Bản án số 97/2026/HS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 97/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 97/2026/HS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 97/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 97/2026/HS-PT
Ngày: 25-5-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân.
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà:
Hồ Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng mphiên
toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2026/TLPT-HS ngày 05
tháng 03 năm 2026, đối với bị cáo Bùi Thị T do kháng cáo của người quyền
lợi, nghĩa vliên quan ông Tôn Long N Nguyễn Thị T1 đối với Bản án hình
sự thẩm s34/2025/HS-ST ngày 26-12-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 -
Lâm Đồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số77/2026/QĐ-PT ngày 01/04/2026,
đối với bị cáo:
Bùi Thị T, sinh năm 1985 tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Khu phố P, phường
T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Thiên chúa giáo;
quốc tịch: Việt Nam; số căn cước 070185006916 do Cục sát QLHC về TTXH - Bộ
C1 ngày 28/6/2021; con ông Bùi Văn C Hoàng Thị N1; có chồng là Trần Duy
B (đã ly hôn) 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tm giam tngày
29-12-2022 đến ngày 08-12-2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Tôn Long N, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1968
mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tôn Long N Nguyễn Thị T1:
Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975 Có mặt.
Địa chỉ: TDP A, xã K, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Tôn Long N, bà Nguyễn Thị
T1: Ông Xuân Anh P ông Nguyễn Văn L, Luật của Công ty L2 và Công
sự, Đoàn sư tỉnh Đ Vắng mặt. (Ông N, T1 trình bày việc vắng mặt là do ông
không tiếp tục đề nghị ông Xuân Anh P ông Nguyễn Văn L bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp).
Địa chỉ: Số I P, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1986 Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ B, khu phố C, phường Đ, tỉnh Đồng Nai.
Ông Thọ B1, sinh năm 1969 Thị K, sinh năm 1974 Vắng mặt
(từ chối nhận văn bản tố tụng).
Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố X, phường B, tnh Đồng Nai.
Anh Bùi Ngọc T3, sinh năm 1987 Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố T, phường B, tnh Đồng Nai.
Chị Hoàng Thị Như Q, sinh năm 1992 Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, tỉnh Đồng Nai.
Chị Bùi Thị T4, sinh năm 1994 Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ B, khu phố P, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Ông Lê Văn H1, sinh năm 1969 Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp D, phường C, tỉnh Đồng Nai.
Lê Thị H2, sinh năm 1973 Vắng mặt
Địa chỉ: Đường T, khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh
Chị Trần Thị Thu H3, sinh năm 1998 Vắng mặt.
Địa chỉ: Số A L, phường B, tỉnh Đồng Nai.
Ông Nguyễn Tiền P1, sinh năm 1982 Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố G, phường P, tỉnh Đồng Nai.
Người làm chứng:
Phạm Thị L1, sinh năm 1959 Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
Chị Tôn Nữ Ngọc N2, sinh năm 1990 Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trước ngày 17 tháng 3 năm 2022, Bùi Thị T cho ông Tôn Long N
Nguyễn Thị T1 vay tiền nhiều lần, không lập giấy tờ. Ngày 17-3-2022, tại nhà
Phạm Thị L1 thuộc Thôn B, Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông (nay là Thôn B, T,
tỉnh Lâm Đồng); Bùi Thị T, ông N và bà T1 lập giấy vay tiền, ghi tạm tính tiền vay
900.000.000 đồng, cóPhạm Thị L1 làm chứng, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất
8.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày.
Đối với số nợ trên, ông N nhiều lần trả lãi cho T nhưng chưa trả hết lãi và nợ
gốc. Trưa ngày 29-12-2022, T đến nhà ông N thuộc thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk
Nông (nay Thôn B, T, tỉnh Lâm Đồng) đòi nợ. Tại đây, T tính lãi của
900.000.000 đồng nợ gốc từ ngày 17-3-2022 đến ngày 31-12-2022 là 6.211.664.337
đồng, nhưng có bỏ một phần tiền lẻ trong khi tính nên chốt tiền lãi là 6.097.000.000
đồng. Cách tính lãi như sau: Trong vòng 30 ngày, kể từ ngày vay, người vay sẽ phải
trả cả gốc lẫn lãi, nếu không trả được thì số lãi phát sinh sẽ được cộng vào tiền gốc
thành nợ mới rồi tiếp tục nhân với lãi 30 ngày tiếp theo. Từ ngày 17-3-2022 đến
ngày 29-12-2022, ông N, T1 trả cho T 1.128.900.000 đồng tiền lãi nên được trừ
vào số tiền phải trả. Khi T đến đòi nợ, ông N, T1 trả thêm cho T 50.000.000 đồng
tiền lãi. Chị Tôn Nữ Ngọc N2, con gái ông N, bà T1 người viết Giấy xác nhận nợ
ghi thời gian 13 giờ 46 phút ngày 28-12-2022 (chị N2 thừa nhận ghi nhầm ngày,
ngày ghi giấy xác nhận nợ đúng ngày 29-12-2022), thể hiện số tiền nợ gốc ông
N, T1 vay của T là 900.000.000 đồng, tổng số tiền ông N, T1 phải trả cho T
gồm cả gốc lãi 5.718.000.000 đồng, hẹn trả vào ngày 15-01-2023. Giấy xác
nhận nợ T, ông N tên, chị Tôn Nữ Ngọc N2 người làm chứng. Khi T đến
đòi nợ chị N2 trình báo sviệc quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã
đến lập biên bản làm việc.
Quá trình điều tra xác định T cho ông N, bà T1 vay tiền có tính lãi, cụ thể: Nợ
gốc đã chốt giữa Tông N, T1 là 900.000.000 đồng, lãi tính từ ngày 17-3-2022
đến ngày 31-12-2022 là 6.097.000.000 đồng. Lãi Thanh đã nhận từ ông N, T1
của khoản cho vay 900.000.000 đồng là 894.400.000 đồng.
Mở rộng điều tra, xác định: Khoảng tháng 01 năm 2022, ông N, T1
Phạm Thị L1 cùng mua một đất diện ch 1.250m
2
từ anh Nguyễn Thành Đ tại
thành phố Đ, tỉnh Bình Phước với giá 3.350.000.000 đồng (đất đứng tên ông Thọ
B1Lê Thị K). Gần đến hạn thanh toán, ông N không đủ tiền nên liên hệ T hỏi
vay 2.200.000.000 đồng; T không có tiền nên liên hệ chị Hoàng Thị Như Q; Q tiếp
tục liên hệ anh Bùi Ngọc T3; anh T3 lại liên hệ chị Nguyễn Thị H. Chị H là người
đồng ý cho vay với lãi suất 1.500 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày nhưng phải thế chấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh T3 báo lại cho chị Q đồng ý cho vay với
lãi suất 2.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, chị Q báo lại cho Bùi Thị T. Chị Q
T thống nhất báo cho ông N biết sẽ cho vay với lãi suất 2.500 đồng/1.000.000
đồng/01 ngày và phải thế chấp tài sản thì ông N đồng ý.
Sáng ngày 28-01-2022, ông N, T1, Bùi Thị T, anh Bùi Ngọc T3, chị
Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Thành Đ, ông Thọ B1 Thị K đến Phòng
chứng Hoàng Mai K1 tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (cũ) kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nhằm mục đích thế chấp cho khoản vay 2.200.000.000
đồng. Sau khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chị H chuyển
2.035.000.000 đồng vào tài khoản của Bùi Thị T, H giữ lại tiền lãi theo thỏa thuận
165.000.000 đồng/01 tháng (tương ứng với lãi suất 7,5%/tháng). Bùi Thị T chuyển
khoản đưa tiền mặt cho ông N 2.035.000.000 đồng. Sau đó, ông N trả tiền mua
đất cho anh Đ.
Từ ngày 31-3-2022 đến ngày 08-6-2022, ông N chuyển vào tài khoản của T
số tiền 468.500.000 đồng để trả lãi. Sau khi nhận được tiền, T chuyển khoản cho chị
Hoàng Thị Như Q, anh Bùi Ngọc T3 chị Nguyễn Thị H theo thỏa thuận trả lãi
như đã nêu trên.
Ngày 08-6-2022, ông N, T1, Bùi Thị T, chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn
Thành Đ, ông Thọ B1, bà Lê Thị K, ông Lê Văn H1Thị H2 đến chứng
Hoàng Mai K1 tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 28-01-2022, đồng thời hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất sang cho bên nhận chuyển nhượng Thị H2. Ông H1
H2 thay ông N, bà T1 chuyển trả 2.200.000.000 đồng tiền chị Nguyễn Thị H đã
cho vay ngày 28-01-2022.
Trong tổng số tiền lãi 1.362.900.000 đồng ông N, bà T1 trả cho T,
468.500.000 đồng tiền lãi của khoản vay 2.200.000.000 đồng, còn 894.400.000 đồng
là tiền lãi của khoản vay 900.000.000 đồng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trường hợp các bên
thỏa thuận về lãi suất, thì lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của
khoản tiền vay.
Tiền lãi trần theo quy định của Bộ luật Dân sự: Gốc 900.000.000 đồng, lãi
tính từ ngày 17-3-2022 đến ngày 31-12-2022 (289 ngày) =
(900.000.000x20%/năm/365x 289 = 142.520.548 đồng.
Số tiền thu lợi bất chính: 894.400.000 đồng - 142.520.548 đồng = 751.879.452
đồng.
Tiền lãi bị cáo hướng đến: 6.097.000.000 đồng, tương ứng 855,596%/năm,
gấp 42,7 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-KV7 ngày 03 tháng 11 năm 2025 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - m Đồng quyết định truy tố ra trước
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng để xét xử bị cáo Bùi Thị T về tội Cho vay
lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật
Hình sự.
Tại Bản án hình sự thẩm 34/2025/HS-ST ngày 26-12-2025 của Toà án
nhân dân khu vực 7 m Đồng quyết định: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội:
Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 2 Điều 201, khoản 2, 3 Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự; Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ
luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân
sự”,
Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 11 (mười một) tháng 11 (mười một) ngày tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam, ngày 29-12-2022
đến ngày 08-12-2023 (Bằng thời gian tạm giữ, tạm giam).
Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm
triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.
Ngày 10-02-2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tôn Long N
Nguyễn Thị T1 kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm tại phần
biện pháp tư pháp, không tuyên truy thu sung công quỹ nhà nước từ người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Tôn Long N và bà Nguyễn Thị T1 số tiền 900.000.000
đồng (chín trăm triệu đồng).
Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Thị T khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, thừa
nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng với hành vi bị cáo thực hiện và
không bào chữa gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tôn Long N, bà Nguyễn Thị T1
trình bày: Ông bà không đồng ý với Bản án sơ thẩm về số tiền cho vay 900.000.000
đồng, thể hiện trong các giấy tờ cho vay giữa ông bà và bị cáo là tiền lãi của khoản
vay 2.200.000.000 đồng và 3.000.000.000 đồng, không phải nợ gốc. Ông bà không
rõ trong 900.000.000 đồng thì lãi của từng khoản vay là bao nhiêu. Chỉ có giấy vay
tiền ghi tạm tính 900.000.000 đồng chẵn ông bà tự nguyện ký, các giấy vay còn lại
ghi số tiền vay 900.000.000 đồng do bị cáo đem hội đen tới nhà, đập phá đồ
đạc, uy hiếp tinh thần nên ông bà mới ký.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N, T1, ông Nguyễn Văn T2 trình
bày: Lời khai của ông N, T1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án thống nhất, xác
định 900.000.000 đồng tiền lãi từ khoản vay 2.200.000.000 đồng 3.000.000.000
đồng; còn lời khai của bị cáo ông Nguyễn Tiền P1 nhiều mâu thuẫn. Căn cứ
để xác định 3.000.000.000 đồng là tiền vay, không phải tiền chuyển nhượng quyền
sử dụng đất là từ sao kê tài khoản, các lần chuyển tiền từ ông P1 cho bị cáo đều ghi
T vay tiền”, sau khi nhận tiền bị cáo chuyển lại cho ông N, T1. Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất chỉ để hợp thức hóa việc cho vay. Tại phiên tòa phúc
thẩm lần trước, bị cáo trình bày 3.000.000.000 đồng là tiền cho vay. Lời khai của bị
cáo về nguồn gốc tiền cho vay ban đầu qtrình điều tra thay đổi không
phù hợp thực tế, thời điểm năm 2022, bị cáo vừa ly hôn, nuôi 02 con nhỏ nên không
thể 900.000.000 đồng để cho vay, bị cáo cũng không chứng minh được nguồn
gốc tiền, thời điểm cho vay. Bị cáo trình bày cho ông N vay tiền mặt tại nhà không
phù hợp mà toàn bộ tiền đều được chuyển qua tài khoản. Có sự tương đồng giữa 02
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay
2.200.000.000 đồng 3.000.000.000 đồng. Ông P1 đồng phạm với bcáo về
hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” đối với số tiền cho vay
3.000.000.000 đồng, nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát không xem
xét là bỏ lọt hành vi phạm tội, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông N, bà T1. Tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông P1 không có mặt nên đề nghị HĐXX hoãn phiên
tòa để triệu tập ông P1 lên làm rõ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sau khi phân tích các tình tiết của
vụ án, đnghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố
tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Tôn Long N và bà Nguyễn Thị T1, giữ
nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2025/HS-ST ngày 26-12-2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 7 – Lâm Đồng.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tôn Long N, bà Nguyễn Thị T1 và
người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn T2 không đồng ý với quan điểm của
vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét hoãn phiên tòa, triệu tập lấy lời khai ông Nguyễn Tiền P1 để làm s tiền
900.000.000 đồng là tiền lãi chứ không phải nợ gốc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Tôn Long N Nguyễn Thị T1
trong hạn luật định nên được xem xét
[2]. Về yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của ông Tôn Long N và bà
Nguyễn Thị T1: Ông T2 đề nghị hoãn phiên tòa để triệu tập ông Nguyễn Tiền P1
tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và giải quyết vụ
án, quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Tiền P1 (BL 1179-
1184), các lời khai này đã được lưu trong hồ vụ án được xem xét, đánh giá
cùng các tài liệu, chứng cứ khác. Việc ông P1 vắng mặt tại phiên tòa không ảnh
hưởng đến việc giải quyết vụ án nên không căn cứ chấp nhận yêu cầu hoãn phiên
tòa.
[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồ sơ thể hiện, trước trong khoảng thời gian từ ngày 17-3-2022 đến ngày
29-12-2022, bị cáo đã nhiều lần cho ông Tôn Long NNguyễn Thị T1 vay tiền,
sau đó các bên chốt lại khoản nợ gốc là 900.000.000 đồng. Việc xác lập khoản vay
này được thể hiện qua nhiều tài liệu như: Giấy vay tiền ngày 17-3-2022 chữ
ký, điểm chỉ của các bên và người làm chứng; các giấy vay tiền khác có chữ ký của
ông N, T1; Giấy xác nhận nngày 29-12-2022 do con ông bà lập; cùng các tài
liệu do chính ông N, T1 giao nộp. Các chứng cứ này thống nhất về số tiền ngốc
900.000.000 đồng. Quá trình thực hiện việc cho vay, bị cáo đã áp dụng mức lãi
suất rất cao, đồng thời sử dụng phương thức nh lãi “lãi nhập gốc” theo chu kỳ, làm
cho số tiền lãi phát sinh tăng nhanh mt cách bất hợp lý. Tổng số tiền lãi bị cáo đã
thu của ông N, T1 894.400.000 đồng, trong khi mức lãi hợp pháp theo quy định
chỉ là 142.520.548 đồng; phần chênh lệch 751.879.452 đồng khoản thu lợi bất
chính. Ngoài ra, bị cáo còn tính toán, yêu cầu trả số tiền lãi lên đến hơn 6 tỷ đồng,
tương ứng mức lãi suất vượt rất nhiều lần mức tối đa mà pháp luật cho phép. Hành
vi của bị cáo thể hiện lỗi cố ý, nhằm mục đích thu lợi bất chính với số tiền đặc
biệt lớn, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và quyền, lợi ích hợp pháp của người vay.
Do đó, Tòa án cấp thẩm kết luận bị cáo phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao
dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng quy định
pháp luật.
[4]. Về nội dung kháng cáo của ông Tôn Long N và bà Nguyễn Thị T1: Ông
Tôn Long N Nguyễn Thị T1 kháng cáo cho rằng số tiền 900.000.000 đồng
không phải là tiền gốc vay mà là tiền lãi của các khoản vay khác, nên không đồng ý
việc Tòa án cấp thẩm xác định đây là phương tiện phạm tội để truy thu sung công
quỹ nhà nước. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy nội dung kháng cáo
này không có căn cứ, bởi lẽ trong hồ vụ án nhiều tài liệu, chứng cứ được lập
tại các thời điểm khác nhau, phản ánh thống nhất về việc các bên đã xác lập khoản
vay với số tiền gốc 900.000.000 đồng như Giấy vay tiền ngày 17-3-2022 ghi
số tiền tạm tính 900.000.000 đồng”, chữ ký, điểm chỉ của bị cáo Bùi Thị T,
ông Tôn Long N, Nguyễn Thị T1 và người làm chứng bà Phạm Thị L1; quá trình
điều tra, các bên đều thừa nhận việc kết tự nguyện. Ngoài ra, Giấy vay tiền
không ghi ngày tháng nhưng thể hiện khoản vay “900.000.000 đồng”, chcủa
chính ông N và bà T1; Giấy xác nhận nợ ngày 29-12-2022 do con ông bà là chTôn
Nữ Ngọc N2 lập cũng ghi nhận nội dung ông N, T1 vay của b cáo số tiền
900.000.000 đồng; cùng với đó là tờ giấy ngày 23-12-2022 do T1 viết, thhiện
nội dung đã thanh toán các khoản 2.200.000.000 đồng và 3.000.000.000 đồng, “chỉ
chốt lại còn 900.000.000 đồng”. Các tài liệu này không chỉ thống nhất về số tiền mà
còn thể hiện s xác nhận nhiều lần của chính ông N, bà T1 về khoản nợ gốc
900.000.000 đồng. Bên cạnh đó, một số tài liệu nêu trên do chính ông N, T1 quản
giao nộp cho quan điều tra, không phải do bị cáo cung cấp. Điều này cho
thấy tính khách quan giá trị chứng minh của chứng cứ. Trong khi đó, lập luận cho
rằng số tiền 900.000.000 đồng tiền lãi của các khoản vay khác lại không được
chứng minh bằng bất kỳ tài liệu, chứng cứ cụ thể nào.
Đối với khoản tiền 3.000.000.000 đồng mà ông N, T1 trình bày, quá trình
giải quyết vụ án cho thấy Tòa án cấp thẩm đã nhiều lần trả hồ để điều tra bổ
sung nhằm m , nhưng quan tiến hành tố tụng không thu thập được tài liệu,
chứng cứ nào xác định việc vay tiền như trình bày, cũng như không căn cứ xác
định số tiền 900.000.000 đồng là tiền lãi phát sinh từ các khoản vay đó. Các dữ liệu
điện tử, sao tài khoản tài liệu liên quan đã được thu thập, đánh giá nhưng không
làm thay đổi bản chất vviệc. Mặt khác, lời trình bày của ông N, T1 về việc bị
uy hiếp, ép buộc ký giấy vay tiền cũng không phù hợp với các chứng cứ khác trong
hồ sơ. Việc kết các giấy tờ vay tiền diễn ra trong các thời điểm khác nhau,
trường hợp người làm chứng, trường hợp chỉ giữa các bên, nhưng không
tài liệu nào thể hiện việc cưỡng ép, đe dọa tại thời điểm lập giấy. Ngược lại, nội dung
các giấy tờ thể hiện sự xác nhận khoản nợ một cách rõ ràng, liên tục và nhất quán.
Từ những căn cứ nêu trên, đủ sở xác định số tiền 900.000.000 đồng
tiền gốc bị cáo đã sdụng để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng. Do đó, việc
Tòa án cấp thẩm xác định đây phương tiện phạm tội quyết định truy thu
sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật. kiến của người đại
diện theo ủy quyền của ông N, bà T1 là ông Nguyễn Văn T2 không có căn cứ.
[5]. Xét quan điểm đnghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm
Đồng tại phiên tòa là phù hợp, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7]. Đối với các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của B luật Tố tụng Hình sự,
1. Không Chấp nhận kháng cáo của người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông
Tôn Long N bà Nguyễn Thị Tuyết . Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số
34/2025/HS-ST ngày 26-12-2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đng.
Áp dụng khoản 2 Điều 201; khoản 2, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51
của Bộ luật Hình sự; Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của
Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội“Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân
sự”
Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 11 (mười một) tháng 11 (mười một) ngày tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam, ngày 29-12-2022
đến ngày 08-12-2023 (Bằng thời gian tạm giữ, tạm giam).
Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm
triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị
quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự
Truy thu sung công quỹ nhà nước từ người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Tôn Long NNguyễn Thị T1 số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng),
là phương tiện phạm tội của bị cáo Bùi Thị T, do ông N, T1 vay bị cáo T nhưng
chưa trả.
Truy thu sung công quỹ nhà nước từ bị cáo Bùi Thị Thanh 1 (một trăm bốn
mươi hai triệu năm trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng), là tiền do
phạm tội mà có, do ông N, bà T1 đã trả cho bị cáo.
Tiếp tục phong tỏa số tiền 1.676.421đ (một triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn
bốn trăm hai mươi mốt đồng) trong tài khoản số 9039301363 tại Ngân hàng TMCP
K2 (Chi nhánh tỉnh B cũ) đứng tên Bùi Thị T để đảm bảo thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều
5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo
Bùi Thị T phải trả lại cho ông Tôn Long N Nguyễn Thị T1 số tiền 751.879.452đ
(bảy trăm năm mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi
hai đồng) tiền thu lợi bất chính từ ông N, bà T1, được trừ vào 50.000.000 đồng bị
cáo đã giao nộp (Được nộp vào tài khoản của Chi cục hành án dân sự huyện T, tỉnh
Đắk Nông tại Kho bạc T theo Giấy nộp tiền ngày 06-01-2023). Bị cáo còn phải trả
cho ông Tôn Long N bà Nguyễn Thị Tuyết 7 (bảy trăm linh một triệu tám trăm
bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về án phí, lphí Tòa án: Ông
Tôn Long N bà Nguyễn Thị N3 mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản ánthẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ I);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Lâm Đồng;
- CQTHAHS Công an tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 7, tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 7, tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 7 tỉnh Lâm Đồng;
- Bị cáo; NTGTTK;
- Lưu: Tổ HCTP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Tải về
Bản án số 97/2026/HS-PT Bản án số 97/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 97/2026/HS-PT Bản án số 97/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất