Bản án số 07/2026/HNGĐ-PT ngày 09/02/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 07/2026/HNGĐ-PT ngày 09/02/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 07/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/02/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 07/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 09-02-2026
V/v “Tranh chấp chia tài sản
sau khi ly hôn, Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
1. Bà Phạm Thị Thanh Giang;
2. Bà Dương Thúy Hằng.
- Thư phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 m 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 03/2026/TLPT-HNGĐ, ngày 13
tháng 01 năm 2026 về “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án Hôn nhân gia đình thẩm số
21/2025/HNGĐ-ST ngày 26-11-2025, của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây
Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm s 05/2026/QĐ-PT
ngày 19 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1952; nơi trú: ấp A, M,
tỉnh Tây Ninh.Tạm trú: ấp E M, xã M, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Ngọc B, sinh năm
1998; nơi cư trú: ấp V, xã Đ, tỉnh Cà Mau; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn T: Luật
Trương Thị P Công ty TNHH MTV N2 Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
2. Bị đơn:Thiều Thị N, sinh năm 1952; nơi cư trú: ấp E M, xã M, tỉnh
Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện theo y quyền của N: Trần Thị Ngọc L, sinh năm
1983; Trú tại: A, ấp C, xã B, Thành Phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Thiều Thị N: Luật
Văn L1 Chi nhánh Công ty L5 Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Ngọc L2, sinh năm 1971.
3.2. Bà Phạm Thị Kim U, sinh năm 1975.
Cùng cư trú: 8/6 Tổ H, Ấp D, xã B, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L2, U: Trần Thị Ngọc L,
sinh năm 1983; nơi trú: A Tổ G, ấp A, B, Thành phố Hồ Chí Minh;
mặt.
3.3. Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1983; nơi cư trú: A Tổ G, ấp A, xã B,
Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
3.4. Trần Thị Thu D, sinh năm 1969; nơi trú: D16/70 ấp D, B,
Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
3.5. Bà Trần Thị Ngọc D1, sinh năm 1978
3.6. Ông Trần Vĩnh T1, sinh năm 1985
3.7. Ông Trần Vĩnh T2, sinh năm 1987
Cùng cư trú: ấp E M, xã M, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
3.8. Bà Trần Thị Phương D2, sinh năm 1981
Nơi cư trú: 5 N, ấp B, xã B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
3.9. Bà Trần Thị Kim D3, sinh năm 1975
Nơi cư trú: ấp E M, xã M, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
3.10. Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1967
3.11. Bà Lê Thị Minh H, sinh năm 1973
3.12. Anh Phạm Hoàng T4, sinh năm 1997
Cùng cư trú: C6/3A ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Thiều Thị N, ông Trần Ngọc L2, bà Phạm Thị
Kim U.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần Văn T do ông Hà Ngọc B đại diện trình bày:
Ông Trần Văn T Thiều Thị N vchồng, xác lập quan hệ hôn
nhân từ năm 1968, tổ chức lễ cưới nhưng không đăng kết hôn, 9 con
chung gồm Trần Thị Thu D, Trần Thị Ngọc D1, Trần Thị Phương D2, Trần Thị
Kim D3, Trần Thị Ngọc L, Trần Ngọc L2, Trần Vĩnh T1, Trần Vĩnh T2, Trần
Kim L3 (chết 2003). Ngoài ra, ông T, bà N không có con nuôi hay con ngoài giá
thú nào khác. Quá trình chung sống, do hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn nên
ông T đã làm đơn yêu cầu ly hôn và yêu cầu chia tài sản khi ly hôn với N.
3
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 26/2011/HNGĐ-ST ngày
15/7/2011 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức (cũ) Bản án hôn nhân gia
đình phúc thẩm số 62/2011/HNGĐ-ST ngày 05 07/12/2011 của Toà án nhân
dân tỉnh Long An (cũ) về việc “Ly hôn” đã xét xử: “Chấp nhận yêu cầu ly hôn
của ông T và hủy một phần Bản án thẩm số 26/2011/HNGĐ-ST ngày
15/7/2011 về phần tài sản chung giữa ông T và bà N”.
Tại Bản án hôn nhân thẩm số 03/2013/HNGĐ-ST ngày 04/01/2013
của Toà án nhân dân huyện Bến Lức (cũ) Bản án phúc thẩm số
21/2013/HNGĐ-PT ngày 12/6/2013 của Toà án nhân dân tỉnh Long An (cũ) về
việc “Chia tài sản chung sau ly hôn” đã xét xử: “Chia cho ông T được quyền sử
dụng phần đất diện tích thực tế 3.298m
2
, thuộc các thửa 3441, 3226, 1953,
1955, 3227 01 hồ nước trị giá 1.188.000 đồng. Chia cho bà N được quyền s
dụng phần đất diện tích thực tế 3.298m
2
, thuộc các thửa 3441, 3226, 1953,
1955, 1956 các công trình xây dựng trên đất…Buộc N trách nhiệm
giao cho ông T số tiền 107.036.000 đồng…”. Bản án trên đã hiệu lực pháp
luật và các bên đã thi hành xong.
Ngoài ra, khi ly hôn, ông T yêu cầu chia tài sản chung của ông
N 01 căn nhà đất số C6/48 Trịnh Như K, ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí
Minh, thuộc thửa 103, tờ bản đồ số 43, diện tích 56,8m
2
, tuy nhiên, sau đó ông T
rút lại yêu cầu này nên Tòa án không giải quyết.
Nguồn gốc phần đất trên do ông T nhận chuyển nhượng của ông Phạm
Văn T5 bà Nguyễn Thị L4. Do ông T không hộ khẩu tại Thành phố Hồ
Chí Minh, để hợp pháp hoá cho việc tạm tnên ông nhờ con dâu Phạm
Thị Kim U đứng ra kết “Tờ Hợp đồng xin được chuyển nhượng quyền sử
dụng đất” (viết tay) với ông T5 L4 ngày 23/6/1998 để nhận chuyển
nhượng phần đất diện tích ngang 4m x dài 10m. Giá chuyển nhượng
15.000.000 đồng. Thời điểm đó, trên đất không nhà, hiện trạng đất trống.
Ông T người trực tiếp giao tiền cho ông T5 L4. Hiện nay, ông T vẫn
đang giữ 6 bản chính của Tờ Hợp đồng chuyển nhượng nêu trên. Ngày
20/8/1998, bà U “Giấy sang nhượng đất” (viết tay) để chuyển nhượng lại
phần đất trên cho ông T thực tế, ông T mới là chủ sử dụng đất. Năm 1999,
ông T đứng ra xây dựng căn nhà trên đất, nguồn tiền mua đất xây nhà của
ông T và bà N. Năm 2000, ông T và bà N có cho ông Phạm Văn T3 thuê căn nhà
trên. Giữa các bên không lập Hợp đồng thuê. Tuy nhiên, toàn bộ số tiền cho thuê
do bà N cất giữ và sử dụng riêng, ông T hoàn toàn không sử dụng số tiền này.
Ngày 22/01/2009, ông T được Ủy ban nhân dân huyện B cấp số nhà theo
Thông báo về việc tạm cấp số nhà số B-UB-CT. Hiện nay, nhà và đất chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất, do bà N quản lý và cho ông T3 thuê. Ông T vẫn thường xuyên đi về
căn nhà trên.
Tại phiên toà, ông Ngọc B đại diện cho ông T yêu cầu: Chia tài sản
chung của ông T và bà N là 01 (một) căn nhà và đất thuộc thửa 103, tờ bản đồ số
43, diện tích đo đạc thực tế 56,8m
2
, địa chỉ: Số C T, ấp C, B, Thành phố Hồ
4
Chí Minh (theo Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH H1 thực hiện ngày
11/3/2025). Ông T yêu cầu được chia 1/2 giá trị căn nhà đất với số tiền
1.135.029.500 đồng (Theo Chứng thư thẩm định giá s311/2025/033/VCVN01
ngày 19/3/2025 của Công ty TNHH T6, tổng giá trị của căn nhà đất
2.270.059.000 đồng). Ông T đồng ý giao toàn bộ tài sản trên cho N quản lý,
sử dụng.
Ông T rút lại yêu cầu bà N thanh toán cho ông T 1/2 số tiền cho thuê nhà
là 390.000.000 đồng tính từ ngày 01/01/2000 đến ngày xét xử.
Về chi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ: Ông T tự nguyện chịu
toàn bộ (đã nộp và chi xong).
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Thiều Thị N trình bày:
thống nhất lời trình bày của đại diện nguyên đơn vthời gian kết hôn, quá trình
chung sống, về con chung và thời gian ly hôn với ông T.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp của con dâu Phạm Thị Kim U
nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Văn T5 Nguyễn Thị L4 vào ngày
23/6/1998. Nguồn tiền nhận chuyển nhượng của vợ chồng U. Hiện tại căn
nhà này do ông L3, U quản lý, sử dụng đang cho người khác thuê, không
phải tài sản chung của ông T. Do đó, trước yêu cầu của ông T, không
đồng ý vì đây là tài sản riêng của vợ chồng ông L3 và bà U.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Trần Ngọc L2 và bà Phạm Thị Kim U (có yêu cầu độc lập) trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp do U nhận chuyển nhượng từ ông
T5 L4 vào ngày 23/6/1998. Giữa các bên kết “Tờ Hợp đồng xin
được chuyển quyền sử dụng đất”, được Ủy ban nhân dân B xác nhận. Khi
chuyển nhượng, ông T5 bà L4 chưa được cấp bất kgiấy tờ về quyền sử
dụng đất. Giá chuyển nhượng 15.000.000 đồng. U người trực tiếp giao
tiền cho ông T5L4.
Do ông T muốn đăng tạm trú tại Thành phố Hồ Chí Minh nên ngày
20/8/1998, bà U và ông T “Giấy sang nhượng đất” (viết tay) để hợp pháp hoá
cho việc tạm trú. Giá chuyển nhượng 15.000.000 đồng. Ông L2 U xác
định không việc chuyển nhượng đất cho ông T ông, không nhận tiền
cũng như không bàn giao đất cho ông T. Năm 1999, ông L2 đứng ra xây dựng
căn nhà trên. Nguồn tiền xây nhà mua đất do ông L2 trúng số có. Từ
năm 1999 đến năm 2014, ông T thỉnh thoảng căn nhà trên đăng
tạm trú. Từ năm 2014-2021, căn nhà trên bỏ trống. Đến năm 2021, ông, cho
ông Phạm Văn T3 thuê với giá 3.000.000 đồng/tháng. Hàng tháng, ông L2
người trực tiếp thu tiền nhà. Hiện ông, bà vẫn đang quản căn nhà trên. Do đó,
đề nghị Toà án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông T. Đồng thời, ông L2
và bà U có yêu cầu độc lập:
- Vô hiệu Giấy sang nhượng đất được ký kết giữa bà Phạm Thị Kim U
ông Trần Văn T ngày 20/8/1998.
5
- Yêu cầu công nhận nhà đất diện tích đo đạc thực tế 56,8m
2
, địa chỉ:
Ấp C, B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của ông L2
và bà U.
Trong quá trình giải quyết vụ án, những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan gồm:
1. Bà Trần Thị Thu D, bà Trần Thị Ngọc D1, bà Trần Thị Phương D2, bà
Trần Thị Ngọc L, ông Trần Vĩnh T1, ông Trần Vĩnh T2 thống nhất trình bày:
Phần đất đang tranh chấp do U nhận chuyển nhượng từ ông T5 L4 vào
ngày 23/6/1998. Do đó, đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu của ông T. Các ông,
bà, không tranh chấp và không yêu cầu gì trong vụ kiện này.
2. Trần Thị Kim D3 trình bày: Việc ông T5 L4 Hợp đồng
chuyển nhượng cho U theo yêu cầu của ông T, tại thời điểm chuyển
nhượng, ông T chưa được đăng tạm trú nên nhờ U đứng ra nhận chuyển
nhượng thay, bà U không trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất này. Do đó, đề nghị
Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông T, bà không có tranh chấp và yêu cầu
gì trong vụ kiện này.
3. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/9/2025, ông Phạm Văn T3 trình bày:
Khoảng năm 1999-2000, ông thuê căn nhà số C ấp C, B, Thành phố Hồ
Chí Minh của bà Thiều Thị N, giá thuê là 1.000.000 đồng/tháng. Đến năm 2005,
giá thuê tăng lên 3.000.000 đồng/tháng nhưng hai bên không lập Hợp đồng thuê.
Ông trực tiếp giao dịch với bà N. Thời gian thuê không thoả thuận. Khi ông thuê
thì căn nhà trên chưa hình thành. Ông T người trực tiếp xây nhà, sau đó, vợ,
con ông T đứng ra cho thuê.
Hiện ông cùng vợ, con ông là bà Lê Thị Minh H anh Phạm Hoàng T4
đang sinh sống trong căn nhà trên. Ngoài ra, ông cam kết không còn ai khác.
Trong vụ kiện này, ông không có ý kiến và yêu cầu gì.
4. Tại Bản tự khai ngày 03/9/2025, Thị Minh H trình bày: Hiện
nay, bà đang thuê căn nhà số C ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh. Trước yêu
cầu của ông T, bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì, đề nghị Toà án giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Các đương sự thống nhất Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH H1
thực hiện, Chứng thư thẩm định giá số 311/2025/033/VCVN01 ngày 19/3/2025
của Công ty TNHH T6, không yêu cầu định giá lại, đề nghị Toà án căn cứ vào
các kết quả trên để giải quyết.
Tại Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 26-
11-2025, của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, đã xử.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 217, 244, 266 Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015;
Căn cứ các Điều 33, 59, 62 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần n
T về việc yêu cầu N thanh toán cho ông T 1/2 số tiền cho thuê nhà là
390.000.000 đồng tính từ ngày 01/01/2000 đến ngày xét xử.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc
“Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn đối với bị đơn bà Thiều Thị N.
2.1. Xác định tài sản chung của ông Trần Văn T Thiều Thị N là:
Quyền sử dụng đất diện tích 56,8m
2
và tài sản gắn liền với đất gồm; sân (1) diện
tích 7,9m
2
; hiên (2) diện tích 13,8m
2
; nhà tường gạch mái tôn (3) diện tích
35,1m
2
; thuộc thửa 103, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Thiều Thị N quyền quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên và
nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn T 1/2 giá trị tài sản chung với số tiền
1.135.029.500 đồng (Một tỷ, một trăm ba mươi m triệu, không trăm hai mươi
chín nghìn, năm trăm đồng).
2.3. Buộc ông Trần Văn T nghĩa vụ giao cho Thiều Thị Nhân Q sử
dụng đất diện tích 56,8m
2
tài sản gắn liền với đất gồm; sân (1) diện tích
7,9m
2
; hiên (2) diện tích 13,8m
2
; nhà tường gạch mái tôn (3) diện tích 35,1m
2
;
thuộc thửa 103, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vị trí, tứ cận, tờ bản đồ, diện tích, loại đất, khu đất, tài sản trên đất được
thể hiện tại theo Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH H1 thực hiện ngày
11/3/2025, được Trung tâm kiểm định bản đồ T7 Sở Nông nghiệp Môi
trường thành phố H kiểm tra nội nghiệp ngày 12/11/2025).
2.4. Thiều Thị N quyền, nghĩa vụ liên hệ với quan thẩm
quyền để đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài
sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với phần tài sản được
chia nhận theo quy định của pháp luật. Văn phòng đăng đất đai, quan
Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn
cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết
quả giải quyết của Tòa án.
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Ngọc L2 Phạm
Thị Kim U về việc:
- Vô hiệu Giấy sang nhượng đất được ký kết giữa bà Phạm Thị Kim U
ông Trần Văn T ngày 20/8/1998.
- Yêu cầu công nhận nhà đất diện tích đo đạc thực tế 56,8m
2
, địa chỉ:
Ấp C, B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của ông L2
và bà U.
Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành
án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08-12-2025, Thiều Thị N đơn kháng cáo không đồng ý bản
án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông T.
Ngày 08-12-2025, ông Trần Ngọc L2, Phạm Thị Kim U kháng cáo
cho rằng diện tích 56,8 m
2
đất của vợ chồng ông, không phải của ông T và
bà N.
7
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện N, ông L2, U trình bày: N, ông L2, bà U giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo, phần đất diện tích 56,8m
2
, tọa lạc ấp C, B, huyện B,
Thành phố Hồ Chí Minh là của bà U mua của ông T5 và bà L4 giấy mua bán.
Do ông T muốn đăng ký tạm trú nên bà U mới làm giấy chuyển nhượng cho ông
T.
Đại diện ông T trình bày: không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bà N, ông
L2, U, phần đất diện tích 56,8m
2
, tọa lạc ấp C, B, huyện B, Thành phố
Hồ Chí Minh của ông T mua của ông T5 L4 được ông T5, L4 thừa
nhận bán đất nhận tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) của ông T
ông T đang giữ các giấy tờ mua bán đất bản gốc.
Đại diện N trình bày: Nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng
cáo của bà N thì N không nhận nhà đất yêu cầu nhận tiền, giao nhà đất
cho ông T.
Đại diện ông T trình bày: không nhận nhà, đất đề nghị Hội đồng xét xử
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật Văn L1 phát biểu quan điểm bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho bà N:
Do ông T yêu cầu đăng tạm trú nên U mới làm giấy chuyển
nhượng diện ch 56,8m
2
, tọa lạc ấp C, B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh
cho ông T, cấp thẩm không xem xét công sức đóng góp của các bên. N
đang sống M, tỉnh Tây Ninh, không nhu cầu sử dụng nhà, đất nên đ
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của N, không chấp nhận đơn
khởi kiện của ông T.
Luật Trương Thị P phát biểu quan điểm bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho ông T:
Tại Công văn số 279/UBND ngày 25/8/2025 của Ủy ban nhân dân B:
“Theo tài liệu bản đồ địa chính, nhà và đất C6/48, ấp A, xã B, thành phố Hồ Chí
Minh thuộc trọn thửa 103, tờ bản đồ số 43 (tài liệu BĐĐC), diện tích 56,8m
2
,
loại đất ONT, do ông Trần Văn T kê khai sử dụng”.
Tại Phiếu công khai thông tin hiện trạng nhà - đất năm 2006 của UBND
huyện B cũng ghi nhận tên người sử dụng là ông Trần Văn T.
Căn cứ Thông báo số 2366/TB-UB-CT ngày 22/01/2009 của UBND
huyện B: “Xét đơn xin cấp số nhà của ông Trần Văn T; tạm cấp số nhà C Ấp C,
B, huyện B cho căn nvị trí tại thửa 103, tờ bản đồ số 43 (theo Bản đồ
địa chính); thời điểm xây dựng: 1999”.
Căn cứ Văn bản số 7178/PCBC-KD ngày 19/9/2025 của Công ty Đ, xác
nhận thông tin: “Mã khách hàng: PE15000062984, Tên khách hàng: Trần Văn
T, Địa chsử dụng điện: C, ấp C, B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày hợp
đồng mua bán điện gắn điện kế: 24/4/2007”.
8
Người bán đất là ông T5 L4 xác định chuyển nhượng đất cho ông
T, ông T đã trả đủ tiền mua đất đã nhận đất để sử dụng. Ông T tự xây dựng
nhà và sinh sống, kê khai việc sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền, xin cấp số
nhà tại thửa 103, tbản đồ số 43. Đồng thời, ông T liên hệ ng ty Đ hợp
đồng mua bán/cung cấp điện. Sau đó, do phải đi làm ăn xa nên ông T đã tạm
thời giao lại nhà và đất cho bà Thiều Thị N quản lý.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của N, ông L2 và U. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình
thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham phiên tòa phát biểu
quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc
thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư phiên tòa thực hiện đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng của
Thiều Thị N, ông Trần Ngọc L2, Phạm Thị Kim U. Căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình thẩm
số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 Tây
Ninh).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án được xem xét tại
phiên tòa và căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự, ý kiến trình bày của luật
sư, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Thiệu Thị N1, ông Trần Ngọc L2, Phạm Thị Kim
U kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bà Thiều Thị N thấy rằng:
Ông T N xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1968, tổ chức lễ
cưới nhưng không đăng kết hôn, 9 con chung gồm Trần Thị Thu D, Trần
Thị Ngọc D1, Trần Thị Phương D2, Trần Thị Kim D3, Trần Thị Ngọc L, Trần
Ngọc L2, Trần Vĩnh T1, Trần Vĩnh T2, Trần Kim L3 (chết 2003). Quá trình
chung sống, do hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn nên ông T đã làm đơn yêu
cầu ly hôn yêu cầu chia tài sản sau ly hôn với N. Tại Bản án hôn nhân gia
đình số 26/2011/HNGĐ-ST Ngày 15/7/2011, Toà án nhân dân huyện Bến Lức
(cũ) Bản án phúc thẩm số 62/2011/HNGĐ-ST ngày 05 07/12/2011 của
Toà án nhân dân tỉnh Long An đã chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
Đối với việc N yêu cầu công nhận diện tích đo đạc thực tế 56,8m
2
,
tọa lạc tại: Ấp C, B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng
của ông L3 U thì thấy rằng: Phần đất diện tích 56,8m
2
tài sản trên đất
9
gồm: sân (1) diện tích 7,9m
2
; hiên (2) diện tích 13,8m
2
; tường gạch mái tôn (3)
diện tích 35,1m
2
; thuộc thửa 103, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: B, Thành phố Hồ
Chí Minh đất diện tích 56,8m
2
tài sản trên đất gồm: sân (1) diện tích 7,9m
2
;
hiên (2) diện tích 13,8m
2
; tường gạch mái tôn (3) diện tích 35,1m
2
; thuộc thửa
103, tbản đồ số 43, địa chỉ: B, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Chứng thư
thẩm định giá số 311/2025/033/VCVN01 ngày 19/3/2025 của Công ty TNHH
T6 thì; Giá trị quyền sử dụng đất 2.247.405.600 đồng; Giá trị công trình xây
dựng 22.653.561 đồng. Tổng cộng 2.270.059.000 đồng. N cho rằng
phần đất này ông L3U mua. Còn ông T cho rằng ông T nhận chuyển nhượng
của ông Phạm văn T5 Nguyễn Thị L4 vào ngày 23/6/1998 với số tiền
15.000.000 đồng, lời khai của ông T phù hợp lời khai của ông T5 L4 (bút lục
198). Đồng thời tại Bản án số 26/2011/HNGĐ-ST ngày 15/7/2011 của Tòa án
nhân dân huyện Bến Lức (cũ), N xác nhận tài sản chung của vợ chồng
ông T có 01 căn nhà tại địa chỉ C, ấp C, xã B, huyện B, TP .. Do đó, cấp sơ thẩm
xác định diện ch 56,8m
2
, tọa lạc tại ấp C, B, huyện B, Thành phố Hồ Chí
Minh tài sản chung của ông T và bà N chia cho mỗi người ½ trị giá
2.270.059.000 đồng căn cứ. N kháng cáo nhưng không cung cấp được
tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn
cứ chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của ông L3 bà U thấy rằng: Đối với việc U cho
rằng “Giấy sang nhượng đất” ngày 20/8/1998 chỉ nhằm hợp thức hóa thủ tục
tạm trú cho ông T (bút lục 82). Ông T không thừa nhận. U không xuất trình
được bất ktài liệu nào thể hiện ông T đứng tên dùm hoặc sự ủy quyền của
bà. Mặt khác, từ khi ông T đăng tạm trú ngày 01/7/ 1999 đến nay, không
bất kỳ giấy tờ, giao dịch hay thỏa thuận nào thể hiện ông T chuyển nhượng lại
thửa đất cho U, ông L3. Ông L3 U cho rằng quyền sử dụng diện tích
thực tế 56,8m
2
đất địa chỉ: Số C T, ấp C, B, Thành phố Hồ Chí Minh tài
sản trên đất thuộc về ông, bà nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh
cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu
của ông L3 và bà U là có căn cứ.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bà N thay đổi nội dung kháng cáo
yêu cầu nhận tiền không nhận nhà đất. Căn cứ khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố
tụng dân sự vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên cấp Hội đồng xét xử
không xem xét.
[5] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy tại
phiên tòa phúc thẩm, bà N, ông L3, bà U không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ
mới làm thay đôỉ nội dung vụ án nên không căn cứ chấp nhận kháng cáo
của N, ông L3, U. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Giữ
nguyên bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST ngày 26-11-
2025, của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh.
[6] Về án phí phúc thẩm: ông Trần Ngọc L2, Phạm Thị Kim U kháng
cáo không được chấp nhận. Căn cứ vào Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và
căn cứ vào khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
10
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Ông L2, U mỗi người
phải chịu 300.000 ( ba trăm nghìn) đồng tiền án phí phúc thẩm.
Thiều Thị N được miễn án phí.
[7] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo kháng
nghị , có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Thiều Thị N, ông Trần Ngọc L2,
Phạm Thị Kim U.
Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 21/2025/HNGĐ-ST
ngày 26-11-2025, của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Tây Ninh.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 217, 244, 266 Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015;
Căn cứ các Điều 33, 59, 62 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn
T về việc yêu cầu N thanh toán cho ông T 1/2 số tiền cho thuê nhà là
390.000.000 đồng tính từ ngày 01/01/2000 đến ngày xét xử.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc
“Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn đối với bị đơn bà Thiều Thị N.
2.1. Xác định tài sản chung của ông Trần Văn T Thiều Thị N là:
Quyền sử dụng đất diện tích 56,8m
2
và tài sản gắn liền với đất gồm; sân (1) diện
tích 7,9m
2
; hiên (2) diện tích 13,8m
2
; nhà tường gạch mái tôn (3) diện tích
35,1m
2
; thuộc thửa 103, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Thiều Thị N quyền quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên
nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn T 1/2 giá trị tài sản chung với số tiền
1.135.029.500 đồng (Một tỷ, một trăm ba mươi m triệu, không trăm hai mươi
chín nghìn, năm trăm đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2.3. Buộc ông Trần Văn T nghĩa vụ giao cho bà Thiều Thị Nhân Q sử
dụng đất diện tích 56,8m
2
tài sản gắn liền với đất gồm; sân (1) diện tích
11
7,9m
2
; hiên (2) diện tích 13,8m
2
; nhà tường gạch mái tôn (3) diện tích 35,1m
2
;
thuộc thửa 103, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vị trí, tứ cận, tờ bản đồ, diện tích, loại đất, khu đất, tài sản trên đất được
thể hiện tại theo Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH H1 thực hiện ngày
11/3/2025, được Trung tâm kiểm định bản đồ T7 Sở Nông nghiệp Môi
trường thành phố H kiểm tra nội nghiệp ngày 12/11/2025).
2.4. Thiều Thị N quyền, nghĩa vụ liên hệ với quan thẩm
quyền để đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài
sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với phần tài sản được
chia nhận theo quy định của pháp luật. Văn phòng đăng đất đai, quan
Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn
cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết
quả giải quyết của Tòa án.
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Ngọc L2 Phạm
Thị Kim U về việc:
- Vô hiệu Giấy sang nhượng đất được ký kết giữa bà Phạm Thị Kim U
ông Trần Văn T ngày 20/8/1998.
- Yêu cầu công nhận nhà đất diện tích đo đạc thực tế 56,8m
2
, địa chỉ:
Ấp C, B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của ông L2
và bà U.
4. Về án phí thẩm: Ông Trần Văn T Thiều Thị N được miễn án
phí.
Ông Trần Ngọc L2 Phạm Thị Kim U phải liên đới chịu 600.000
đồng án pnhưng được khấu trừ số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006178, ngày 08/10/2025
của Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
5. Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Ngọc L2 Phạm Thị Kim U mỗi
người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ tiền
tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) theo biên thu số
00015223 ngày 12/12/2025 và biên lai thu số 0015226 ngày 12/12/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
12
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND khu vực 4 - Tây Ninh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phạm Thị Hồng Vân
Tải về
Bản án số 07/2026/HNGĐ-PT Bản án số 07/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2026/HNGĐ-PT Bản án số 07/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất