Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2025/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 02/2025/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2025/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 02/2025/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng K tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông K, bà T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 02/2025/KDTM-ST
Ngày: 12-9-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Ngọc Hà.
Ông Lê Văn Danh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Loan Em là Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần
Thơ: Bà Kim Thị Cẩm Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ,
thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2025/TLST-DS
ngày 13 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-DS, ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K1.
Địa chỉ trụ sở chính: Số D P, phường R, tỉnh An Giang (số D P, phường V,
thành phố R, tỉnh Kiên Giang cũ).
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần K1: Ông Hồ
Minh N - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ khu vực - Phòng xử lý nợ Ngân hàng
thương mại cổ phần K1.
Địa chỉ liên hệ: Số A - A T, phường P, thành phố Cần Thơ (số A - A T,
Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cũ), văn bản uỷ quyền ngày 07/11/2024 (vắng
mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn:

2
1. Ông Võ Văn K, sinh năm 1982.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã H, thành phố Cần Thơ (ấp Đ, xã H, huyện C,
tỉnh Sóc Trăng cũ). Nơi cư trú: Ấp C, xã H, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn
xin xét xử vắng mặt).
2. Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1984.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã H, tỉnh Đồng Tháp (ấp L, xã L, huyện L, tỉnh
Đồng Tháp cũ). Nơi cư trú: Ấp C, xã H, thành phố Cần Thơ (ấp C, xã H, huyện C,
tỉnh Sóc Trăng cũ) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện lập ngày 05 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn Ngân hàng thương
mại cổ phần K1 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn là ông Hồ Minh N trình bày:
Ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T có vay vốn của Ngân hàng thương mại cổ
phần K1 – Chi nhánh S cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số 081/22/HĐTD/2100-
8377 ngày 25/02/2022 số tiền vay 370.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn
kinh doanh vật liệu xây dựng, giải ngân ngày 25/02/2022, thời hạn vay là 12 tháng,
ngày đến hạn trả nợ là ngày 25/02/2023. Lãi suất vay là 11,1%/năm được cố định
trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Kể từ tháng thứ 4 trở đi, lãi
suất cho vay thay đổi 03 tháng 01 lần và được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết
kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh cuối kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần K1 (sau đây
gọi tắt là Ngân hàng) tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng thêm 3,8%/năm. Lãi suất
ngay sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành của
biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay). Lãi
suất quá hạn: 150% (gấp 1.5 lần) lãi suất vay ngay thời điểm nợ quá hạn. Mức phạt
chậm trả lãi: 10%/năm. Hình thức thanh toán: Lãi 1 tháng/lần vào ngày 25 mỗi tháng.
Tài sản thế chấp dùng để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết
tại hợp đồng thế chấp 065/21/HĐTC-BĐS/2100-8377 ngày 02/02/2021 cụ thể:
Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CI 423533, số vào sổ cấp GCN: CS04402 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 28/12/2017, chuyển nhượng cho ông Võ Văn
K ngày 14/01/2021; thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15, diện tích 67,1m
2
, hình thức sử
dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng đất:
Lâu dài, nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận Quyền sử
dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất, tọa lạc tại Khóm B, thị trấn L, huyện
L, tỉnh Đồng Tháp. Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng ngày
02/02/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2021 theo đúng quy định của
pháp luật.

3
Kể từ ngày vay đến nay, ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T không thực hiện
đúng nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký kết. Tính đến ngày
12/9/2025, ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T còn nợ Ngân hàng số tiền như sau:
Nợ gốc 370.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.118.740 đồng, lãi phạt chậm trả lãi
2.621.169 đồng, lãi quá hạn 227.671.644 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi, lãi phạt chậm
trả lãi là 610.411.553 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án xem xét, buộc ông Võ Văn K và bà Lê Thị
Hồng T, trả hết số nợ gốc và lãi phát sinh tại hợp đồng tín dụng trên cho Ngân hàng
như sau: Nợ gốc 370.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.118.740 đồng, lãi phạt chậm trả
lãi 2.621.169 đồng, lãi quá hạn 227.671.644 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi, lãi phạt
chậm trả lãi là 610.411.553 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến ngày ông Võ Văn K và
bà Lê Thị Hồng T trả tất nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài
sản thế chấp nợ vay là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 423533, số vào sổ cấp
GCN: CS04402 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 28/12/2017,
chuyển nhượng cho ông Võ Văn K ngày 14/01/2021; thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15,
diện tích 67,1m
2
, hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại
đô thị, thời hạn sử dụng đất: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng
đất được công nhận Quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất, tọa lạc
tại Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp) theo
quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
Tại biên bản lấy lời khai lập ngày 22 tháng 4 năm 2024 bị đơn ông Võ Văn K
trình bày:
Ông Võ Văn K đăng ký thường trú tại ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;
nơi cư trú hiện nay ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Bà Lê Thị Hồng T là vợ của
ông Võ Văn K, bà T đang cư trú cùng ông tại ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Vào ngày 25/02/2022, ông K và vợ là bà Lê Thị Hồng T có vay của Ngân hàng
thương mại cổ phần K1 số tiền 370.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số
081/22/HĐTD/2100-8377 ngày 25/02/2022 là đúng sự thật. Tài sản bảo đảm cho
khoản vay là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 423533, số vào sổ cấp GCN:
CS04402 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 28/12/2017 cho bà Bùi
Thị Ngọc N1 và chuyển nhượng cho ông Võ Văn K ngày 14/01/2021. Ông K và bà T
chưa trả số tiền gốc, lãi suất cho Ngân hàng. Ông K đồng ý trả số tiền vay vốn gốc và
lãi suất còn nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông K và vợ là bà T không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông K đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản thế
chấp là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 423533, số vào sổ cấp GCN: CS04402 do

4
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 28/12/2017 cho bà Bùi Thị Ngọc N1
và chuyển nhượng cho ông Võ Văn K ngày 14/01/2021 theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn bà Lê Thị Hồng T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành
thông báo về việc thụ lý vụ án số: 174/TB-TLVA ngày 13 tháng 11 năm 2023, tống
đạt hợp lệ cho bị đơn bà Lê Thị Hồng T nhưng bà T không có văn bản trình bày ý
kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tòa án đã tiến hành triệu tập
hợp lệ đối với bà T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải nhưng bà T vắng mặt không có lý do và Tòa án lập biên bản
không tiến hành hòa giải được nên không có lời khai bà Lê Thị Hồng T trong hồ sơ
vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của
những người tham gia tố tụng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị
đơn Võ Văn K kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn Lê Thị
Hồng T chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ
và đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc các bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân
hàng số tiền nợ vay vốn gốc và lãi suất theo quy định của hợp đồng. Trường hợp các
bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thì buộc các bị đơn
giao tài sản cho cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải
quyết: Khi nộp đơn khởi kiện, Ngân hàng thương mại cổ phần K1 căn cứ vào hợp
đồng tín dụng số: 081/22/HĐTD/2100-8377 ngày 25/02/2022, giữa bên cho vay là
Ngân hàng thương mại cổ phần K1 với bên vay ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T;
cùng địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp Đ, xã H, thành phố Cần
Thơ). Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh
Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ) buộc
ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T phải trả cho Ngân hàng số tiền vay vốn gốc, lãi
suất đã vay theo quy định của hợp đồng cho đến khi trả hết nợ; trường hợp không trả

5
được nợ, thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp; mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh
vật liệu xây dựng. Tòa án nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã thụ
lý đơn khởi kiện và thông báo cho Ngân hàng nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định
của pháp luật và Ngân hàng đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định.
Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện
của Ngân hàng thương mại cổ phần K1 là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ
tục tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản
1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác
định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” nhưng vào sổ thụ lý vụ
án dân sự. Tuy nhiên, bị đơn Võ Văn K có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh
và khi ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thì mục đích vay là bổ sung vốn kinh
doanh vật liệu xây dựng. Do đó, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có
mục đích lợi nhuận nên Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp là
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của vụ án kinh doanh thương mại theo quy định tại
khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hồ Minh N, bị đơn
ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
và vắng mặt tại phiên tòa. Ông Hồ Minh N và ông Võ Văn K ông K có đơn yêu cầu
Tòa án xét xử vắng mặt, bà T vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả
kháng, không vì trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 và
khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định
tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Minh N, ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T.
[2] Về nội dung:
[3] Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân
hàng thương mại cổ phần K1 yêu cầu các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T
phải trả cho Ngân hàng số tiền vay vốn gốc và lãi suất tính đến ngày 12/9/2025 theo
hợp đồng cấp tín dụng số: 081/22/HĐTD/2100-8377 ngày 25/02/2022 với số tiền vốn
gốc còn nợ: 370.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.118.740 đồng, lãi phạt chậm trả lãi
2.621.169 đồng, lãi quá hạn 227.671.644 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi, lãi phạt chậm
trả lãi là 610.411.553 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến ngày ông K, bà T trả tất nợ
cho Ngân hàng. Trường hợp ông K, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả
không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế
chấp nợ vay là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 423533, số vào sổ cấp GCN:
CS04402 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 28/12/2017, chuyển
nhượng cho ông Võ Văn K ngày 14/01/2021; thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15, diện
tích 67,1m
2
, hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô
thị, thời hạn sử dụng đất: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất

6
được công nhận Quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất, tọa lạc tại
Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp) theo quy
định của pháp luật để thu hồi nợ.
[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu ông Võ Văn K và bà Lê Thị
Hồng T trả tiền vay vốn gốc và lãi suất trong hạn, lãi phạt chậm trả lãi, lãi suất quá
hạn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[5] Theo hợp đồng tín dụng số 081/22/HĐTD/2100-8377 ngày 25/02/2022,
ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T có vay tiền của Ngân hàng với số tiền vốn gốc là
370.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng, giải
ngân ngày 25/02/2022, thời hạn vay là 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ là ngày
25/02/2023. Lãi suất vay là 11,1%/năm được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ
ngày giải ngân đầu tiên. Kể từ tháng thứ 04 trở đi, lãi suất cho vay thay đổi 03 tháng
01 lần và được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh cuối kỳ
của Ngân hàng tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng thêm 3,8%/năm. Lãi suất ngay sau
khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi
suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay). Lãi suất
quá hạn: 150% (gấp 1,5 lần) lãi suất vay ngay thời điểm nợ quá hạn. Mức phạt chậm
trả lãi: 10%/năm. Hình thức thanh toán: Lãi 1 tháng/lần vào ngày 25 mỗi tháng. Tính
đến ngày 12/9/2025, ông K và bà T còn nợ số tiền vay vốn gốc 370.000.000 đồng, lãi
trong hạn 10.118.740 đồng, lãi phạt chậm trả lãi 2.621.169 đồng, lãi quá hạn
227.671.644 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi, lãi phạt chậm trả lãi là 610.411.553 đồng.
[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Văn K đã thừa nhận ông K
cùng vợ là bà Lê Thị Hồng T có ký hợp đồng tín dụng số tín dụng số
081/22/HĐTD/2100-8377 ngày 25/02/2022 vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ
phần K1 với số tiền vốn gốc là 370.000.000 đồng và chưa trả tiền gốc, lãi cho Ngân
hàng. Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự
thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận
của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không
phải chứng minh”. Như vậy, Hội đồng xét xử công nhận các bị đơn còn nợ Ngân
hàng thương mại cổ phần K1 tính đến ngày 12/9/2025 với số tiền vay vốn gốc
370.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.118.740 đồng, lãi phạt chậm trả lãi 2.621.169
đồng, lãi quá hạn 227.671.644 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi, lãi phạt chậm trả lãi là
610.411.553 đồng là sự thật.
[7] Căn cứ theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ
chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; theo khoản
2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định “Trong trường hợp khách hàng không
trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có
quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo
đảm và quy định của pháp luật” và trong hợp đồng tín dụng số: 081/22/HĐTD/2100-

7
8377 ngày 25/02/2022, thì hai bên cũng đã thỏa thuận bên vay là ông K, bà T có
nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi suất đầy đủ, đúng hạn và phải chịu lãi suất chậm trả theo thỏa
thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng ông K, bà T đã
không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết, cụ thể là đến hạn trả nợ, ông K, bà T
không trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Như vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K, bà T
trả nợ vay vốn gốc, lãi suất (trong hạn, quá hạn), lãi phạt chậm trả lãi là có căn cứ.
[8] Từ những nhận định tại các đoạn [5], [6], [7] nêu trên, Hội đồng xét xử
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K1 về yêu
cầu các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T phải trả cho Ngân hàng toàn bộ
số tiền vay vốn gốc 370.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.118.740 đồng, lãi phạt chậm
trả lãi 2.621.169 đồng, lãi quá hạn 227.671.644 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi, lãi phạt
chậm trả lãi là 610.411.553 đồng.
[9] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (từ ngày 13/9/2025) các bị
đơn ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trong
hạn (nếu có), lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán và lãi phạt chậm trả lãi
theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về
việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần
K1 thì lãi suất mà ông K, bà T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ
phần K1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự
điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần K1.
[10] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội
đồng xét xử xét thấy:
[10.1] Để đảm bảo khoản nợ vay tại Ngân hàng, ông Võ Văn K và bà Lê Thị
Hồng T đã thế chấp: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15, diện
tích 67,1m
2
, hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô
thị, thời hạn sử dụng đất: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất
được công nhận Quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất, tọa lạc tại
Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp) theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CI 423533, số vào sổ cấp GCN: CS04402 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp ngày 28/12/2017, chuyển nhượng cho ông Võ Văn K ngày 14/01/2021,
theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 065/21/HĐTC/BĐS/2100/-8377 ngày 02/02/2021
giữa Ngân hàng thương mại cổ phần K1 – Chi nhánh S với ông Võ Văn K và bà Lê
Thị Hồng T, được chứng thực tại Văn phòng C; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp ngày 02/02/2021, theo hồ sơ số
004402.TC.002. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/02/2021.
[10.2] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh
Sóc Trăng quyết định ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp

8
tiến hành xác minh và xem xét, thẩm định tại chỗ thì xác định được toàn bộ quyền sử
dụng đất đã thế chấp nêu trên không có thay đổi về hiện trạng so với khi thế chấp (đất
trống) và hiện nay tài sản thế chấp do ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T là người
đang trực tiếp quản lý, sử dụng hợp pháp.
[11] Theo khoản 1 Điều 299 Bộ luật Dân sự quy định về các trường hợp xử lý
tài sản bảo đảm thì “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”, theo khoản 6 Điều 320 Bộ
luật Dân sự quy định về nghĩa vụ của bên thế chấp “Giao tài sản thế chấp cho bên
nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy
định tại Điều 299 của Bộ luật này”. Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì
Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nêu trên của ông K, bà T nếu ông K, bà T
không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là có căn cứ chấp nhận và khi có yêu cầu thì
ông K, bà T phải có trách nhiệm giao lại tài sản đã thế chấp nêu trên do ông K, bà T
quản lý, sử dụng để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
[12] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[13] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Căn cứ vào khoản 1 Điều 157;
khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê Thị
Hồng T phải chịu 1.500.000 đồng để hoàn trả lại cho nguyên đơn vì nguyên đơn đã
nộp tạm ứng trước.
[14] Về án phí sơ thẩm:
[14.1] Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào
khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê
Thị Hồng T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch với số tiền
28.416.462 đồng (ông Võ Văn K nộp số tiền 14.208.231 đồng và bà Lê Thị Hồng T
nộp số tiền 14.208.231 đồng).
[14.2] Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K1 không phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.396.000
đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0009074 ngày 12 tháng
10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:

9
- Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2
Điều 92; khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản
1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
- Khoản 1 Điều 299 và khoản 6 Điều 320 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương
mại cổ phần K1 về yêu cầu trả số tiền vay vốn gốc, lãi suất trong hạn, lãi suất quá
hạn, lãi phạt chậm trả lãi và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với các bị đơn ông Võ
Văn K và bà Lê Thị Hồng T.
2. Xử buộc các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T phải trả cho nguyên
đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K1 số tiền vay vốn gốc 370.000.000 đồng, lãi
trong hạn 10.118.740 đồng, lãi phạt chậm trả lãi 2.621.169 đồng, lãi quá hạn
227.671.644 đồng. Tổng cộng nợ gốc, lãi, lãi phạt chậm trả lãi là 610.411.553 đồng
(sáu trăm mười triệu bốn trăm mười một nghìn năm trăm năm mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (từ ngày 13/9/2025) các bị đơn
ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trong hạn
(nếu có), lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán và lãi phạt chậm trả lãi theo
mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về
việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần
K1 thì lãi suất mà ông K, bà T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ
phần K1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự
điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần K1.
3. Trong trường hợp ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T không thực hiện
nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng
có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15, diện tích 67,1m
2
, hình thức sử dụng: Sử dụng
riêng, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng đất: Lâu dài, nguồn
gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận Quyền sử dụng đất như
giao đất có thu tiền sử dụng đất, tọa lạc tại Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng
Tháp (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 423533, số vào sổ cấp GCN:
CS04402 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 28/12/2017, chuyển
nhượng cho ông Võ Văn K ngày 14/01/2021, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số

10
065/21/HĐTC-BĐS/2100-8377 ngày 02/02/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ
phần K1 – Chi nhánh S với ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T, được chứng thực tại
Văn phòng C; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L,
tỉnh Đồng Tháp ngày 02/02/2021, theo hồ sơ số 004402.TC.002. Khi Ngân hàng có
yêu cầu thì các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T có trách nhiệm giao lại
toàn bộ tài sản thế chấp do các ông, bà đang quản lý sử dụng để cơ quan có thẩm
quyền xử lý theo quy định pháp luật.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê
Thị Hồng T phải chịu 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) để trả lại cho
Ngân hàng thương mại cổ phần K1 đã nộp trước.
5. Về án phí:
5.1. Các bị đơn ông Võ Văn K và bà Lê Thị Hồng T phải chịu án phí kinh
doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 28.416.462 đồng (ông Võ Văn K
nộp số tiền 14.208.231 đồng và bà Lê Thị Hồng T nộp số tiền 14.208.231 đồng).
5.2. Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K1 không phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.396.000
đồng (mười triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số: 0009074 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực
6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ).
6. Nguyên đơn, các bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 6 – Cần Thơ;
- Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ
(Phòng THADS khu vực 6 – Cần Thơ);
- TAND thành phố Cần Thơ
(Phòng GĐ, KT, TT & THA);
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Đặng Phước Tuấn
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm