị pháp lý của Biên bản ghi nhớ: giữa Công ty TNHH S
Công ty cổ phần Đ chỉ mới Biên bản ghi nhớ để ghi nhận hai bên đã bàn
bạc về việc chuyển nhượng vốn góp. Sau đó, hai bên tiếp tục đàm phán để nếu
đạt được sự thống nhất về nội dung các điều khoản của hợp đồng thì sẽ hợp
đồng. Thế nhưng, qua quá trình đàm phán hai bên không thống nhất được nên
không được hợp đồng chuyển nhượng vốn góp, nghĩa không tồn tại hợp
đồng quy định quyền nghĩa vụ các bên liên quan đến việc chuyển nhượng
vốn góp. Biên bản ghi nhớ không phải văn bản quy định quyền nghĩa vụ
của các bên nên việc yêu cầu tiếp tục thực hiện Biên bản ghi nhớ không
căn cứ.
Mặt khác, qua phần trình bày phần thứ nhất đã thể hiện kể từ ngày
22/7/2022, giữa Công ty TNHH S Công ty cổ phần Đ đã chấm dứt quan hệ
chuyển nhượng vốn góp. Thực tế, Công ty TNHH S đã chuyển trả toàn bộ số
tiền đặt cọc cho Công ty cổ phần Đ và đã nhận đủ số tiền này. Vì vậy, Công ty S
hoàn toàn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đ đề
nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày
21/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Dân
sự năm 2015, Điều 328, Điều 390, Điều 391 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
8
Không chấp nhận toàn bnội dung khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ
phần Đ về việc yêu cầu hủy bỏ Biên bản thỏa thuận ngày 15/8/2022 yêu cầu
tiếp tục thực hiện Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022 với Công ty TNHH S.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn quyết định về án phí thông báo quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/10/2023, nguyên đơn Công ty cổ phần Đ kháng cáo toàn bộ bản
án thẩm. Yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH S tiếp tục thực hiện Biên bản
ghi nhớ ngày 24/5/2022 huỷ Biên bản thoả thuận do ông Huỳnh Xuân Q
ngày 15/8/2022.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn - ông Nguyễn Văn T giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật Bùi
Mạnh H cho rằng: tháng 7/2022, ông Huỳnh Xuân Q đã chuyển nhượng toàn bộ
vốn góp tại Công ty cổ phần Đ cho người khác, ông Q không còn cổ phần nên
không quyền định đoạt hoạt động của Công ty. Đồng thời, ngày 08/8/2022,
Công ty đã thay đổi người đại diện theo pháp luật. Ông Q không còn vốn góp,
không còn cách đại diện nhưng lại định đoạt để lại cho Công ty S số tiền 02
tỷ đồng là trái pháp luật, gây thiệt hại cho Công ty Đ. Ông Q dùng con dấu cũ để
đóng dấu không đúng. Đối với số tiền 01 tỷ đồng, ông Q thừa nhận là đã rút
chuyển vào tài khoản nhân ông Q để sử dụng riêng. Như vậy, giao dịch dân
sự do ông Q thực hiện ngày 15/8/2022 hiệu do ông Q không năng lực
pháp luật dân sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 của Bộ luật Dân sự
nên giao dịch này không có hiệu lực. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng, về phần
thủ tục tố tụng giai đoạn xét xử phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của pháp
luật. Về nội dung: sau khi ký Biên bản ghi nhớ, hai bên đã tiến hành gặp nhau,
trao đổi, đàm phán phương thức chuyển nhượng, giá chuyển nhượng nhưng
không đạt được thỏa thuận là lỗi thuộc về nguyên đơn nên yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn tiếp tục thực hiện Biên bản ghi nhớ không sở chấp nhận.
Việc hai bên thỏa thuận biên bản thanh ngày 15/8/2022 lợi cho
nguyên đơn nên yêu cầu hủy Biên bản thanh của nguyên đơn là không căn
cứ. Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật ông Q không biết và không được
Công ty thông báo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn Công ty cổ phần Đ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:
9
[1] Ngày 24/5/2022, Công ty TNHH S Công ty cổ phần Đ ký Biên bản
ghi nhớ về việc chuyển nhượng vốn góp. Nội dung chuyển nhượng: Công ty cổ
phần Đ nhận chuyển nhượng 100% vốn góp của Công ty TNHH S, giá chuyển
nhượng 88 tđồng. Công ty cổ phần Đ đã chuyển cho Công ty TNHH S số
tiền cọc 05 tỷ đồng. Với do không thống nhất được nội dung của việc chuyển
nhượng vốn góp nên ngày 15/8/2022 giữa ông Huỳnh Xuân Q và Công ty
TNHH S Biên bản thoả thuận chấm dứt quan hệ chuyển nhượng vốn góp
thanh biên bản ghi nhớ. Xét tính hợp pháp của Biên bản thoả thuận ngày
15/8/2022 nêu trên thì thấy: tại Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông số 30/BBH
ngày 08/8/2022 của Công ty cổ phần Đ do ông Huỳnh Xuân Q làm chủ toạ, cuộc
họp đã thống nhất thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty từ ông
Huỳnh Xuân Q (chức danh: Tổng Giám đốc) sang ông Nguyễn Văn T (chức
danh: Giám đốc). Cùng ngày, ông Q thay mặt Đại hội đồng cổ đông Quyết
định s29/QĐ thay đổi từ ông Huỳnh Xuân Q (chức danh: Tổng Giám đốc)
sang đại diện theo pháp luật mới ông Nguyễn Văn T (chức danh: Giám đốc).
Quyết định này hiệu lực kể từ ngày ký (08/8/2022), đồng thời ông Q đã
Thông báo s28/TB ngày 08/8/2022 về việc thay đổi người đại diện theo pháp
luật gửi Phòng Đăng kinh doanh Thành phố Đ1. Ngày 12/8/2022, Phòng
Đăng kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch Đầu Thành phố H nhận hồ
ngày 15/8/2022 cấp Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp cho Công ty cổ
phần Đ. Như vậy, ktừ ngày 08/8/2022 ông Q biết người đại diện theo pháp
luật của Công ty cổ phần Đ là ông T chứ không phải còn là ông Q. Mặc dù án sơ
thẩm cũng khẳng định ngày 15/8/2022 ông Q không còn đại diện theo pháp
luật của Công ty cổ phần Đ, thời điểm này người đại diện là ông T, nhưng án sơ
thẩm lại nhận định rằng: Công ty Đ thay đổi người đại diện theo pháp luật
nhưng không thông báo công khai, minh bạch kịp thời đến các đối tác, nhận
định này của án sơ thẩm không đúng. Bởi vì: việc Công ty cổ phần Đ thay đổi
người đại diện theo pháp luật được thực hiện công khai, minh bạch, hồ được
tiếp nhận trên Hệ thống thông tin quốc gia vđăng doanh nghiệp được
đăng công bố trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
[2] Hơn nữa, việc ông Q đã đóng dấu vào Biên bản thoả thuận chấm
dứt quan hệ chuyển nhượng vốn góp và thanh lý biên bản ghi nhớ ngày
15/8/2022 bằng con dấu hết giá trị sử dụng của Công ty cổ phần Đ địa chỉ trụ sở
chính tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là trái quy định của pháp luật. Xét
Toà án cấp thẩm tuyên xử không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của
nguyên đơn không đúng pháp luật. việc ông Q Biên bản thoả thuận
chấm dứt quan hệ chuyển nhượng vốn góp và thanh biên bản ghi nhớ ngày
15/8/2022 thì thời điểm này ông Q không còn cách người đại diện theo
pháp luật của Công ty cổ phần Đ nên Biên bản ngày 15/8/2022 bị hiệu theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do Biên
bản này bị vô hiệu nên các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu theo quy định tại
Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Công ty cổ phần Đ phải hoàn trả lại 03
10
tỷ đồng Công ty TNHH S đã chuyển vào tài khoản của Công ty cổ phần Đ
ngày 15/8/2022.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng nội dung
kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ yêu cầu Toà án buộc Công ty S
tiếp tục thực hiện Biên bản ghi nhớ ngày 24/5/2022 và huỷ Biên bản thoả thuận
do ông Huỳnh Xuân Q ngày 15/8/2022 sở chấp nhận. Do đó, Hội
đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm.
[4] Do nội dung kháng cáo được chấp nhận nên Công ty cổ phần Đ không
phải chịu án phí kinh doanh thương mại thẩm án phí kinh doanh thương
mại phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Công ty TNHH S
phải chịu 3.000.000đồng án phí kinh doanh thương mại thẩm. Hoàn trả lại
cho Công ty cổ phần Đ 3.000.000đồng tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm và 2.000.000đồng tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc
thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự,
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ, sửa toàn bộ Bản
án kinh doanh thương mại thẩm số 02/2023/KDTM-ST ngày 21/9/2023 của
Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015; đim a khoản 1 Điều 117, Điều 122, Điều 131 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần
Đ.
1.1. Tuyên bố hiệu Biên bản thoả thuận chấm dứt quan hệ chuyển
nhượng vốn góp và thanh lý biên bản ghi nhớ” được ký kết giữa Công ty TNHH
S với ông Huỳnh Xuân Q vào ngày 15/8/2022.
1.2. Không huỷ bỏ “Biên bản ghi nhớ” được kết giữa Công ty TNHH S
với Công ty cổ phần Đ vào ngày 24/5/2022.
1.3. Buộc Công ty cổ phần Đ phải hoàn trả lại cho Công ty TNHH S số tiền
3.000.000.000đồng (ba tỷ đồng).
2. Về án phí:
- ng ty TNHH S phải chịu 3.000.000đồng tiền án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm.
11
- Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Đ số tiền 3.000.000đồng tạm ứng án phí
kinh doanh thương mại thẩm số tiền 2.000.000đồng tạm ứng án phí phúc
thẩm tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000091 ngày
20/12/2022, số 0003638 ngày 16/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú
Yên.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án mà người
phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Phú Yên;
- VKSND tỉnh Phú Yên;
- Cục THADS tỉnh Phú Yên;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, P HCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trần Thị Kim Liên
Tải về
Bản án số 09/2024/KDTM-PT Bản án số 09/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2024/KDTM-PT Bản án số 09/2024/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất