Bản án số 08/2026/HC-PT ngày 17/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 08/2026/HC-PT ngày 17/09/2026 của TAND TP. Hải Phòng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 08/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Khiếu kiện QĐ hành chính, hành vi hành chính về quản lý
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 08/2026/HC-PT
Ngày 17-9-2026
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Yển
Ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Đặng Thị Đ -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 18/2026/HC-PT ngày 18 tháng
8 năm 2026 về việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Do Bản án sơ thẩm số 02/2026/HC-ST ngày 23 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 11/2026/QĐ-PT ngày 25 tháng 8 năm
2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 9 năm 2026,
giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Đào Thị Thu T, sinh năm 1990; số căn cước công dân
************ cấp ngày 12/8/2021; địa chỉ: Thôn L, xã V, thành phố Hải Phòng, có
mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn Xuân
L, Văn phòng L2, Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
- Người bị kiện: Chủ tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở:
Thôn B P, xã V, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện: Ông Phạm Văn K, Phó Chủ
2
tịch UBND xã V (theo Văn bản uỷ quyền số 491/QĐ-UQ ngày 10/4/2026 của Chủ
tịch UBND xã V, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Bùi Thành
L1, Chuyên viên Phòng Kinh tế xã V, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đào Việt H, sinh năm 1970; số căn cước công dân ************ cấp
ngày 24/4/2023; địa chỉ: Thôn H K, xã V, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
+ Chị Đào Thị Thu H1, sinh năm 1997; số căn cước công dân ************
cấp ngày 30/8/2021; địa chỉ: Thôn H K, xã V, thành phố Hải Phòng, có mặt.
+ Anh Đào Văn D, sinh năm 1992; số căn cước công dân ************ cấp
ngày 12/8/2021; địa chỉ: Thôn H K, xã V, thành phố Hải Phòng, có mặt.
+ Anh Đào Văn D1, sinh năm 1989; số căn cước công dân ************ cấp
ngày 20/3/2023; địa chỉ: Thôn H K, xã V, thành phố Hải Phòng, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà
Đào Thị Thu T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn L, xã V, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nội dung trình bày tại
phiên tòa, người khởi kiện trình bày:
Bố mẹ chị T là ông Đào Văn H2, sinh năm 1970 và bà Vũ Thị Đ1, sinh năm
1971 (đã chết ngày 16/5/2015) kết hôn với nhau khoảng năm 1989 và sinh được 3
người con gồm: Chị Đào Thị Thu T, sinh năm 1990; anh Đào Văn D, sinh năm 1992
và chị Đào Thị Thu H1, sinh năm 1997. Ngoài ra bố mẹ chị T không có con riêng,
con nuôi nào khác. Sau khi kết hôn bố mẹ chị T sống cùng với ông bà nội là cụ Đào
Văn S và cụ Trịnh Thị T1 tại thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là
Thôn K, xã V, thành phố Hải Phòng). Khoảng năm 1990 cụ Đào Văn S và cụ Trịnh
Thị T1 xuống Lâm Động ở, ông Đào Văn H2 và bà Vũ Thị Đ1 vẫn ở trên diện tích
đất trên. Khoảng năm 2000, cụ S và cụ T1 chuyển nhượng diện tích đất tại K cho
người khác, cụ thể chuyển cho ai chị T không biết. Do có mâu thuẫn nên bố mẹ chị
T là ông H2 và bà Đ1 sống ly thân. Khi ly thân với bố chị, mẹ chị T đến thôn I xã L,
huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Thôn L, xã V, thành phố Hải Phòng) để mua
đất làm nhà ở. Mẹ chị T mua đất của nhiều người, tổng diện tích đất theo Mảnh trích
đo địa chính số TĐ 25-2024, tỷ lệ 1/1000 do Công ty Cổ phần T2 lập, được Sở T3
duyệt ngày 29/01/2024 là 1.041m
2
đất tại thửa số 246 tờ bản đồ số 01. Do mẹ chị T
đã chết nên hiện nay chị T chỉ còn lưu giữ được giấy chuyển nhượng đất của bà Đào
Thị H3 chuyển nhượng cho mẹ chị T 192m
2
vào năm 2003; bà Nguyễn Thị H4,
chuyển nhượng cho mẹ chị T vào ngày 18/5/1993 diện tích 432m
2
; ông Vũ Đình V
3
chuyển nhượng cho mẹ chị T 72m2 vào năm nào trong giấy chuyển nhượng đất
không ghi. Sau khi mua đất, khoảng năm 2001 mẹ chị T xây dựng căn nhà cấp 4
tường gạch papanh diện tích khoảng 49,5m
2
gồm cả diện tích bếp. Sau khi xây nhà,
gia đình chị T ăn ở sinh sống ổn định trên diện tích đó.
Năm 2008, chị T đi lấy chồng và ở cùng gia đình nhà chồng. Năm 2015 mẹ
chị T chết không để lại di chúc. Năm 2016, vợ chồng chị T và các con chuyển về
diện tích đất của bố mẹ chị T để ăn ở sinh hoạt. Năm 2017, em trai chị T là anh Đào
Văn D lấy vợ và ra ở riêng, bố chị T là ông Đào Văn H2 và em gái chị T là chị Đào
Thị Thu H1 cũng ra ở cùng anh Đào Văn D. Năm 2019, vợ chồng chị T xây 01 căn
nhà cấp 4 diện tích 240m
2
, trị giá hơn 2 tỷ đồng.
Từ khi sử dụng đất đến nay, gia đình chị T không tranh chấp, mua bán, chuyển
nhượng với ai và cũng không bị cơ quan nhà nước xử lý vi phạm liên quan đến việc
sử dụng đất.
Quá trình thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang P xã L (nay
là xã V), Chủ tịch UBND xã V thu hồi toàn bộ 1.041m2 đất hiện nay gia đình chị T
đang quản lý sử dụng (là tài sản chung mẹ chị T để lại cho bố chị T và 3 anh chị em
chị T).
Việc Chủ tịch UBND xã V thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường về
đất, công trình tài sản trên đất của gia đình chị T không đúng, cụ thể:
- Tổng diện tích đất thực tế gia đình chị T sử dụng là 1.041m
2
tuy nhiên Chủ
tịch UBND xã xác định gia đình chị T chỉ được bồi thường 804m
2
đất còn lại 237m
2
xác định là đất do UBND xã quản lý là không đúng. Chị T đề nghị Chủ tịch UBND
xã V bồi thường đủ cho gia đình chị theo diện tích đất thực tế 1.041m
2
.
- Về giá bồi thường: Chủ tịch UBND xã V bồi thường với giá 72.00 đồng/m
2
là quá thấp, không đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất. Đề nghị tính giá
472.000 đồng/m
2
trên tổng diện tích đất 1.041m
2
.
- Về các khoản hỗ trợ: Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm;
hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ ổn định cuộc sống: Đề nghị hỗ trợ theo
đúng quy định của pháp luật. Đối với khoản hỗ trợ nhân khẩu gia đình chị T chưa
được hỗ trợ, đề nghị Chủ tịch UBND xã V hỗ trợ đầy đủ theo đúng quy định.
- Về cây cối hoa màu: Diện tích đất 1.041m
2
gia đình chị T sử dụng một phần
sử dụng để làm nhà ở, phần đất còn lại do hàng năm nước xít chảy xuống từ trên núi
nên không thể trồng cấy được, gia đình chị đã trồng cây ăn quả và cây lâu năm để
tạo nguồn thu nhập nuôi sống gia đình. Trong phương án bồi thường, cây cối hoa
màu trên đất (mít, na, chuối…) gia đình chị không được nhà nước bồi thường nhưng
một số gia đình khác có vị trí cạnh nhà chị lại được bồi thường (như gia đình ông N,
4
gia đình anh A, gia đình ông M…). Vì vậy, đề nghị Chủ tịch UBND xã V xem xét,
bồi thường, hỗ trợ về cây cối hoà màu trên đất 100% cho gia đình chị T theo đúng
quy định.
- Về vật kiến trúc: Thực tế gia đình chị T đã sử dụng công trình trên đất là 7
năm nên đề nghị bồi thường cụ thể: 240m
2
nhà x 8.689.277 đồng = 2.085.425.480
đồng. Phần diện tích nằm ngoài diện tích 200m
2
cũng tính theo giá bồi thường nêu
trên.
- Về hỗ trợ di chuyển chỗ ở: Phương án ghi hộ gia đình được giao 01 lô đất
có thu tiền sử dụng đất nhưng không hỗ trợ tiền di chuyển. Đề nghị Chủ tịch UBND
xã V hỗ trợ gia đình chị 12.000.000 đồng tiền di chuyển.
Chị T yêu cầu hủy:
- Quyết định số 602a/QĐ-UBND ngày 05/9/2025 về việc thu hồi đất của Chủ
tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng.
- Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày 28/8/2025 kèm theo Phương án bồi
thường số 17/PA-BQLDA của Chủ tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch UBND xã V trình bày:
Căn cứ Quyết định số 4138/QĐ-UBND ngày 01/12/2023 của UBND thành
phố H về chấp thuận Công ty Cổ phần M1 là nhà đầu tư thực hiện Dự án đầu tư xây
dựng công viên nghĩa trang P, huyện T. Ngày 12/7/2024, UBND huyện T ban hành
các Quyết định số 546/QĐ-UBND và Quyết định số 594/QĐ-UBND thông báo thu
hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang P, tại xã L, huyện
T. Ủy ban nhân dân xã V phối hợp Ban Q thực hiện công tác điều tra, kiểm đếm và
lập phương án bồi thường, hỗ trợ về đất đai, vật kiến trúc, cây cối hoa màu. Ngày
28/8/2025, Ủy ban nhân dân xã V ban hành Quyết định số 583/QĐ-UBND về việc
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ theo khoản 4, Điều 87, Luật đất đai 2024.
Ngày 05/9/2025, Ủy ban nhân dân xã V ban hành Quyết định số 602a/QĐ-UBND
về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang P, xã
V theo khoản 3, Điều 80 và khoản 6, Điều 91 Luật đất đai 2024. Ủy ban nhân dân
xã V đã thực hiện việc thu hồi đất đúng các trình tự, thủ tục về thu hồi đất theo Điều
87, Luật đất đai 2024. Việc áp dụng cơ chế chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất đảm bảo đúng quy định để thực hiện Dự án đầu tư xây
dựng Công viên nghĩa trang P, xã V do đó về yêu cầu hủy Quyết định số 602a/QĐ-
UBND ngày 05/9/2025 của Chủ tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng về việc thu
hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang P tại xã V, thành
phố Hải Phòng là không có căn cứ.
5
Về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng đất: Theo sổ mục kê năm 1985 và
bản đồ giải thửa 299 thể hiện thửa đất số 439, tờ bản đồ số 01, diện tích 539m², loại
đất "IL", đăng ký chủ sử dụng là đội 9; thửa đất số 440, tờ bản đồ số 01, diện tích
804m², loại đất "IL", đăng ký chủ sử dụng là đội 9; thửa đất số 441, tờ bản đồ số 01,
diện tích 08m², loại đất "IL", đăng ký chủ sử dụng là đội 9; thửa đất số 397, tờ bản
đồ số 01, diện tích 390m², loại đất "IL", đăng ký chủ sử dụng là Trương Văn N1.
Thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa, hộ bà Vũ Thị Đ1 (mẹ đẻ của bà Đào Thị
Thu T) được giao đất tại một phần các thửa đất số 439+440+441+397, tờ bản đồ số
01, diện tích 804,0m²; đối với phần thửa đất còn lại không giao cho hộ dân trực tiếp
sản xuất trên địa bàn xã. Theo Mảnh trích đo địa chính số TĐ 25-2024, tỷ lệ 1/1000
do Công ty Cổ phần T2 lập, được Sở T3 duyệt ngày 29/01/2024 thì hộ bà Vũ Thị Đ1
sử dụng diện tích 1.041,0m² đất tại thửa số 246 tờ bản đồ số 01. Căn cứ quy định tại
khoản 2 Điều 10 Luật đất đai năm 2024, xác định loại đất hộ bà Vũ Thị Đ1 đang sử
dụng trong chỉ giới thu hồi thực Dự án đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang P, tại
xã V (thuộc thửa số 246 tờ bản đồ số 01 Mảnh trích đi địa chính tỷ lệ 1/1000 do
Công ty Cổ phần T2 lập, được Sở T3 duyệt ngày 29/01/2024) được xác định: Diện
tích 804,0m² là đất giao theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/01/1994 của
UBND thành phố H; diện tích 237,0m² là đất do Ủy ban nhân dân xã V quản lý, hộ
bà Vũ Thị Đ1 sử dụng.
- Về thời điểm xây dựng công trình: Căn cứ hội nghị quân dân chính do Ủy
ban nhân dân xã L ngày 30/7/2024 thể hiện, hộ bà Vũ Thị Đ1 sử dụng đất vào mục
đích làm nhà và công trình phục vụ ăn ở từ năm 2013. Hộ bà Vũ Thị Đ1 không cung
cấp được thêm giấy tờ nào khác chứng minh về thời điểm ăn ở, xây dựng công trình
trên thửa đất bị thu hồi. Căn cứ vào các hồ sơ tài liệu nêu trên, xác định hộ hộ bà Vũ
Thị Đ1 xây dựng công trình trên đất từ ngày 01/07/2004 đến trước ngày 01/07/2014.
Như vậy, kiến nghị của hộ bà Vũ Thị Đ1 về việc xem xét lại diện tích đất đai gia
đình đang sử dụng là không có cơ sở giải quyết.
- Đề nghị bồi thường toàn bộ công trình xây dựng ngoài 200m²: Hộ bà Vũ Thị
Đ1 xây dựng nhà và công trình trên đất do Ủy ban nhân dân xã V quản lý là trái quy
định của pháp luật nên thuộc trường hợp khi thu hồi đất không được bồi thường tài
sản gắn liền với đất quy định tại Điều 105 Luật đất đai 2024. Tuy nhiên, để tháo gỡ
khó khăn cho các hộ dân có tài sản gắn liền với đất bị thu hồi thực hiện Dự án, Ủy
ban nhân dân thành phố T đã báo cáo, đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố xem xét
hỗ trợ khác theo khoản 2 Điều 108 Luật đất đai năm 2024. Trên cơ sở đề xuất của
Ủy ban nhân dân thành phố T, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Công văn số
1924/VP-ĐC4 ngày 17/3/2025 về việc áp dụng hỗ trợ khác khi Nhà nước thu hồi đất
thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang P tại xã L, thành phố T.
Theo đó, hộ bà Vũ Thị Đ1 được áp dụng theo quy định tại điểm a, Mục 1 của Công
6
văn số 1924/VP-ĐC4 ngày 17/3/2025 như sau: “Trường hợp sử dụng đất nông
nghiệp giao theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/01/1994 của Uỷ ban nhân
dân thành phố: Về công trình, vật kiến trúc sử dụng từ ngày 01/07/2004 đến trước
ngày 01/07/2014 hỗ trợ bằng 30% mức giá đối với diện tích không quá 200m² theo
quyết định của Uỷ ban nhân dân thành phố về đơn giá vật kiến trúc tại thời điểm thu
hồi đất”. Như vậy, kiến nghị của hộ bà Vũ Thị Đ1 đề nghị bồi thường toàn bộ công
trình xây dựng ngoài 200m² là không có cơ sở xem xét, giải quyết.
- Về đơn giá vật kiến trúc: Áp dụng tại Quyết định số 3931/QĐ-UBND ngày
25/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố H về việc ban hành đơn giá bồi thường
thiệt hại về nhà, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất để làm căn cứ tính bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Về đơn giá cây cối hoa màu: Áp dụng tại Quyết định số 3596/QĐ-UBND
ngày 11/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố H về việc Ban hành đơn giá bồi
thường thiệt hại về cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải
Phòng; Quyết định số 4595/QĐ-UBND ngày 06/12/2024 của Ủy ban nhân dân thành
phố H về việc Ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng khi Nhà nước thu
hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng (bổ sung lần 1).
Như vậy, ý kiến của bà Đào Thị Thu T về đơn giá bồi thường, hỗ trợ về nhà,
cây cối hoa màu thấp là không có cơ sở.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Thống nhất với yêu
cầu khởi kiện của chị Đào Thị Thu T và thống nhất uỷ quyền cho chị Đào Thị Thu
T tham gia tố tụng, quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án cho
đến khi vụ án được giải quyết xong. Mọi ý kiến, quan điểm của chị Đào Thị Thu T
cũng là ý kiến của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2026/HC-ST ngày 23 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng đã tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Thu T về việc yêu cầu hủy các Quyết
định hành chính sau:
- Quyết định số 602a/QĐ-UBND ngày 05/9/2025 về việc thu hồi đất của Chủ
tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng.
- Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày 28/8/2025 kèm theo Phương án bồi
thường số 17/PA-BQLDA của Chủ tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 30/6/2026, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải
Phòng nhận được đơn kháng cáo của bà Đào Thị Thu T, kháng cáo toàn bộ hành
chính sơ thẩm số 02/2026/HC-ST ngày 23 tháng 6 năm 2026, đề nghị Tòa án nhân
7
dân thành phố Hải Phòng sửa bản án sơ thẩm theo hướng hủy Quyết định số
602a/QĐ-UBND ngày 05/9/2025 của Chủ tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng
vè hủy Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày 28/8/2025; yêu cầu UBND xã V áp dụng
đúng các quy định của pháp luật để xem xét tính toán lại Phương án bồi thường và
hỗ trợ, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho gia đình bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện giữ nguyên kháng cáo, người khởi kiện và người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện trình bày: Diện tích đất 804m
2
đất
nông nghiệp được bồi thường là 72.000 đồng/m
2
đất là không đúng. Theo Công văn
số 1395/UBND-KT ngày 19/12/2025 của UBND xã V có nội dung “… diện tích
804m
2
vào mục đích làm nhà”. Với nội dung Như vậy, diện tích đất 804m
2
Nhà nước
giao cho bà Vũ Thị Đ1 thuộc loại đất ở. UBND xã L (nay là UBND xã V) thu thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất gia đình bà T đang sử dụng. Về diện
tích 237m
2
đất còn lại là đất nông nghiệp bà Đ1 nhận chuyển nhượng. Gia đình bà
T đã sử dụng ổn định được 23 năm, không có tranh chấp với bất kỳ ai. Về nhà ở và
các công trình khác trên đất, gia đình bà T đã bắt đầu xây dựng từ trước năm 2004,
xây mới năm 2013 và sửa lại năm 2019. Nay khi thu hồi UBND xác định việc sử
dụng đất nông nghiệp và xây nhà trên đất của nhà bà T là sai. Do đó cần bồi thường
100% giá trị tài sản trên đất theo quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật đất đai 2024.
Bên cạnh đó đó giá đất ở để bồi thường khi thu hồi quá thấp, không phù hợp với giá
đất trên thị trường hiện nay. Căn cứ theo Quyết định 22/2022/QĐ-UBND ngày
28/4/2022 của UBND thành phố H thị giá đất ở các khu vực còn lại vị trí 1, xã L là
450.000 đồng/m
2
. Căn cứ Quyết định 11151/QĐ-UBND ngày 15/11/2024 của
UBND huyện T (cũ) về phê duyệt giá đất ở các khu vực còn lại, xã L là 1.090.000
đồng/m
2
.
Về vấn đề bồi thường cây cối hoa màu trên đất, bà T đề nghị Chủ tịch UBND
xã V xem xét bồi thường đối với 100% cây trồng trên diện tích đất 1041m² theo quy
định tại Điều 103 Luật Đất đai 2024.
Về các khoản hỗ trợ khác: Hỗ trợ ổn định đời sống: Gia đình bà T có 4 khẩu,
giá trung bình ở địa phương theo như UBND xã V xác định tại các buổi làm việc là
14.5000 đồng/kg. Như vậy số tiền tương đương với số gạo gia đình bà T được nhận
là 24 tháng x 4 khẩu x 30kg gạo/tháng x 14.500 đồng/kg gạo = 41.760.000 đồng.
766 cây trồng các loại bồi thường 100% là 63.044.000 đồng.
Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm: Được tính bằng 05 lần giá
đất nông nghiệp cùng loại, cùng vị trí đối với toàn bộ diện tích 1041m² đất nông
nghiệp bị thu hồi, khoản này chưa được tính.
8
Hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh: UBND xã V chỉ hỗ trợ ổn định sản xuất,
kinh doanh đối với diện tích đất 181,4m² cho gia đình bà T, trong khi, diện tích
237m² là đất nông nghiệp bị thu hồi. Việc UBND xã V hỗ trợ như vậy là không đúng
quy định của pháp luật.
Bồi thường chi phí di chuyển tài sản: Gia đình bà T bị thu hồi toàn bộ diện
tích đất ở 804m² và có tài sản trên đất là nhà ở, các vật kiến trúc khác nhưng không
được bồi thường chi phí di chuyển tài sản. Theo quy định được bồi thường
10.000.000 đồng/người sử dụng đất. Gia đình bà T có 4 người × 10.000.000
đồng/người = 40.000.000 đồng.
- Người bị kiện trình bày: Diện tích đất của gia đình bà T bị thu hồi 1041m
2
;
gia đình được giao theo Quyết định 03 là 804m
2
là đất nông nghiệp. Đối với diện
tích đất 237m
2
: Thì đất là do UBND xã quản lý, gia đình bà Đ1 không nộp hay kê
khai thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với diện tích đất này. Theo hộ khẩu thường trú
thì gia đình bà T vào thời điểm tháng 10/2024 là đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn
A xã L. Tuy nhiên, địa phương đã xem xét hết các chính sách hỗ trợ khác cho hộ gia
đình bà T để lập phương án bồi thường. Đối với các công trình xây dựng sau
01/7/2014 thì sẽ không được bồi thường. Bà T cho rằng cần phải bồi thường 100%
cây trồng trên đất, tuy nhiên đất bà T được giao là đất trồng cây hằng năm, bà T
trồng cây lâu năm nên những cây này không được bồi thường là đúng theo quy định
của pháp luật.
Về hỗ trợ ổn định đời sống: Gia đình bà Đ1 không phải trực tiếp được giao
đất nông nghiệp mà nhận chuyển nhượng từ người khác. Trước đây bà Đ1 cư trú ở
xã K. Do là đất nhận chuyển nhượng lại, bản thân bà T, bà Đ1 không có hộ khẩu địa
phương nên căn cứ theo khoản 1 Điều 104; điểm e khoản 1 Điều 108; khoản 3 Điều
105; khoản 1 Điều 109 Luật Đất đai 2024; khoản 1 Điều 22 Nghị định 88/2024/NĐ-
CP; Điều 2 Nghị định 226/2025/NĐ-CP, hộ bà T không đủ điều kiện hỗ trợ các chi
phí bồi thường di chuyển tài sản, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề.
Vị trí diện tích đất bà Đ1 là đất nông nghiệp nên chỉ bồi thường theo đơn giá
72.000/m
2
là đúng theo Quyết định 11151/QĐ-UBND ngày 15/11/2024 của UBND
huyện T về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu
hồi để thực hiện Dự án Công viên nghĩa trang P.
Do gia đình bà T xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp nên không được bồi
thường. Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi cho gia đình bà T, UBND xã V cũng đã
xây dựng phương án hỗ trợ vật kiến trúc trên đất cho gia đình bà T theo Công văn
1924 của UBND thành phố H, hỗ trợ cấp 01 suất tái định cư giao đất có thu tiền sử
dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
9
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy
định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của
Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật
Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo của người khởi kiện không được chấp nhận nên
người kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số
602a/QĐ-UBND ngày 05/9/2025 về việc thu hồi đất và Quyết định số 583/QĐ-
UBND ngày 28/8/2025 kèm theo Phương án bồi thường số 17/PA-BQLDA của Chủ
tịch UBND xã V, thành phố Hải Phòng thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công viên
nghĩa trang P tại xã V, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 31 Luật Tố tụng
hành chính, khiếu kiện trên của người khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng. Sau khi xét xử sơ thẩm, người khởi kiện
kháng cáo. Xét kháng cáo của người khởi kiện là trong thời hạn quy định của pháp
luật, nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xem xét giải quyết theo thủ tục phúc
thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà người bị kiện vắng mặt; người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đào Việt Hùng vắng mặt. Xét, các đương sự
được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành
chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên
- Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện:
[3] Về thẩm quyền và trình tự thủ tục ban hành các quyết định hành chính:
Quyết định số 602a/QĐ-UBND ngày 05/9/2025 về việc thu hồi đất của Chủ tịch
UBND xã V, thành phố Hải Phòng; Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày 28/8/2025
kèm theo Phương án bồi thường số 17/PA-BQLDA của Chủ tịch UBND xã V, thành
phố Hải Phòng được ban hành đúng thẩm quyền và đúng trình tự thủ tục theo quy
định của pháp luật.
[4] Về nội dung các quyết định hành chính: Theo Quyết định thu hồi đất số
602a/QĐ-UBND ngày 05/9/2025 thì diện tích đất gia đình chị T bị thu hồi là 1041m
2
.
10
Theo Phương án bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án đầu tư
xây dựng công viên nghĩa trang P kèm theo Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày
28/8/2025 thì gia đình bà T được bồi thường các khoản sau: Đất nông nghiệp 804m
2
,
đơn giá 72.000 đồng, số tiền bồi thường 57.888.000 đồng; các khoản hỗ trợ đối với
đất nông nghiệp 67.912.416 đồng; cây cối hoa màu 490.000 đồng; vật kiến trúc:
743.403.385 đồng; tổng cộng là 869.693.801 đồng. Ngoài ra gia đình chị T đủ điều
kiện giao 01 lô đất có thu tiền sử dụng đất.
[5] Về nguồn gốc và diện tích đất bị thu hồi: Theo hồ sơ địa chính, sổ mục kê
năm 1985 và bản đồ giải thửa 299 thể hiện các thửa đất số 439, 440, 441, tờ bản đồ
số 01, đều được đăng ký loại đất “1L”, chủ sử dụng là đội 9; thửa đất số 397 được
đăng ký chủ sử dụng là ông Trương Văn N1. Sau khi thực hiện chủ trương dồn điền
đổi thửa, hộ bà Vũ Thị Đ1 được giao đất tại một phần các thửa đất số 439, 440, 441,
397 với diện tích 804m² theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/01/1994 của
UBND thành phố H. Đối với phần diện tích đất còn lại, hồ sơ xác định không giao
cho hộ dân trực tiếp sản xuất trên địa bàn xã.
[5.1] Theo Mảnh trích đo địa chính số TĐ 25-2024, tỷ lệ 1/1000 do Công ty
Cổ phần T2 lập, được Sở T3 duyệt ngày 29/01/2024, hộ bà Vũ Thị Đ1 sử dụng thực
tế diện tích 1.041m² tại thửa đất số 246, tờ bản đồ số 01. Tuy nhiên, căn cứ nguồn
gốc đất và hồ sơ quản lý đất đai, cơ quan có thẩm quyền xác định diện tích 804m² là
đất hộ bà Vũ Thị Đ1 được giao theo Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/01/1994;
diện tích 237m² còn lại là đất do UBND xã V quản lý.
[5.2] Đối với diện tích 237m², bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh diện tích đất này đã được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất
hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng hợp pháp. Do đó, việc cơ quan
có thẩm quyền xác định diện tích 237m² là đất do UBND xã quản lý và không xác
định đây là diện tích đất của hộ bà Vũ Thị Đ1 để tính bồi thường về đất là có căn cứ.
[6] Về việc áp giá đất bồi thường khi thu hồi đất: Căn cứ Quyết định số
11151/QĐ-UBND ngày 15/11/2024 của UBND huyện T và Thông báo số 48a/TB-
HĐTĐGĐ ngày 08/11/2024 của Hội đồng thẩm định giá đất huyện T về việc xác
định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi để thực hiện Dự án
đầu tư xây dựng Công viên nghĩa trang P tại xã L, huyện T, Chủ tịch UBND xã V
thì diện tích đất gia đình bà T sử dụng xác định giá đất nông nghiệp, không phải là
đất ở, tại thời điểm thu hồi đất là 72.000 đồng/m
2
là đúng quy định của pháp luật. Do
đó không có căn cứ chấp nhận quan điểm của người khởi kiện và người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện yêu cầu bồi thường diện tích đất là đất ở.
[7] Về việc hỗ trợ tài sản, công trình trên đất và bồi thường toàn bộ công trình
xây dựng ngoài 200m
2
: Bà T yêu cầu được bồi thường toàn bộ căn nhà cấp 4 diện
11
tích 240m² với giá 8.689.277 đồng/m², cho rằng gia đình đã xây dựng và sử dụng
công trình trong thời gian dài:
[7.1] Theo tài liệu trong hồ sơ, hộ bà Vũ Thị Đ1 sử dụng đất vào mục đích
làm nhà và công trình phục vụ ăn ở từ khoảng năm 2013. Hộ bà Đ1 không cung cấp
được thêm tài liệu chứng minh thời điểm xây dựng công trình khác với thời điểm
được cơ quan có thẩm quyền xác định. Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ, cơ
quan có thẩm quyền xác định công trình được xây dựng trong khoảng thời gian từ
ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014.
[7.2] Đối với công trình xây dựng trên phần diện tích đất do UBND xã quản
lý, đây không phải là tài sản được tạo lập trên cơ sở quyền sử dụng đất hợp pháp của
hộ bà Đ1 nên không thuộc trường hợp được bồi thường toàn bộ khi Nhà nước thu
hồi đất theo quy định. Tuy nhiên, để giải quyết khó khăn cho các hộ dân có tài sản
gắn liền với đất bị thu hồi thực hiện dự án, UBND thành phố H đã có chính sách hỗ
trợ khác theo khoản 2 Điều 108 Luật Đất đai năm 2024. Theo Công văn số 1924/VP-
ĐC4 ngày 17/3/2025, đối với trường hợp sử dụng đất nông nghiệp được giao theo
Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/01/1994, công trình, vật kiến trúc sử dụng từ
ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 được hỗ trợ bằng 30% mức giá đối với
diện tích không quá 200m² theo đơn giá vật kiến trúc tại thời điểm thu hồi đất.
[7.3] Như vậy, UBND xã L đã xem xét chính sách hỗ trợ đối với công trình
của hộ bà Đ1 trong phạm vi và mức hỗ trợ được áp dụng. Yêu cầu của chị T về việc
bồi thường toàn bộ công trình diện tích 240m² là không có căn cứ chấp nhận.
[8] Về đơn giá bồi thường cây cối, hoa màu: Trong phương án bồi thường đã
bồi thường 100% đối với cây huyết dụ, cây dọc mùng; không bồi thường đối với 766
cây trồng còn lại: Đất của gia đình bà Vũ Thị Đ1 sử dụng tổng diện tích đất khi thu
hồi là 1041m
2
, trong đó có 804m
2
là đất nông nghiệp được giao vào mục đích trồng
cây hàng năm và 237m
2
đất do UBND xã quản lý. Gia đình bà Đ1 sử dụng vào mục
đích làm nhà ở và trồng cây lâu năm với diện tích là 859,6m
2
; phần diện tích còn lại
là 181,4m
2
sử dụng vào mục đích trồng cây hàng năm. Đối với phần diện tích đất bà
T trồng cây lâu năm nên những cây này không được bồi thường là đúng theo quy
định của pháp luật.
[9] Về yêu cầu khoản hỗ trợ ổn định đời sống: Gia đình bà Đ1 không phải
trực tiếp được giao đất nông nghiệp mà nhận chuyển nhượng từ người khác. Trước
đây bà Đ1 cư trú ở xã K. Do là đất nhận chuyển nhượng lại, bản thân bà T, bà Đ1
không có hộ khẩu địa phương nên căn cứ theo khoản 1 Điều 104; điểm e khoản 1
Điều 108; khoản 3 Điều 105; khoản 1 Điều 109 Luật Đất đai 2024; khoản 1 Điều 22
Nghị định 88/2024/NĐ-CP; Điều 2 Nghị định 226/2025/NĐ-CP, hộ bà T không đủ
điều kiện hỗ trợ ổn định đời sống.
12
[10] Về yêu cầu của bà T yêu cầu khoản hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề
và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh đối với toàn bộ diện tích
đất bị thu hồi là 1041m
2
: Hội đồng xét xử xét thấy: Diện tích đất của gia đình bà T
sau khi trừ đi các phần xây dựng các công trình, vật kiến trúc trên đất, diện tích đất
còn lại để trồng hàng năm là 181,4m
2
sử dụng vào mục đích trồng cây. Gia đình bà
T không thuộc trường hợp được bồi thường tài sản công trình vật kiến trúc trên đất
mà chỉ được cho phép áp dụng hỗ trợ khác đối với công trình tài sản vật kiến trúc
được trên đất. Do đó, UBND xã V phê duyệt trong Phương án bồi thường đã quyết
định phần hỗ trợ, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với 181,4m
2
,
số tiền hỗ trợ là 65.300.400 đồng; hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh đối với
181,4m
2
, số tiền hỗ trợ là 2.612.016 đồng là có căn cứ, đúng theo quy định tại Nghị
định số 88/2024/NĐ-CP và Quyết định số 28/2024/QĐ-UBND ngày 22/10/2024 của
UBND thành phố H.
[11] Về việc hỗ trợ cấp tái định cư: Tại thời điểm kiểm kê, lập phương án bồi
thường, hỗ trợ, UBND xã xác nhận hộ bà Vũ Thị Đ1 (vợ chồng chị T và các con)
thực tế ăn ở trên đất và không còn nơi ở nào khác nên đã hỗ trợ giao 01 lô đất có thu
tiền sử dụng đất vào khu tái định cư của Dự án theo Thông báo số 1361/TB-UBND
ngày 02/4/2025 của UBND thành phố T là phù hợp và đảm bảo quyền lợi của hộ gia
đình chị Đào Thị Thu T.
[12] Từ các căn cứ nêu trên, xét thấy Quyết định số 602a/QĐ-UBND ngày
05/9/2025 về việc thu hồi đất và Quyết định số 583/QĐ-UBND ngày 28/8/2025 kèm
theo Phương án bồi thường số 17/PA-BQLDA của Chủ tịch UBND xã V, thành phố
Hải Phòng thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công viên nghĩa trang P tại xã V, thành
phố Hải Phòng đối với hộ gia đình bà Vũ Thị Đ1 (chị Đào Thị Thu T là người khởi
kiện) đã được ban hành đúng quy định pháp luật. Toà án cấp sơ thẩm bác yêu cầu
khởi kiện của chị T là có căn cứ. Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành
chính, không chấp nhận kháng cáo của chị Đào Thị Thu T, giữ nguyên Bản án sơ
thẩm.
[13] Về án phí hành chính phúc thẩm: Chị Đào Thị Thu T phải chịu án phí
hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
13
1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Đào Thị Thu T, giữ nguyên Bản án
hành chính sơ thẩm số 02/2026/HCST ngày 23 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 – Hải Phòng.
2. Về án phí phúc thẩm: Chị Đào Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí hành
chính phúc thẩm. Chị Đào Thị Thu T đã nộp đủ 300.000 đồng tạm ứng án phí hành
chính phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000005
ngày 01/7/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự (để thi hành);
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- TAND Khu vực 1 – Hải Phòng;
- Phòng THADS Khu vực 1 – Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thúy Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất