Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 20/05/2025 của TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2025/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 20/05/2025 của TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Tam Điệp (TAND tỉnh Ninh Bình)
Số hiệu: 01/2025/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 01/2025/KDTM -ST
Ngày 20 tháng 5 năm 2025.
V/v “tranh chấp hợp đồng
Mua bán hàng hoá”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Thu Hương;
2. Ông Nguyễn Văn Minh.
- Thư phiên tòa: Thị Thu Linh Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên toà:
bà Trịnh Thị Huế - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2025 tại phòng xét xử. Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2024/TLST- KDTM ngày 23 tháng 12
năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 01/2025/QĐXX-ST ngày 24 tháng 3 năm 2025; Quyết định tạm ngừng
phiên toà số 01/2025/QĐST KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2025 giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH V
Địa chỉ: số C đường L, phố L, phường N, thành phố N (nay thành phố H),
tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo pháp luật: ông Huy P, chức vụ giám đốc; người đại
diện theo ủy quyền của Công ty TNHH V Vân A (theo văn bản ủy quyền ngày
24/3/2025)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: ông Tạ Văn H luật Công ty L
đoàn luật sư thành phố H (có mặt).
Bị đơn: Công ty TNHH N
Địa chỉ: đường Q, tổ D, phường T, thành phố T, tnh Ninh Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị H1 chủ tịch HĐQT kiêm Giám
đốc (có đơn xin xét xử vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2024, lời khai của người đại diện
theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: ngày 01/9/2023 Công ty TNHH V (gọi tắt
là bên B) và Công ty TNHH N ( gọi tắt bên A) ký kết Hợp đồng mua bán xi măng
số 102 về việc mua bán xi măng. Ngày 13/10/2023 bên Công ty TNHH V đã thanh
toán tiền cho bên bán 3 lần với tổng số tiền 1.193.427.000 đồng. Sau khi chuyển tiền
mua hàng xong bên bán đã không thực hiện theo thoả thuận, bên B đã nhiều lần yêu
cầu bên A trả lại toàn bộ số tiền hàng bên B đã thanh toán nhưng bên A không
trả cũng như thực hiện hợp đồng.
Tháng 7/2024 Công ty đã làm đơn lên Tán yêu cầu thanh toán tiền, tại toà
án hai bên đã thoả thuận phía công ty N sẽ trả lại tiền, trả trong tháng 9 số tiền
300.000.000đ cuối tháng 9 số tiền 300.000.000đ. đến cuối tháng 9 phía công ty
N không thực hiện thoả thuận nên ngày 10/10/2024 phía công ty V gửi đơn khởi
kiện. Tại toà án hai công ty đã thoả thuận trả lại tiền hàng trước 31/12/2024. Đến
ngày 04/12/2024 công ty V nhu cầu tiếp tục lấy hàng nên công ty đơn đặt hàng
vào ngày 16/12/2024 với số lượng 200 tấn xi ng Hệ Dưỡng, nhưng công ty TNHH
N chỉ đồng ý trả 30 tấn xi măng Duyên Hà nên hai bên không có tiếng nói chung.
Công ty V yêu cầu công ty TNHH N trả lại cho công ty V toàn bộ khoản tiền
hàng đã thanh toán số tiền 893.427.000đ buộc phải trả lãi bằng 150% lãi suất quá
hạn cho bên B từ ngày bên B chuyển tiền cho đến ngày 20/5/2025 số tiền lãi suất và
lãi phạt 312.169.693 đ.
Ngoài ra tại phiên toà công ty V còn yêu cầu công ty N phải chịu phạt do vi
phạm hợp đồng 8% trên tổng số tiền đã chuyển số tiền 95.474.160đ
Tổng các khoản phải trả là: 893.427.000đ + lãi phạt 312.169.693 đ + lãi do vi
phạm hợp đồng 95.474.160đ = 1.301.070.853đ
Tại các bản khai ng ty TNHH N trình bày: vào ngày 01/9/2023 Công ty
TNHH V Công ty TNHH N kết Hợp đồng mua bán xi măng số 102 về việc
mua bán xi măng. Ngày 13/10/2023 bên Công ty TNHH V chuyển tiền mua xi măng
cho Công ty TNHH N số tiền 1.193.427.000đ, sau khi nhận được tiền ng ty TNHH
N không nhận được đơn đặt hàng với số lượng, loại xi măng, cũng như mác xi măng
bao nhiêu do đó bên A cho rằng bên B chưa nhu cầu lấy hàng. Suốt thời gian ch
đợi đến ngày 20/8/2024 bên A biết được bên B đã gửi đơn đến Toà án, trong quá
trình giải quyết tại Toà án hai bên đã thoả thuận trong tháng 9 bên A sẽ trả lại
300.000.000đ cho bên B. Số tiền còn lại sẽ được thanh toán bằng xi măng trong năm
2024 trường hợp nếu trong năm 2024 bên A không cung cấp được hàng tbên Công
ty TNHH V ( tức bên B) quyền khởi kiện ra toà. Nhưng không hiểu do
ngày 10/10/2024 Công ty TNHH V lại tiếp tục làm đơn khởi kiện lên Toà án, trong
quá trình giải quyết tại Toà án phía Công ty N vẫn có thiện trí tiếp tục thực hiện hợp
đồng về việc cung cấp xi măng theo hợp đồng đã ký. Ngày 16/12/2024 công ty N
nhận được đơn đặt hàng của Công ty TNHH V, sau khi nhận được đơn đặt hàng phía
Công ty TNHH N xác nhận Công ty TNHH N chỉ cung cấp xi măng D, lấy tại
nhà máy, bên B tự vận chuyển và số lượng từ 20 đến 30 tấn với đơn giá PCB 40
3
1.010.000đ/tấn ( chưa VAT 8%) sau khi xác nhận thì phía Công ty TNHH V không
có phản hồi về việc có lấy hay không lấy hàng. Vì vậy công ty TNHH N không thể
tiếp tục thực hiện hợp đồng như đã thoả thuận.
Nay công ty TNHH N hoàn trả lại số tiền đã nhận, không nhất trí việc tính lãi
và lãi phạt vì phía bên công ty TNHH N không vi phạm hợp đồng.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp phát biểu quan điểm về
việc giải quyết vụ án: Về việc chấp hành pháp luật của Thành viên hội đồng xét xử,
thư Tòa án từ khi thụ đến khi mở phiên tòa; việc xác định cách của người
tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430, khoản 1 Điều 431, Điều 466 BLDS;
khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016/ UBTVQH ngày 30-12 -
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lphí
Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V. Buộc Công
ty TNHH N trả cho Công ty TNHH V số tiền hàng đã thanh toán 893.427.000 đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V đối với khoản
tiền lãi suất quá hạn vì đã vi phạm hợp đồng là 312.169.693 đồng.
3. Đề nghị Toà án không xem xét giải quyết đối với yêu cầu vượt quá yêu cầu
khởi kiện phạt vi phạm hợp đồng 8% số tiền là 95.474.160 đồng.
4 về án phí:
+ Công ty TNHH N phải chịu án phí số tiền 38.802.000đồng án phí kinh doanh
thương mại;
+ Công ty TNHH V phải nộp 15.608.484 đồng án phí kinh doanh thương mại
được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.078.000đ theo biên lai thu tiền
tạm ứng án psố 0000512 ngày 23/12/2024 tại Chi cục thi nh án dân sự thành
phố Tam Điệp. H2 lại cho Công ty TNHH V số tiền 11.469.516 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp nhận
định:
[1] Về tố tụng: về thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Công ty TNHH V Công ty TNHH N đều có giấy chứng nhận đăng doanh
nghiệp loại hình công ty TNHH một thành viên cách pháp nhân. Hai công
ty ký hợp đồng mua bán xi măng vào năm 2023, đều vì mục đích lợi nhuận do đó
tranh chấp trong hợp đồng được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
4
Khi hợp đồng các bên thoả thuận tranh chấp sảy ra sđược giải quyết
tại toà kinh tế, Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Việc các bên thoả thuận trong hợp
đồng về việc toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh giải quyết là không đúng quy định về
thẩm quyền được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Công ty TNHH N trụ sđăng tại đường Q, tổ D, phường T, thành phố T,
tỉnh Ninh Bình, nên thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện thẩm quyền giải quyết
được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật T
tụng dân sự.
[2] Về nội dụng:
[2.1] Nội dung của hợp đồng. Ngày 01/9/2023 Công ty TNHH V Công ty
TNHH N ký kết Hợp đồng mua bán xi măng số 102/2023/HĐXM/NMS-YL với nội
dung bên A đồng ý bán cho bên B các loại xi măng của bên A kinh doanh; khối
lượng hàng hoá: theo kế hoạch đặt hàng của B và được sự đồng ý ca A; tiêu chuẩn
theo tiêu chuẩn của V;2009 áp dụng cho xi măng; ngoài ra trong hợp đồng còn quy
định trách nhiệm của các bên về phương thức giao hàng; giá cả, phương thức thanh
toán; điều khoản chung.
Ngày 13/10/2023 bên B đã chuyển tiền để mua hàng với stiền 1.193.427.000đ
cho bên A để mua xi măng. Sau khi chuyển tiền bên B không có văn bản nào thông
báo về việc đặt hàng loại xi măng cần lấy, số lượng là bao nhiêu tấn. Tháng 7/2024
công ty TNHH V khởi kiện đến Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Toà án nhân dân
tỉnh Ninh Bình chuyển đơn khởi kiện theo đường u chính cho Toà án nhân dân
thành phố Tam Điệp giải quyết theo thẩm quyền.
Người khởi kiện yêu cầu chuyển vụ việc sang Hoà giải theo Luật hoà giải
đối thoại tại Toà án. Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp đã chuyển vụ việc sang
Hoà giải đối thoại tại Toà án, trong quá trình hoà giải đối thoại các bên đã thoả thuận
được với nhau về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký, bên B rút đơn khởi kiện,
đến ngày 10/10/2024 công ty TNHH V lại tiếp tục khởi kiện về việc tranh chấp hợp
đồng trên yêu cầu Công ty TNHH N phải trả lại số tiền hàng đã chuyển lãi suất
phạt 150% theo hợp đồng.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty TNHH N phải trả lại
số tiền hàng đã nhận là: 893.427.000đ và tiền lãi tính đến ngày 20/5/2025 số tiền lãi
suất lãi phạt 312.169.693đ. Ngoài ra tại phiên toà nguyên đơn còn đề nghị phạt
vi phạm hợp đồng 8% theo Luật thương mại số tiền là 95.474.160đ
Xét thấy thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, phù hợp với quy định tại
Điều 34, 35, 44, 50, 52, 55, 56 Luật thương mại và phù hợp với quy định của pháp
luật. Việc bên A không giao ng cho bên B, lỗi do bên B không đơn đặt hàng,
loại xi măng cần lấy cũng như mác xi măng, số lượng cần lấy trong ngày bao
nhiêu. Tại Điều III của hợp đồng các bên đã ký phương thức giao hàng: thời gian
giao ng tất cả c ngày trong tuần, tại nmáy xi măng trên phương tiện của
bên B” trên sở lấy hàng bên B phải thông báo cho bên A kế hoạch nhập hàng từng
đợt về chủng loại, số lượng xi măng và thời gian cung cấp. Trong hồ thể hiện sau
khi hợp đồng, hai bên không thoả thuận nào khác, bên B không đơn đặt
5
hàng, các phiếu đxuất hàng ghi các ngày 03/12/2023; 27/12/2023; 08/01/2024
không xác nhận của bên A đã nhận được phiếu đề nghị xuất hàng, điều y th
hiện phía ng ty TNHH N chưa nhận hay xác nhận về việc đặt hàng của bên B. Hội
đồng xét xngừng phiên toà để thu thập thêm chứng cứ. Tại văn bản trả lời của bưu
chính ngày 09/5/2025 thể hiện ngày 04/12/2023 chị H3 nhận chuyển phát của
công ty TNHH V; ngày 27/12/2024 bưu thiếp được chuyển đến cho công ty TNHH
N; ngày 08/1/2024 bưu thiếp được chuyển đến cho công ty TNHH N. Việc chuyển
bưu thiếp chỉ thể hiện tài liệu chuyển từ công ty TNHH V đến công ty TNHH N,
không thể hiện nội dung gì.
Ngày 20/8/2024 công ty TNHH V gửi đơn đến Toà án đề nghị giải quyết,
trong quá trình hoà giải đối thoại tại Toà án, hai bên đã thoả thuận trong tháng 9/2024
Nhất Minh S sẽ trả lại 300.000.000đ cho bên B. Số tiền còn lại sẽ được trả bằng xi
măng trong năm 2024 trường hợp nếu trong năm 2024 bên A không cung cấp được
hàng thì bên Công ty TNHH V (tức bên B) quyền khởi kiện ra Toà án. Như vậy
thể hiện thiện chí của các bên vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký, điều này được
thể hiện sau khi nhận phiếu đặt hàng ngày 16/12/2024 phía công ty N phản hồi
về việc đặt hàng của bên B trong đó thể hiện bên A chỉ cung cấp xi măng Duyên Hà,
lấy tại kho nhà máy, bên mua tự vận chuyển, từng lần từ 20 đến 30 tấn xi măng Pcb
40 là 1.010.000đ ( chưa VAT 8%), thể hiện đúng như thoả thuận trong hợp đồng đã
ký. Như vậy thể hiện phía ng ty N không có lỗi trong việc vi phạm hợp đồng, việc
công ty TNHH V yêu cầu tính lãi 150% không sở đchấp nhận, n nữa
trong hợp đồng chỉ quy định bên B chậm thanh toán tiền hàng cho bên A thì B phải
chịu 150% lãi quá hạn cho bên A (quy định tại Điều II của hợp đồng đã ký). Do hợp
đồng không được thực hiện nên bên A phải trả lại số tiền đã nhận cho bên B.
Tại phiên toà ngày 23/4/2025 đại diện công ty TNHH V khẳng định ngày
16/12/2024 phía công ty phiếu đặt hàng mong muốn thực hiện hợp đồng s
102/2023 mà hai bên đã ký. Điều này thể hiện thiện tmong muốn ca các bên
về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký, đồng nghĩa với việc hợp đồng vẫn đang
còn hiệu lực để các bên thực hiện hợp đồng đã ký. Việc công ty TNHH V khởi kiện
đến Toà án từ tháng 8/2024 là do ý thức của bên B vừa mong muốn thực hiện hợp
đồng đã ký, vừa yêu cầu Toà án giải quyết. Như vậy thể hiện phía công ty N hoàn
toàn không có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng đã ký.
Việc phát sinh tranh chấp phải được tính từ khi hai bên chấm dứt hợp đồng
kinh tế đã ký, tức ngày 31/12/2024. Do bên công ty N không có lỗi trong việc thực
hiện hợp đồng đã n không phải chịu lãi phạt theo quy định tại điều 306 Luật
thương mại
Tại tiểu mục 2 mục II của hợp đồng quy định cho bên B thanh toán cho bên
A đúng thời hạn quy định tại điều IV. Nếu thanh toán chậm tphải chịu 150% lãi
suất quá hạn cho bên A” như vậy việc các bên ký kết trong hợp đồng chỉ quy định
thoả thuận vlãi phạt khi B thanh toán không đầy đủ tiền hàng cho bên A, thời điểm
tính lãi được tính từ thời điểm phát sinh tranh chấp.
6
Theo án lệ số: 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị
trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại được Hội đồng
thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 10 năm 2016 được
công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án
Toà án nhân dân tối cao: Theo đó, trường hợp hợp đồng mua bán hàng hoá bị vi
phạm do bên bán không giao hoặc không giao đhàng cho bên mua, dẫn đến vic
bên bán có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền ứng trước và tiền lãi do chậm thanh toán t
Toà án phải xác định tiền lãi do chậm thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn
trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba
Ngân hàng tại địa phương tại thời điểm thanh toán”
Ngày hết thời hạn của hợp đồng đã ký ngày 31/12/2024 thì ngày tính lãi được
tính từ ngày 01/01/2025; lãi suất được tính bình quân lãi suất bình quân của 3 ngân
hàng trên địa bàn tại thời điểm t xử: i suất của ngân hàng B cung cấp 8,2%
trên năm; ngân ng A1 8% trên năm; ngân hàng V1 9% năm. Lãi bình quân
liên ngân hàng được tính là 8,4%; lãi quá hạn 12,6% trên năm.
Đối với yêu cầu tính lãi phạt 8% giá trị của hợp đồng, tương đương với số tiền
95.474.160đ nguyên đơn yêu cầu tại phiên toà. Tại đơn khởi kiện suốt quá
trình hoà giải cũng như phiên kiểm tra chứng cứ cho đến trước khi mở phiên toà
công ty TNHH V không yêu cầu, tại phiên tngày 23/4/2025 mới đề nghị khoản
tiền phạt là vượt quá yêu cầu khởi kiện do đó HĐXX không xem xét về việc tính lãi
phạt do vi phạm hợp đồng.
Từ những sở nêu trên căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
công ty TNHH V về việc buộc công ty TNHH N phải trả lại số tiền ng đã nhận
893.427.000đ.
Chấp nhận một phần tiền lãi: cụ thể được tính cthể như sau tính từ ngày phát
sinh tranh chấp đến ngày xét xử thẩm 4 tháng 20 ngày được tính trên số tiền
phải trả là 893.427.000đ x 4 tháng 20 ngày x 12,6% năm = 43.777.000đ
[3] Về án phí.
+ Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận đối với số tiền đã chuyển nên
nguyên đơn không phải chịu án phí; đối với khoản tiền lãi chỉ được chấp nhận một
phần do đó nguyên đơn phải chịu án phí đối với khoản yêu cầu tính lãi không được
chấp nhận, trừ đi khoản tiền tạm ứng đã nộp nên được hoàn trả lại cho nguyên
đơn số tiền tạm ứng án phí sau khi đã đối trừ được tính cụ thể nsau: 312.169.000đ
số tiền được chấp nhận về tiền lãi suất 43.777.000đ = 268.392.000 đ x 5% án phí=
13.419.000đ; số tiền tạm ứng đã nộp 27.078.000đ – 13.419.000đ = 13.659.000đ
+ Bị đơn công ty TNHH N phải chịu án phí kinh doanh thương mại thẩm
theo quy định pháp luật được tính cụ thể như sau: 893.427.000đ + 43.777.000đ
= 937.204.000đ; số tiền án phí được tính 40.116.000đ
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ: khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a
khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 34, điều 35, điều 44, điều
50, điều 52, điều 55, điều 56, điều 306 Luật Thương mại; Điều 430, khoản 1 Điều
431, Điều 466 Bộ luật dân sự.
Áp dụng án lệ số: 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên
thị trường việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại được Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 10 năm 2016
được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của
Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
Áp dụng khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016/ UBTVQH
ngày 30-12 - 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH V yêu cầu
Công ty TNHH N phải trả lại số tiền hàng và tiền lãi suất.
2. Buc Công ty TNHH N phải trả số tiền đã nhận cho công ty TNHH V số
tiền 893.427.000đ tiền hàng và 43.777.000đ tiền lãi suất.
Tổng hai khoản 937.204.000đ (chín trăm ba mươi bẩy triệu, hai trăm linh
tư nghìn đồng chẵn)
3.1 Về lãi suất chậm thi hành án: kể từ ngày đơn thi hành án của bên được
thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2
Điều 468 của B luật dân sự năm 2015.
3.2 Không chấp nhận đối với yêu cầu lãi phạt 150% do vi phạm hợp đồng;
không xem xét giải quyết đối với yêu cầu vượt quá yêu cầu khởi kiện phạt vi phạm
hợp đồng 8% số tiền là 95.474.160 đồng.
4. Về án phí:
4.1 Công ty TNHH N phải chịu án phí kinh doanh thương mại dân sơ thẩm
là 40.116.000 đồng (bốn mươi triệu, một trăm mười sáu nghìn đồng)
4. 2 ng ty TNHH V phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp
nhận số tiền 13.419.000đ ( mười ba triệu bốn trăm mười chín nghìn đồng) được đối
trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.078.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0000512 ngày 23/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam
Điệp.
H2 lại stiền 13.659.000đ ( Mười ba triệu, sáu trăm năm ơi chín nghìn đồng)
cho công ty TNHH V.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
8
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều
9 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tình Ninh Bình;
- VKSND thành phố Tam Điệp;
- Chi cục THADSthành phố Tam Điệp ;
- Các Đương sự;
- Lưu HS; VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đã
Phan Ngọc Hà
Tải về
Bản án số 01/2025/KDTM-ST Bản án số 01/2025/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2025/KDTM-ST Bản án số 01/2025/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất