Bản án số 98/2026/HS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 98/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 98/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 98/2026/HS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 98/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 98/2026/HS-PT
Ngày: 25/05/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà
Hồ Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng mở phiên
toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2026/TLPT-HS ngày
28 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo Lê Tấn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 18-3-2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 8, tỉnh Lâm Đồng.
Lê Tấn Đ, sinh ngày 04/11/1998; nơi sinh tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn S,
xã T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước
075098000778 do sát QLHC về TTXH cấp ngày 26/5/2025; con ông Lê Tấn P, sinh
năm 1973 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; chưa có vợ, con; tiền sự: Không.
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 661/2023/HS-ST ngày
05/12/2023, của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt Lê
Tấn Đ 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 11/02/2025 đã chấp hành
xong hình phạt và án phí, chưa được xóa án tích.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân
trại tạm giam Đ – Cơ sở 2 - có mặt.
Bị hại: Bà Điểu Thị L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, tỉnh Lâm Đồng
- vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Văn X, sinh năm 1965; Địa chỉ: Bon P, xã Q, tỉnh Lâm Đồng - vắng
mặt.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn S, xã T, tỉnh Đồng Nai - có
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 20/10/2025, Lê Tấn Đ điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu DREAM
(không có biển kiểm soát) từ Thôn T, xã T, tỉnh Đồng Nai đến xã Q, tỉnh Lâm Đồng
thì Đ nhìn thấy một biển quảng cáo, ghi nội dung “mua, bán bò” dựng bên lề đường,
có ghi số điện thoại 0347.474.331 của ông Võ Văn X nên Đ đã lưu số điện thoại trên
vào điện thoại của mình. Do không có tiền tiêu xài cá nhân, Đ nảy sinh ý định trộm
cắp bò đem đi bán.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô di chuyển đến B, xã Q, tỉnh
Lâm Đồng thì phát hiện 01 con bò màu nâu – vàng của bà Điểu Thị L đang buộc tại
vườn cây điều không có người trông coi. Đ đi đến tháo dây thừng và dắt bò theo
đường đất đi lên vị trí để xe máy. Khi đến nơi, Đ nổ xe máy, một tay cầm dây thừng
dắt bò, tay còn lại điều khiển xe đi ra hướng đường lớn. Khi đến đường bê tông, Đ
buộc con bò vào gốc cây điều và lấy điện thoại gắn sim số 0349.841.589 gọi vào số
0347.474.331 mà Đ đã lưu thì gặp ông Võ Văn X, Đ hỏi “chú có mua bò không”,
ông X trả lời là “có”, ông X hỏi Đ ở đâu để ông X đến xem bò thì Đ nói đang ở Khu
G thuộc Thôn B, xã Q, tỉnh Lâm Đồng. Đ hẹn gặp ông X chỗ cây cầu đang xây, rồi
Đ đón ông X đi xem bò. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, ông X đến gặp Đ và
xem bò, ông X có hỏi bò này của ai, do sợ bị lộ nên Đ nói bò của chị gái Đ nhà ở xã
Q, tỉnh Lâm Đồng nhờ Đ bán hộ. Sau đó cả hai thống nhất bán bò với giá 11.300.000
đồng. X nói Đ dắt bò ra đầu đường để ông X thuê xe chở bò về, sau khi chở về mới
thanh toán tiền. Do chờ lâu nên Đ trực tiếp dắt bò lên nhà ông X. Khi đến nơi, Đ yêu
cầu ông X trả thêm 200.000 đồng, vì Đ dắt bò lên tận nhà, không phải thuê xe chở.
Lúc này ông X chỉ còn lại số tiền 11.470.000 đồng nên đưa cho Đ và Đ đồng ý lấy
số tiền trên. Ông X nghi ngờ Đ trộm bò của người khác nên ông X lấy điện thoại ra
quay lại và yêu cầu Đ xác nhận thông tin, Đ nói dối tên Lê Thành D và bán bò hộ
chị gái. Sau khi nhận tiền, Đ tiêu xài cá nhân hết 8.970.000 đồng, còn số tiền
2.500.000 đồng Đ vẫn giữ trong người.
Ngày 21/10/2025, sau khi được vận động, Lê Tấn Đ đưa số tiền 2.500.000
đồng còn lại cho mẹ là bà Nguyễn Thị H để trả cho ông X rồi đến Công an xã Q,
tỉnh Lâm Đồng đầu thú và khai nhận hành vi trộm bò trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 27/10/2025, của Hội
đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Lâm Đồng kết luận: Giá trị tài sản
(bò cái, trọng lượng 320kg, nuôi lấy thịt) tại thời điểm định giá ngày 20/10/2025 có
giá trị 24.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKS-KV7 ngày 03/02/2026, của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 7 - Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Lê Tấn Đ về tội: “Trộm cắp tài sản”
theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (viết tắt: BLHS)..
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 18-3-2026 của Toà án
nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội:
“Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ1 (một) năm 9 (chín)
tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt
tạm giữ, tạm giam ngày 22/10/2025
Ngày 30-03-2026, bị cáo Lê Tấn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Lê Tấn Đ thừa nhận Tòa án nhân dân khu vực 7 –
Lâm Đồng xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ
luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sau khi phân tích các tình tiết
của vụ án, trình bày quan điểm: Mặc dù tại phiên toà có căn cứ bị cáo tự thú về hành
vi phạm tội của mình, tuy nhiên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố
tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã
tuyên.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Xuất phát từ mục đích có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Lê
Tấn Đ đã chủ động nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Khi đi đến
khu vực B, xã Q, tỉnh Lâm Đồng, phát hiện 01 con bò của bà Điểu Thị L đang bị
buộc tại vườn điều, không có người trông coi, bị cáo đã lợi dụng sơ hở này, lén lút
tháo dây dắt bò ra khỏi nơi quản lý của chủ sở hữu. Không dừng lại ở việc chiếm
đoạt, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi nhằm hợp thức hóa việc chiếm đoạt tài sản
khi chủ động liên hệ tìm người mua, trực tiếp thỏa thuận và bán con bò cho ông Võ
Văn X để lấy số tiền 11.470.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Chuỗi hành vi
của bị cáo thể hiện rõ ý thức chiếm đoạt ngay từ đầu, được thực hiện một cách lén

lút, có tính toán và bị cáo đã thực tế chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm
đoạt là 24.000.000 đồng theo kết luận định giá. Với hành vi nêu trên, bị cáo đã xâm
phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu
của tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó,
Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” là có căn
cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung kháng cáo: Bị cáo Lê Tấn Đ kháng cáo xin được giảm nhẹ
hình phạt. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đầy đủ
tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Cụ thể, bị cáo được áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, đã tác động gia
đình bồi thường thiệt hại, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không
yêu cầu bồi thường thêm. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án về tội
xâm phạm sở hữu, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp
tái phạm. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật, cần xử lý nghiêm để giáo
dục, răn đe và phòng ngừa chung. Mức hình phạt 01 năm 09 tháng tù mà Tòa án cấp
sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tương xứng với
nhân thân của bị cáo và nằm trong khung hình phạt do luật định. Tại phiên tòa phúc
thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo
quy định của pháp luật để làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, không có
cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; cần giữ nguyên mức
hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
Từ những căn cứ nêu trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo,
giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
[3]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng
tại phiên tòa là phù hợp, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Tấn Đ, giữ nguyên Bản án sơ
thẩm số 19/2026/HS-ST ngày 18-3-2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Lâm
Đồng.

Tuyên bố bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/10/2025
2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ
luật Hình sự; căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L trả lại cho bà Điểu Thị
L 01 con bò lông màu vàng - nâu, giống bò cái có trọng lượng 320kg là tài sản hợp
pháp của bà Điểu Thị L.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ban hành Quyết
định xử lý vật chứng trả lại cho bà Nguyễn Thị H 01 xe mô tô biển kiểm soát: 70H3-
6458 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị H.
- Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ lưu giữ hình ảnh và video do bà Vũ
Thị X1 cung cấp; 01 thẻ nhớ lưu giữ video do ông Võ Văn X cung cấp là chứng cứ,
dữ liệu điện tử của vụ án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Tấn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn
đồng)án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ I);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Lâm Đồng;
- CQTHAHS Công an tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 7 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 7 - Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 7 - Lâm Đồng;
- Bị cáo; NTGTTK;
- Lưu: Tổ HCTP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên, đóng dấu)
Dương Hà Ngân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 01/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm