Bản án số 01/2026/HCPT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2026/HCPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2026/HCPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2026/HCPT
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2026/HCPT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Gia Lai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Gia Lai |
| Số hiệu: | 01/2026/HCPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Không chấp nhận nội dung kháng cáo. Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 01/2026/HC-PT
Ngày: 05 - 02 - 2026
“V/v Khiếu kiện quyết định hành chính
và hành vi hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm
Các Thẩm phán: Ông Lưu Anh Tuấn
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Ánh Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 08/2025/TLPT-HC ngày 10
tháng 12 năm 2025 về khiếu kiện hành vi hành chính về quản lý đất đai và
Quyết định giải quyết khiếu nại.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2025/HC-ST ngày 29, 30 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2026/QĐ-PT ngày
13 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
1. Ông Lê L, sinh năm: 1956; CCCD: 052056005591 (vắng mặt)
2. Bà Trần Thị C, sinh năm: 1957; CCCD: 052157005173 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố H, phường Q, tỉnh Gia Lai.
Đại diện ủy quyền của ông Lê L: Anh Lê Văn T, sinh năm: 1992 (có mặt)
Địa chỉ: Tầng A, LKA D, đường số A, khu đô thị T, phường Q, tỉnh Gia
Lai.
- Người bị kiện:
2
1. Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Q.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân phường Q, tỉnh
Gia Lai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành D – Phó Chủ tịch UBND
phường Q (Theo văn bản ủy quyền số: 07/GUQ-UBND ngày 06/8/2025); (vắng
mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Hồng K, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
2. Anh Lê Ngọc B, sinh năm: 1987 (vắng mặt)
3. Chị Lê Thị T1, sinh năm: 1990 (vắng mặt)
4. Chị Lê Thị T2, sinh năm: 1992 (vắng mặt)
5. Chị Trần Thị Lệ T3, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố H, phường Q, tỉnh Gia Lai.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Lê L và bà Trần Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, người khởi kiện ông Lê L,
bà Trần Thị C; Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện anh Lê Văn T
thống nhất trình bày:
Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13 cùng ngôi nhà có trên đất tọa lạc tại thôn
H, xã N có nguồn gốc là của gia đình ông L bà C nhận chuyển nhượng từ năm
1995. Trong quá trình sử dụng gia đình ông bà còn mở rộng, bồi trúc thêm diện
tích đất liền kề, tạo lối đi ra biển để tiện cho sinh hoạt hàng ngày. Phần đất cơi
nới có diện tích khoảng 114 m
2
, chiều dài khoảng 19 m (tính từ khuôn viên nhà
đất cũ), chiều rộng 06 m, giáp bãi ven biển; trên đất có nhà ở, công trình phụ và
một phần lối đi. Gia đình ông bà đã sử dụng thửa đất nói trên ổn định, liên tục và
không có ai tranh chấp. Vì ông bà tuổi cao, không lao động được nên đã cho gia
đình ông Nguyễn Văn T4 thuê 01 phần trong thửa đất nói trên để kinh doanh,
mở quán bán đồ ăn.
Thực hiện Dự án kè xã N, gia đình ông L, bà C bị thu hồi 88m
2
đất, phần
tiếp giáp với bờ biển, thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ 13. Quá trình thu hồi, gia
đình ông L, bà C không nhận được thông báo gì của các cấp chính quyền. Khi
Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh B tổ chức thi công,
tháo dỡ các công trình trên đất thì gia đình ông L, bà C mới biết đất của mình
đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện Dự án kè xã N.
Ngày 14/7/2020, gia đình ông L, bà C gửi đơn khiếu nại về việc thu hồi
đất và bồi thường, hỗ trợ nói trên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2020, gia đình ông L, bà C nhận được Bảng chiết
tính giá trị hỗ trợ do UBND xã N giao thì mới biết trong số 88m
2
đất bị thu hồi,
3
các cơ quan Nhà nước chỉ xem xét bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông L, bà C
diện tích là 37,08m
2
, phần đất thu hồi còn lại là 50,92m
2
chưa được xem xét giải
quyết bồi thường hỗ trợ. Đồng thời, trong Bảng chiết tính nêu lý do không bồi
thường, hỗ trợ là do “ông T4 cơi nới, lấn chiếm thêm 50,92m
2
phần tiếp giáp để
mở quán sau ngày 01/7/2004”.
Không đồng ý với việc xác định nguồn gốc sử dụng đất và mức bồi
thường hỗ trợ của UBND xã N, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Q và
UBND thành phố Q, nên gia đình ông L, bà C đã làm đơn khiếu nại cụ thể như
sau:
Ngày 19 tháng 8 năm 2020, gia đình ông L, bà C đã làm đơn khiếu nại
gửi UBND thành phố Q, Trung tâm phát triển Quỹ đất thành phố Q (sau đây gọi
tắt là Trung tâm) đề nghị xem xét lại việc bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư
do bị thu hồi đất thực hiện Dự án kè xã N.
Ngày 01 tháng 9 năm 2020, gia đình ông L, bà C nhận được Văn bản số
236/TTPTQĐ-GPMB ký ngày 24/8/2020 của Trung Tâm phát triển quỹ đất
thành phố Q (Văn bản 236) cho biết Trung tâm lập phương án bồi thường trên
cơ sở xác định nguồn gốc sử dụng đất của UBND xã N. Theo UBND xã N,
trong số đất thu hồi của gia đình ông bà 88m
2
, có 50,92m
2
đất là do ông Nguyên
Văn T5 lấn chiếm năm 2016, nên không được xem xét bồi thường, hỗ trợ.
Gia đình ông bà nhận thấy, UBND xã N xác định nguồn gốc đất do gia
đình ông bà đang sử dụng là không đúng thực tế nên ngày 23 tháng 10 năm
2020, vợ chồng ông L, bà C gửi Đơn khiếu nại đến UBND xã N (nay là UBND
phường Q), đề nghị xem xét lại việc xác định nguồn gốc đất không đúng thực tế
sử dụng đối với phần đất bị thu hồi thực hiện Dự án kè xã N.
Ngày 14 tháng 01 năm 2021, gia đình ông L, bà C nhận được Quyết định
số 09/QĐ-UBND ký ngày 11/01/2021 của Chủ tịch UBND xã N về việc giải
quyết khiếu nại nói trên (sau đây gọi tắt là Quyết định số 09). Theo đó, Chủ tịch
UBND xã N “không công nhận nội dung đơn khiếu nại đề nghị xem xét giải
quyết xác nhận lại nguồn gốc đất đối với thửa đất bị thu hồi”. Quyết định số 09
của Chủ tịch UBND xã N chỉ căn cứ vào báo cáo của cán bộ địa chính mà không
đưa ra được đánh giá, giải thích thỏa đáng đối với các ý kiến khiếu nại của gia
ông bà.
Do vậy, gia đình ông bà không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại
số 09 của Chủ tịch UBND xã N và tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành
phố Q, UBND thành phố Q.
Ngày 28/5/2021, Chủ tịch UBND xã N ban hành Quyết định số 154/QĐ-
UBND về việc thu hồi, hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (Quyết
định số 09), trong đó, tại Điều 2 có nêu rõ: “tiếp tục giải quyết khiếu nại của gia
đình tôi theo đúng trình tự, thủ tục của Luật Khiếu nại”.
Ngày 12 tháng 7 năm 2021, gia đình ông bà nhận được Quyết định số
217/QĐ-UBND ký ngày 05/7/2021 của Chủ tịch UBND xã N về việc giải quyết
khiếu nại (sau đây gọi tắt là Quyết định số 217). Theo đó, một lần nữa, Chủ tịch
4
UBND xã N không công nhận nội dung khiếu nại của gia đình ông bà về việc
xác nhận nguồn gốc đất do gia đình đang sử dụng bị thu hồi đất để thực hiện Dự
án kè xã N.
Quyết định số 217/QĐ-UBND V/v giải quyết khiếu nại của ông Lê L và
bà Trần Thị C (lần đầu) là không thỏa đáng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp
pháp của ông, bà nên ông, bà khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 217. Đồng
thời yêu cầu Tòa án buộc UBND xã N xác định chủ sử dụng đất đúng thực tế
cho gia đình ông, bà; Giải quyết chính sách bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bà
đối với phần đất bị thu hồi 88m
2
theo quy định pháp luật. Yêu cầu UBND xã N
đề xuất cơ quan có thẩm quyền cấp gia đình ông, bà 01 lô đất tái định cư.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện xin rút
yêu cầu về việc hủy Quyết định số 217/QĐ-UBND V/v giải quyết khiếu nại của
ông Lê L và bà Trần Thị C (lần đầu) của Chủ tịch UBND xã N.
Tiếp tục khởi kiện yêu cầu: Hủy bỏ nội dung xác nhận của UBND xã N
(nay là UBND phường Q) đối với 88m
2
đất bị thu hồi, có 50,92m
2
là do “ông T5
cơi nới, lấn chiếm thêm 50,92m
2
phần tiếp giáp để mở quán sau ngày
01/7/2004”. Buộc UBND xã N (nay là phường Q) xác định chủ sử dụng đất
đúng thực tế cho toàn bộ diện tích đất bị thu hồi (88m
2
) là của gia đình ông L, bà
C. Trên cơ sở đó, giải quyết chính sách bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông L,
bà C đối với phần đất bị thu hồi 88m
2
theo quy định pháp luật. Anh T6 và bà C
xác định đây là hành vi hành chính. Anh T6 và bà C xác định người bị kiện đối
với hành vi hành chính là UBND xã N (nay là UBND phường Q).
Trên cơ sở, xác định đúng nguồn gốc đấy bị thu hồi, buộc UBND xã N
(Nay là UBND phường Q) kiến nghị, đề xuất các cấp có thẩm quyền giải quyết
cho gia đình ông 01 lô đất tái định cư theo chính sách của nhà nước.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Thành D – Phó
chủ tịch UBND xã N trình bày:
Tại văn bản số 61/UBND-ĐC ngày 11//8/2020 về xác nhận nguồn gốc đất
đai, nhà ở, vật kiến trúc và tài sản có trên đất bị ảnh hưởng di dời giải phóng mặt
bằng dự án kè xã N có nội dung: Đất có nguồn gốc của vợ chồng ông Lê L, bà
Trần Thị C lấn chiếm và xây dựng nhà từ đất chưa sử dụng do nhà nước quản lý
sau ngày 15/10/1993 và trước ngày 01/7/2004. Năm 2016 vợ chồng ông L, bà C
có cho ông Nguyễn Văn T4 thuê để mở quán, ông T4 sửa chữa lại nhà cũ, ông
T4 cơi nới lấn chiếm thêm 50,92m
2
phần đất tiếp giáp mở rộng quán. Năm 2018,
ông T4 nghỉ bán, tháo gở nhà và trả lại đất thuê. Tổng diện tích đất hộ sử dụng
là 110m
2
, diện tích thu hồi là 88m
2
, diện tích đất còn lại 22m
2
.
Trong quá trình giải quyết đơn của ông L, bà C, UBND xã N đã tiến hành
làm việc với ông T4 (người thuê đất của vợ chồng ông L, bà C) và một số hộ
dân để xác minh nguồn gốc sử dụng đất của ông L và bà C thể hiện qua biên bản
làm việc ngày 06/8/2020. Qua làm việc, các hộ dân trình bày: Năm 2016 ông T4
có thuê của vợ chồng ông L, bà C một phần đất từ cổng nhà ông L, bà C trở ra,
lúc này là khoản đất trống, bên cạnh đường đi có một ngôi nhà bằng gạch đã
xuống cấp, của một hộ dân đã thuê của ông L, bà C nhưng lâu không sử dụng.
5
Sau khi thuê đất, ông T4 đã sửa chữa lại ngôi nhà, phả nền. Tiếp đó ông T4 xin
phép UBND xã N đổ đất, xây mặt bằng, thuê lối đi trước mặt nhà ông L, bà C để
mở rộng quán kinh doanh, phần đất trước nhà ông L, bà C là bãi cát sau đó ông
L, bà C đã cho ông T4 thuê xây dựng quán, lúc xây dựng ông T4 cơi nới thêm
phần diện tích này ra ngoài bãi cát. Móng đá chẻ trước mặt nhà ông Lê L, bà C
là do ông T4 xây dựng năm 2018, ông T4 trả mặt bằng, tháo dỡ mái tole (theo
biên bản ngày 06/8/2020 và biên bản ngày 31/12/2020).
Ông L, bà C đã khiếu nại việc xác nhận lại nguồn gốc đất đối với thửa đất
đã bị thu hồi giải phóng mặt bằng Dự án kè Nhơn H đã được UBND xã N ban
hành Quyết định số 217/QĐ-UVND ngày 05//7/2021 về việc giải quyết khiếu
nại của ông Lê L và bà Trần Thị C.
Đồng thời tại văn bản số: 238/TTPTQĐ-GPMB ngày 24/8/2020 về việc trả
lời đơn của ông Lê L và bà Trần Thị C, UBND thành phố cũng đã ban hành
quyết định số 5563/QĐ-UBND ngày 19/8/2020 về việc thu hồi đất của gia đình
ông L, bà C.
UBND xã N (nay là UBND phường Q) không đồng ý yêu cầu khởi kiện
của vợ chồng ông Lê L, bà Trần Thị C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị T2; anh Lê Ngọc B;
chị Trần Thị Lệ T3; anh Lê Hồng K; chị Lê Thị T1:
Thống nhất với nội dung trình bày của vợ chồng ông Lê L và bà Trần Thị
C, không có ý kiến gì khác.
Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2025/HC-ST ngày 29, 30 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Gia Lai đã quyết định:
1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu huỷ Quyết định số: 217/QĐ-UBND ngày
05/7/2021 của Chủ tịch UBND xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là
UBND phường Q, tỉnh Gia Lai) của ông Lê L và bà Trần Thị C.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê L, bà Trần Thị C về việc yêu
cầu UBND xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là UBND phường Q, tỉnh
Gia Lai) xác định lại nguồn gốc đất vì không phải là đối tượng khởi kiện của vụ
án hành chính.
Ngày 06/10/2025, người khởi kiện ông Lê L, bà Trần Thị C có đơn kháng
cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu
cầu của người khởi kiện hủy bỏ nội dung xác định nguồn gốc đất của UBND xã
N (nay là UBND phường Q) đối với 88m
2
đất bị thu hồi. Buộc UBND phường Q
xác định lại nguồn gốc đất đúng thực tế cho toàn bộ diện tích 88m
2
đất bị thu hồi
là của gia đình ông L bà C. Buộc UBND phường Q kiến nghị, đề xuất các cấp có
thẩm quyền cấp cho hộ gia đình ông 01 lô đất tái định cư.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện; giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai
phát biểu xác định về trình tự, thủ tục Tòa án thực hiện trong quá trình giải
6
quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật và đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của người
khởi kiện; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả
tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện
vụ án hành chính, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết là phù hợp với quy
định tại Điều 3; Điều 30; khoản 2 Điều 32; Điều 116 Luật tố tụng hành chính
năm 2015.
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ông Lê L và bà Trần Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa
án hủy Quyết định số 217/QĐ-UBND ngày 05 tháng 7 năm 2021 về việc giải
quyết khiếu nại của ông Lê L và bà Trần Thị C (lần đầu) của Chủ tịch UBND xã
N đồng thời người bị kiện cho rằng việc UBND xã N xác định nguồn gốc 88m
2
đất bị thu hồi tại thửa đất số 15, tờ bản đồ số 13 tại thôn H, xã N, thành phố Q,
tỉnh Bình Định ( nay là UBND phường Q, tỉnh Gia Lai) là hành vi hành chính
nên yêu cầu Tòa án buộc UBND xã N ( nay là UBND phường Q) xác định lại
nguồn gốc đất nói trên. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Khiếu
kiện hành vi hành chính về quản lý đất đai và Quyết định giải quyết khiếu nại”
là không đúng với nội dung khởi kiện của đương sự. Do đó, Hội đồng xét xử xác
định lại quan hệ pháp luật là “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
[1.2]. Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện
là UBND phường Q; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Ngọc B, chị
Trần Thị Lệ T3, anh Lê Hồng K và chị Lê Thị T1 đều có đơn xin xét xử vắng
mặt; chị Lê Thị T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng
mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 225 Luật
Tố tụng hành chính Tòa án tiến hành xử vắng mặt các đương sự nói trên.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Lê L và bà Trần
Thị C, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1]. Tại Văn bản số 61/UBND - ĐC ngày 11/8/2020 của Ủy ban nhân
dân xã N về xác nhận nguồn gốc đất đai, đất ở, vật kiến trúc và tài sản có trên
đất bị ảnh hưởng di dời GPMB dự án K, xã N (đợt bổ sung) kèm theo Danh sách
hộ gia đình có đất đai, nhà ở và tài sản có trên đất bị ảnh hưởng GPMB dự án kè
N (đợt bổ sung), UBND xã xác nhận với nội dung: “Đất có nguồn gốc do vợ
chồng ông Lê L và bà Trần Thị C lấn chiếm từ đất chưa sử dụng do Nhà nước
quản lý sau 15/10/1993 trước 01/7/2016, vợ chồng ông L cho ông T4 thuê để mở
quán, ông T4 cơi nới, lấn chiếm thêm 50,92m
2
phần đất tiếp giáp để mở quán.
Năm 2018, ông T4 nghỉ bán tháo dỡ nhà và trả lại đất thuê”.
7
Người khởi kiện ông Lê L và bà Trần Thị C nại rằng: Việc xác định
nguồn gốc đất theo Công văn số 61 nói trên là không có cơ sở vì đất này có
nguồn gốc đất của vợ chồng bà và việc cơi nới là do vợ chồng ông bà thực hiện.
Tuy nhiên, việc xác định nguồn gốc đất và thời điểm sử dụng đất chỉ là
một trong các điều kiện để Ủy ban nhân dân thành phố Q xem xét ban hành
Quyết định số 5563/QĐ-UBND ngày 19/8/2020 về việc thu hồi đất của hộ gia
đình ông Lê L và bà Trần Thị C do ảnh hưởng GPMB công trình Dự án Kè xã
N, thành phố Q (đợt 11). Do đó, hành vi xác nhận nguồn gốc đất theo Công văn
số 61 của UBND xã N và yêu cầu xác định lại nguồn gốc đất đúng thực tế cho
toàn bộ diện tích 88m
2
đất bị thu hồi là của gia đình ông L bà C không phải là
hành vi hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật tố tụng hành chính
nên không được xem là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê L và bà
Trần Thị C về việc yêu cầu UBND xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là
Ủy ban nhân dân phường Q, tỉnh Gia Lai) xác định lại nguồn gốc đất là có căn
cứ.
[2.2]. Đối với yêu cầu của người khởi kiện ông Lê L và bà Trần Thị C yêu
cầu buộc UBND xã N (Nay là UBND phường Q) kiến nghị, đề xuất các cấp có
thẩm quyền cấp cho hộ gia đình ông L bà C 01 lô đất tái định cư. HĐXX thấy
rằng, nội dung này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, thụ lý giải quyết tại
giai đoạn sơ thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể giải quyết được.
[3]. Về án phí hành chính phúc thẩm: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1
Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Lê L và bà Trần Thị C là người cao tuổi nên
được miễn tiền án phí.
[4]. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
[5]. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của người bị kiện; Giữ
nguyên bản án Hành chính sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét
xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 24, điểm h khoản 1 Điều 143, điểm a khoản 1 Điều
123, Điều 144 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
8
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê L, bà Trần Thị C. Giữ nguyên
bản án Hành chính sơ thẩm số 05/2025/HCST ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai.
1.1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu huỷ Quyết định số 217/QĐ-UBND ngày
05/7/2021 của Chủ tịch UBND xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là
UBND phường Q, tỉnh Gia Lai) của ông Lê L và bà Trần Thị C.
1.2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê L, bà Trần Thị C về việc yêu
cầu UBND xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là UBND phường Q, tỉnh
Gia Lai) xác định lại nguồn gốc 88m
2
đất bị thu hồi tại thửa đất số 15, tờ bản đồ
số 13 tọa lạc thôn H, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là UBND phường
Q, tỉnh Gia Lai).
2. Về án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Lê L và bà Trần Thị
C được miễn.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Lê L và bà Trần Thị C phải chịu 2.000.000
đồng (hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sơ thẩm (đã nộp xong).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;
- Tòa án nhân dân KV1- Gia Lai;
- Viện kiểm sát nhân dân KV1- Gia Lai;
- Phòng Thi hành án Dân sự KV1-Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đỗ Thị Thắm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm