Bản án số 97/2023/DS-PT ngày 07/03/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 97/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 97/2023/DS-PT ngày 07/03/2023 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 97/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/03/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ M
Bản án số: 97/2023/DS-PT
Ngày 07 3 2022
V/v tranh chp quyn s dụng đất;
ranh gii quyn s dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thanh
Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Ý
Ông Nguyễn Văn M
- Thư ký phiên toà: Phạm Thị Hồng Hạnh Thư ký Toà án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ CM.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí M
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trí Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí M xét xử phúc thẩm công khai ván dân sự phúc thẩm thụ số:
405/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng
đất; ranh giới quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số: 19/2022/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm
2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2263/2022/QĐ-PT
ngày 22 tháng 11 năm 2022; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Ch, sinh năm 1943, (đã chết);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch:
1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1956, (có mặt);
2. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1982, (có mặt);
3. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1987, (có mặt);
4. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1989, (có mặt);
5. Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1991, (có mặt);
2
6. Ông Phạm Văn V (D), sinh năm 1995, (có mặt);
7. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1978, (có mặt);
8. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1980, (có mặt);
Cùng đa ch: Khm 2, png A, thành ph H, tnh Đng Tháp.
9. Phạm Thị Ng, sinh năm 1993; địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành
phố H, tỉnh Đồng Tháp, (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền ca các ông, bL, B, M, T, B1, V, Đ, S, Ng
(theo các Hợp đồng ủy quyền ngày 16/8/2022): Nguyễn Thị H, sinh năm
1985; địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành phố H, Đồng Tháp, (có mặt).
10. Phạm Thị B2, sinh năm 1984; địa chỉ: p L Mỹ, L, huyện H,
tỉnh y Ninh, (vắng mặt).
11. Ông Thái Văn H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, An
Giang, (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn B3, sinh năm 1949; địa chỉ: Khm 2, png A,
tnh ph H, tỉnh Đng Tháp, (có mặt);
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông B3:
+ Ông Ngô Quang Thế - Luật sư Văn phòng Luật sư Chính Nghĩa, thuộc
Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp, (có mặt);
+ Ông Lê Phi Tùng Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của
Trung T Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Tháp, (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Đ1, (có mặt);
2. Ông Phạm Văn S1, sinh năm 1947, (vắng mặt);
Ni đại din theoy quyền ca ông S1: Ông Phạm Đức L, sinh m 1986;
cùng địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, (có mặt);
Người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp cho b Đính và ông S1:
+ Ông Ngô Quang Thế - Luật sư Văn phòng Luật sư Chính Nghĩa, thuộc
Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp, (có mặt);
+ Ông Lê Phi Tùng Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của
Trung T Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Tháp, (có mặt).
3. Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1984, (vắng mặt);
4. Ông Phạm Đức L, sinh năm 1986, (có mặt);
3
5. Ông Phạm Văn K, sinh năm 1995, (vắng mặt);
6. Bà Nguyễn Thị B4, sinh năm 1990, (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
7. Bà Trần Thị L, sinh năm 1956, (có mặt);
8. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1982, (có mặt);
9. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1987, (có mặt);
10. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1989, (có mặt);
11. Ông Phạm Văn B1, sinh năm 1991, (có mt);
12. Ông Phạm Văn V (D), sinh năm 1995, (có mặt);
13. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1978, (có mặt);
14. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1980, (có mặt);
Cùng đa ch: Khm 2, png A, thành phH, tnh Đng Tháp.
15. Phạm Thị Ng, sinh năm 1993; địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành
phố H, tỉnh Đồng Tháp, (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền ca các ông, bL, B, M, T, B1, V, Đ, S, Ng
(theo các Hợp đồng ủy quyền ngày 16/8/2022): Nguyễn Thị H, sinh năm
1985; địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành phố H, Đồng Tháp, (có mặt).
16. Phạm Thị B2, sinh năm 1984; đa chỉ: p L Mỹ, xã L Tnh Bắc,
huyn H, tnh Tây Ninh, (vắng mặt).
17. Ông Thái Văn H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, An
Giang, (vắng mặt).
18. Hồ Thị U, sinh năm 1952; địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành phố
H, tỉnh Đồng Tháp, (có mặt).
19. Phạm Thị H2, sinh năm 1984; địa chỉ: Khm 1, phưng A, thành
phố H, Đồng Tháp, (xin vắng mặt).
20. Phạm Thị L1, sinh năm 1987; địa chỉ: p P, P, huyn H, tỉnh
Đng Tháp, (vắng mặt).
21. Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1990, (vắng mặt);
22. Ông Phạm Văn Th, sinh năm 1992, (vắng mặt);
23. Ông Phạm Văn A, sinh năm 1994, (vắng mặt);
24. Ông Phạm Văn K, sinh năm 2000, (vắng mặt);
4
25. Ông Nguyễn n Đ1, sinh năm 1983, (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
26.Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1980, (vắng mt);
27. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1955, (vắng mặt);
28. Ông Phạm Văn K1, sinh năm 1980, (vắng mặt);
29. Ông Phạm Văn K2, sinh năm 1999, (vắng mt);
30. Phạm Thị L2, sinh năm 1962; cùng địa chỉ: Khm 2, phưng A,
thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, (có mặt);
Nh, ông H4, ông K1, ông K2 y quyền đại diện tham gia ttụng cho
bà L2 theo Hợp đồng ủy quyền ngy 19/8/2022 ngày 27/01/2023.
31. Ông Văn Đ2, sinh năm 1965, địa chỉ: Khm 2, phưng A, thành
phố H, Đồng Tháp; địa chỉ liên hệ: Ấp A, A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, (xin
vắng mặt).
32. Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo y quyền của Ủy ban nhân dân thnh phố H (theo
Văn bản ủy quyền ngày 28/6/2022): Ông Nguyễn Văn Hậu- Ph Ch tịch
UBND thành phố H, (vắng mt).
33. Ngân ng Thương Mại C Phần Kiên Longong Chi nhánh Đồng
Tháp;
Người đại diện theo pháp luật Phòng Giao dịch thnh phố Hồng Ng:
Ông Nguyễn Thanh Phong, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương Mại C
Phần Kiên Long Chi nhánh Đồng Tháp Phòng giao dịch Hồng Ngự; địa chỉ: Số
38-40 Hùng Vương, phưng A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, (xin vắng mặt),
- Người kháng cáo:
+ Ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn ông Phạm Văn
Ch gồm các ông, bà: Trần Thị L, Phạm Văn Đ, Phạm Văn Xệ, Phạm Văn B,
Phạm Văn M, Phạm Văn T, Phạm Văn B1, Phạm Thị Ng, Phạm Văn D (V) (do
ngưi đại diện theo ủy quyền là bà Nguyn Thị H thực hiện);
+ Ngưi c quyền lợi, nghĩa vliên quan Nguyễn Thị Nh (do ngưi
đại diện theo y quyền là Phạm Thị L2 thực hiện).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
5
- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn ông
Phạm Văn Ch người đại diện theo y quyền tham gia tố tụng Nguyễn
Thị H trình bày:
Vào năm 1979, gia đình ông Ch c khai hoang 01 phần đất, sau này Nhà
nước làm đưng Tỉnh lộ 842 nên phần đất này chia làm 02 phần, gia đình ông
Ch quản lý, sử dụng từ đ cho tới nay đã trên 40 năm. Trong đ: 01 phần phía
ngoài Tỉnh lộ 842, giáp kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng, phần đất này chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc thửa 103, t bản đồ số 03 01
phần phía trong Tỉnh lộ 842. Đối với phần trong Tỉnh lộ 842 thì vào ngày
31/10/2001 được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Hồng Ngự (nay thành phố
H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông thuộc thửa 163, t bản đồ số
03 diện tích 1.974m
2
(trong đ đất th 300m
2
, đất cây lâu năm
1.674m
2
). Đến năm 2006, ông Phạm Văn B3 (em ruột ông Ch) lợi dụng tình
hình ông Ch bị Bệnh không đi lại được nên ợn giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đi thế chấp ngân hàng, sau đ ông B3 ông S1 tự ý làm thủ tục đi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng diện tích đất của 02 ông và cắt bớt
diện tích đất ca ông Ch, làm cho diện tích đất từ 1.974m
2
xuống chỉ còn 625m
2
,
trong đ 97m
2
đất th thuộc thửa 162 và 528m
2
đất cây lâu năm thuộc thửa
183, cùng t bản đồ số 03, như vậy đã mất hết 1.349m
2
. Đồng thi, phần đất
phía ngoài Tỉnh lộ 842, phía giáp kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng bị ông B3 ông S1 lấn chiếm đất,
làm diện tích đất không còn như ban đầu khi khai phá.
Theo đơn khởi kiện ông Ch khởi kiện yêu cầu ông B3 trả lại phần diện
tích lấn chiếm 1.349m
2
(trong đ 203m
2
đất th 1.146m
2
đất cây lâu năm)
thuộc thửa 163, t bản đồ số 03, hiện do ông B3 đứng tên trong giấy chứng nhận
QSD đất (phần trong Tỉnh lộ 842, Tòa án thụ số 100). Ngày 27/8/2019 ông
Ch khởi kiện b sung thêm yêu cầu ông B3 phải trả diện tích lấn chiếm
173,3m
2
, đất thuộc thửa 103, t bản đồ số 03 chưa cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (Phần ngoài Tỉnh lộ 842, Tòa án th lý số 100A).
Tuy nhiên, nay qua kết quả đo đạc thực tế của Tòa án ông Ch thống nhất
khởi kiện ông B3 và kiện b sung đối với ông S1 cụ thể như sau:
+ Đối với phần đất phía ngoài Tỉnh lộ 842, phía giáp nh Hồng Ngự -
Vĩnh Hưng, đất chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc thửa 103, t
bản đồ số 03. Tại phiên hòa giải ngày 04/5/2022, Nguyễn Thị H rút yêu cầu
khởi kiện đối với yêu cầu ông B3 phải trả diện tích lấn chiếm 173,3m
2
, đất thuộc
thửa 103, t bản đồ số 03 do chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
6
+ Đối với ranh đất phía giáp thửa 102 của ông S1 thì ông Ch xác định
ranh đất của mình từ mốc 02 đến mốc 15, ông S1 không thống nhất xác
định ranh là từ mốc 3 đến mốc 13. Nên nay ông Ch khởi kiện yêu cầu ông S1 trả
lại diện tích lấn chiếm là 89,8m
2
(Vị trí số II, thuộc phạm vi các mốc 2, 3, 4, 13,
14, 15, 2), đất thuộc một phần thửa 102 và 103. Hiện trạng phần đất c một phần
căn nhà của vợ chồng anh Phạm Văn H2 chNguyễn Thị B4 (con ông S1)
xây dựng để ở, do ông S1 thống nhất cho (diện tích nhà 67,8m
2
). do ông
S1 sử dụng phần đất này ng giống như do của ông B3 bao chiếm. Trước
đây từ mốc 02 đến mốc 15 tông S1 c trồng 05 bụi tre 02 cây trụ đá làm
ranh, nhưng tới năm 2015 thì ông S1 tự phá đi lấn ranh đất của ông Ch cho
tới nay.
Tại phiên hòa giải ngày 04/5/2022 và tại phiên tòa thẩm bà Nguyễn
Thị H ngưi đại diện theo ủy quyền của những ngưi kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của ông Ch rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông S1 trả lại diện
tích lấn chiếm 89,8m
2
(Vị trí số II, thuộc phạm vi các mốc 2, 3, 4, 13, 14, 15,
2), đất thuộc một phần thửa 102 103. Rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu
ông B3 trả lại diện tích lấn chiếm 145,7m
2
(Vị trí số IV, thuộc phạm vi các
mốc 5, 6, 7, 10, 11, 5), đất thuc một phần thửa 103 và 104.
+ Đối với phần đất phía trong Tỉnh lộ 842, phần đất này nhà nước đã cấp
giấy chứng nhận QSD đất cho ông Ch thuộc 02 thửa là 162 và 183, t bản đồ số
03, ông Ch xác định diện tích đất thuộc 02 thửa của mình nằm trong phạm vi
các mốc 18, 19, 20, 21, 22, 23, 40, 42, 41, 38, 36 và 18, diện tích đo đạc thực tế
1.796,4m
2
, ông Ch thống nhất diện tích đo đạc thực tế này đất của ông (Vị
trí số VII, VIII, IX, XII, XIII XIV). Phần đất này trước đây vào năm 2001
nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho ông thuộc thửa 163, t
bản đồ số 03 diện tích là 1.974m
2
(trong đ đất th cư là 300m
2
, đất cây lâu năm
1.674m
2
), nhưng đến năm 2006 do ông B3 ông S1 tự động đi đăng nên
nhà nước cấp đi lại thành 02 thửa là 162, đất th diện tích là 97m
2
thửa 183,
đất cây lâu năm, diện tích 528m
2
, tng diện tích 02 thửa chỉ còn lại 625m
2
,
diện tích đất giảm xuống do ông B3 ông S1 lấn chiếm. Nay ông Ch xác
định ranh đất của 02 thửa này phía giáp với thửa 163 của ông B3 tmốc 23
đến mốc 40 và tới mốc 42, nhưng ông B3 không thống nhất và xác định ranh đất
từ mốc 21 đến mc 39 tới mốc 41. Nên nay ngưi kế thừa quyền nghĩa
vụ tố tụng của ông Ch yêu cầu ông B3 trả lại phần đất lấn chiếm 162,1m
2
(Vị
trí số VII XIV, thuộc phạm vi các mốc 21, 22, 23, 40, 42, 41, 39 21), đất
thuộc một phần thửa 162, 163, 183 278. Phần đất này hiện nay ông B3 đang
quản sử dụng, trong đ c một phần căn nhà của chị Phạm Thị H3 anh
Nguyễn Văn Đ1 (con ông B3) xây dựng, diện tích nhà 54,4m
2
. do ông B3
7
quản sdụng phần đất này trước đây ông Ch bị bệnh ông B3 lợi dụng tình
hình ông Ch không đi lại được, nên vào khoảng năm 2009 ông B3 cho con mình
Hưng xây nhà lên lấn chiếm qua đất của ông Ch. Trước đây nhà của chị H3
ở phía ngoài giáp kênh, đến khoảng năm 2009 mới di nhà vào như hiện nay.
Đối với phần phía giáp thửa 161 của ông S1, ông Ch xác định ranh đất
với đất ông S1 từ mốc 18 đến 36. Nhưng ông S1 không thống nhất xác
định ranh đất là từ mốc 19 đến mốc 37. Nay ngưi kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của ông Ch yêu cầu ông S1 trả lại cho ông diện tích lấn chiếm 113,8m
2
(Vị trí IX, thuộc phạm vi các mốc 18, 19, 37, 36 18), thuộc một phần thừa
161. Trên phần đất này hiện nay c 01 phần căn nhà của ông S1 xây dựng
đang quản lý, sử dụng, diện tích nhà là 176,5m
2
. Lý do ông S1 sử dụng phần đất
tranh chấp là ông S1 cũng lợi dụng tình hình ông Ch bị bệnh nằm một chỗ nên
tự ý lấn chiếm, không được sự thống nhất của gia đình ông Ch. Gia đình ông Ch
c ni nhưng ông S1 không thống nhất ni đất của ông ngày càng lấn qua
đất của ông Ch.
Nay ngưi kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch yêu cầu ông
B3 ông S1 trả lại diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên, làm sao cho diện tích
đất của ông Ch c chiều ngang 36m như ông Ch khai pban đầu từ năm
1978, được tập đoàn thống nhất cấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất vào năm 2001. Việc này được sự xác nhận của Chủ tịch xã và Chủ tịch
huyện khi ông Ch làm đơn đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất vào năm 2001. Phần đất này đã đng thuế đầy đủ cho Nhà nước.
+ Đối với yêu cầu tranh chấp của ông B3, ngưi kế thừa quyền nghĩa
vụ tố tụng của ông Ch c ý kiến như sau: Ông B3 cho rằng ông Ch lấn ranh đất
diện tích 57,4m
2
(Vị trí XIV) thuộc thửa 278, từ mốc 39 đến mốc 41 ông Ch
không thống nhất, ông Ch xác định ranh giới đất từ mốc 40 đến mốc 42.
phần đất này đất của ông, không lấn chiếm qua đất ông B3, ông yêu cầu
Tòa án xác định ranh đất giữa thửa đất của ông (Vị trí XIII, đang tranh chấp với
ông S1) và thửa đất của ông B3 thuộc thửa 278 là từ mốc 40 đến mốc 42, vì ranh
đất giữa ông và ông B3 là đưng thẳng từ mí lộ vào trong đất ruộng.
+ Đối với yêu cầu độc lập của ông S1, ngưi kế thừa quyền nghĩa vụ
tố tụng của ông Ch c ý kiến như sau:
Phần diện tích 693,4m
2
(Vị trí XII XIII, thuộc phạm vi các mốc 36,
37, 39, 41, 38 và 36), hiện nay là ½ cái ao, thuộc một thửa 577, t bản đồ số 03,
hiện do hộ Nguyễn Thị Nh đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Đây phần đất của ông Ch sử dụng n định từ năm 1978 cho tới nay
phần đất này thuộc thửa đất 163 của ông Ch được cấp giấy vào năm 2001,
8
nhưng không biết lý do tại sao hiện nay lại thuộc một phần thửa 577 của hộ
Nh đứng tên trong giấy, nhà nước cấp lộn phần diện tích đất này cho hộ Nh.
Nay ngưi kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ch và bà Nh, L2 thống
nhất đây là đất của ông Ch, nhưng ông S1 không thống nhất tranh chấp,
ông S1 cho rằng đây đất của Dương Thị Lủ (Lũ) tặng cho. Nay ngưi kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ch không thống nhất với yêu cầu khởi
kiện của ông S1, yêu cầu Tòa án công nhận phần đất này của ông yêu cầu
hủy một phần giấy chứng nhận đã cấp cho hộ Nh thuộc thửa 577 để cấp lại
cho ngưi kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Ch theo quy định. Phần
đất này ông S1 không c quản lý, sử dụng ông Ch quản lý, sử dụng từ năm
1978 tới nay. Cũng không phải của bà Lủ. Hiện ông Ch để khai thác cá khi nước
lên. Ông Ch múc đất phần đất để đ nền nhà của mình nên trở thành ao như
hiện nay, việc đào múc đất này vào năm nào thì lâu quá không nhớ.
Phần đất diện tích 657,9m
2
(Vị trí số XI, thuộc phạm vi các mốc 33, 34,
35, 36, 38, 32 33), thuộc một phần thửa 270 cũng của ông chkhông phải
là của ông S1, phần đất này ông Ch tự khai phá và sử dụng n định từ năm 1978
cho tới nay hiện nay ông ngưi được đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất vào năm 2001. Trước đây c một thi gian ông S1 canh tác
lúa là vì giữa ông Ch, L2 và ông S1 c trao đi đất với nhau để liền canh, liền
tiện canh tác. Nay 03 bên thống nhất không đi đất nữa, đất của ai về lại của
ngưi đ, nên ông Ch lấy lại phần đất này canh tác vào tháng 10/2019 (âm lịch
canh tác tđ cho tới nay. Đối với các diện tích đi đất này ông không yêu
cầu Tòa án giải quyết vì các bên đã hoàn trả lại cho nhau xong. Trên phần đất
này hiện nay c một cái trũng nhỏ, ngập nước quanh năm, ông S1 c dùng để
thải nước sinh hoạt xuống c ngâm nhiều cây bạch đàn và cây tràm, hiện nay
các cây này vẫn còn. Việc ông S1 ngâm thi gian nào cũng không nhớ, do
ông S1 ngâm các y này là giữa ông Ch ông S1 anh em, ông Ch cũng
không sử dụng phần cái trũng này lúc nào cũng ngập nước, không trồng lúa
được nên mới cho ông S1 ngâm các y cho tới nay vì trước đ phần đất này
cũng đi cho ông S1 sử dụng. Ông S1 ngâm cây nhiều lần trước đ, ngâm rồi
lấy lên, nay ngâm tiếp. Nay yêu cầu ông S1 di di các cây ngâm này đi chỗ khác
để ngưi kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch sử dụng phần đất này.
Đối với các cây ngâm của ông Thắng thì không yêu cầu Tòa án giải quyết,
không yêu cầu ông Thắng di di, vì là con cái trong gia đình, cây của ông Thắng
cũng ít. Hiện nay phần đất này do Phạm Văn B1 Phạm Văn V con ông Ch
sử dụng trồng lúa nuôi gia đình ông Ch.
Nay ngưi kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch yêu cầu ông B3,
ông S1 những ngưi c liên quan phải di di nhà trlại diện tích đất đã lấn
9
chiếm cho ni kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch u trên. Ni kế
thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch thống nhất kết quđo đạc thc tế của
Tòa án giá của Hội đồng định giá. u cầu a án c định ranh đất cho c
n. Trong trưng hợp Tòa án c định ranh đất cho c bên thì đối với c cây
trồng i sản trên đất nếu thuộc đất của ai thì của ngưi đ. Hiện nay, quyền
sử dụng đất các thửa đất 162, 183 270 ông không c thế chấp, cầm ccho ai.
- Bị đơn ông Phạm Văn B3 trình bày:
Ông không thống nhất với yêu cầu khởi kiện li trình bày của nguyên
đơn ông Ch (là anh ruột). Phần đất nguyên đơn khởi kiện tranh chấp ranh
đất của ông tự khai hoang sử dụng n định từ năm 1980 cho tới nay, không
c lấn ranh qua đất của ông Ch, từ trước cho tới nay đất của hai bên c ranh giới
ràng. Nguồn gốc đất trước đây vào m 1980 gia đình ông từ huyện Vĩnh
Hưng, tỉnh Long An đến sinh sống, lập nghiệp tại Vùng kinh tế mới An nh
B (Nay thuộc khm 2, phưng A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp), chủ trương
Nhà nước tạo điều kiện cho dân vào khai phá làm kinh tế sinh sống. Quá trình
khai phá và cải tạo ông c khai phá được một phần đất ở và khoảng 30 công đất
ruộng như hiện nay. Sau đ, đến năm 1983 thì ông Ch mới về vùng nay sinh
sống cạnh đất ông.
Đối với phần đất tkhi ông K1 phá c chiều ngang 41m, chiều dài
từ mé Kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng (thưng gọi kênh Long An) đến ruộng
khoảng 60m, trong quá trình sinh sống canh tác lúa, do đất nhiễm phèn
cần lấy nước canh tác nên ông c mở một đưng nước chiều ngang 2,4m trên
đất của ông. Sau này nhà nước làm tỉnh lộ 842 chia phần đất thành 02 phần,
phần giáp kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, thuộc thửa 104. Đối với phần đất này ông Ch khởi kiện ông cho
rằng ông lấn đất tự xác định ranh đất là từ mốc 7 đến mốc 10, ông không
thống nhất, ông xác định ranh đất giữa thửa 104 của ông và thửa 103 của ông Ch
từ mốc 5 đến mốc 11. Diện tích đất tranh chấp 145,7m
2
(Vị trí sIV, thuộc
phạm vi các mốc 5, 6, 7, 10, 11 5) hiện này ông ngưi quản lý, sử dụng để
làm đưng cho máy cày, máy xới lên xuống kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng
trên ranh giới đất này vào năm 2016 ông cũng c cho ông Lê Văn Đ2 thuê trồng
01 trụ đchuyền điện qua b kênh bên kia với giá 5.000.000 đồng, việc thuê
này là vĩnh viễn. Trong quá trình ông sử dụng và cho ông Đ2 thuê trồng trụ điện
thì không ai ngăn cản hay tranh chấp gì. Giữa ông ông Đ2 không tranh
chấp hay yêu cầu trong vụ án này. Đưng ông lên xuống máy mc nông
nghiệp c từ năm 1987 cho tới nay khoảng trên 30 năm. Đối với hàng bụi tre
(khoảng 3 bụi) Nguyên đơn trình bày của ông trồng lâu trên 30 năm nay,
trồng trên đất của ông, mục đích trồng tre để lấy gỗ sdụng bắt cá, cất nhà…,
10
đến năm khoảng năm 2014 ông đốn các bụi tre này đtrồng cây ăn trái, không
c trụ đá như nguyên đơn trình bày.
Còn phần đất phía trong lộ, thì năm 2007 ông đăng được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc thửa 163, diện tích cấp giấy
1.096,0m
2
, mc đích sử dụng là trồng cây lâu năm. Ông Ch cho rằng ông lấn đất
qua và xác định ranh đất là từ mốc 23 đến mốc 40 đến mốc 42, ông không thống
nhất, ông yêu cầu Tòa án xác định ranh đất của ông từ mốc 21 đến 39 đến
mốc 41. phần đất tranh chấp diện tích 104,7m
2
(Vtrí số VII) diện tích
57,4m
2
(vtXIV) thuộc một phần thửa 278 ông đã sữ dụng n định từ đ cho
tới nay, trên phần đất tranh chấp này ông cũng cho con mình chị H3 anh
Đ1 xây dựng nhà lên để vào năm 2008 cho tới nay. Trong qtrình ông sử
dụng chị H3anh Đ1 xây dựng nhà thì không ai ngăn cản, gia đình ông Ch
còn qua xây dựng tiếp nhà cho chị H3anh Đ1.
Đồng thi, đối với phần đất ruộng thì ông được nhà nước công nhận
quyền sử dụng đất thuộc thửa 278, diện tích được cấp theo giấy 30.045m
2
.
Tuy nhiên, nay bị ông Ch L2 tự ý cắm ranh qua lấn chiếm, ông Ch lấn
chiếm 57,4m
2
(Vị trí XIV), L2 (bà Nh) lấn chiếm diện tích 21,2m
2
(Vị trí
XVI). Nay ông yêu cầu ông Ch L2, Nh trả lại diện tích đất này. Phần
đất này hiện nay vẫn nằm trong thửa 278 của ông ông đang quản sdụng.
khi khai phá đất thẳng ranh từ kênh chạy thẳng vào đất ruộng. Đối với
diện tích tranh chấp Vị trí XIII thì trong vụ án này giữa ông Ch ông S1 đang
tranh chấp với nhau, nhưng hiện nay do ông Ch quản lý sử dụng. Phần đất này là
của ông S1, do cho ông S1 vào năm 1984, không phải của ông Ch. Sau
đ ông S1 c phần đất này để lấy đất làm nền nhà thành cái ao trước, sau đ
khi các bên trao đi đất (tay 3) ông Ch múc phần còn lại của ông Ch nên thành
cái ao lớn như hiện nay. Do anh em n ông S1 để cho ông Ch sử dụng để khai
thác khi về. Tòa án xác định diện tích này của ông S1 hay ông Ch thì
ông yêu cầu Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất cho các bên, để sử
dụng n định lâu dài về sau.
Ông thống nhất kết quả đo đạc thực tế của Tòa án giá tài sản tranh
chấp của Hội đồng định giá. Yêu cầu Tòa án xác định ranh đất cho các bên.
Trong trưng hợp Tòa án xác định ranh đất cho các bên thì đối với các cây trồng
và tài sản trên đất nếu thuộc đất của ai thì là của ngưi đ.
Thửa đt số 163 ông không c thế chấp hay cầm cố cho ai,n thửa đt 278
t ông đang thế chấp tại Png Giao dịch Nn ng Kn Long thành phHồng
Ngự, tỉnh Đng Tp.
11
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S1 người đại
diện theo y quyền l ông Phm Đức L trình bày:
Ng trước đây vào năm 1984 gia đình ông t huyện Vĩnh Hưng, tỉnh
Long An về sinh sống tại Vùng kinh tế mới An Bình B (nay thuộc ấp 2,
An Bình B, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) và chủ trương Nhà nước tạo điều
kiện cho dân vào khai thác làm kinh tế sinh sống. Trước khi ông về ở thì em ông
Phạm Văn B3 đã về đây từ năm 1980 trước rồi, đến năm 1983 thì anh hai
ông là Phạm Văn Ch về sau ở giữa phần đất ông và phần đất ông B3, mỗi ngưi
một phần và liền kề với nhau từ kênh vào. Quá trình khai thác đất cải
tạo thì các bên sử dụng n định từ trước tới nay, không c ai lấn đất ai. Nay ông
Ch khởi kiện cho rằng ông lấn chiếm đất ông không thống nhất.
Đối với phần đất ở, sau khi nhà nước m Tỉnh lộ 842 chia phần đất
của ông thành 02 phần, phần giáp kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng, chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất, thuộc thửa 102. Đối với phần đất này ông
Ch xác định ranh đất từ mốc 2 đến mốc 15, ông không thống nhất, ông xác
định ranh đất giữa thửa 102 của ông thửa 103 của ông Ch là từ mốc 3 đến
mốc 13. Diện tích đất tranh chấp 89,8m
2
(Vtrí số II) hiện nay ông ngưi
quản lý, sử dụng từ m 1984 c cho con anh H2 chB4 xây dựng nhà
lên ở vào năm 2008. Trong quá trình ông sử dụng và cho anh H2, chị B4 cất nhà
ở thì không ai ngăn cản hay tranh chấp gì. Đi với hàng bụi tre t ông trồng trên
20 năm trước, ông trồng từ mốc từ mốc 3 đến mốc 13, trồng trên phần đất của
ông, không c trồng từ mốc 2 đến mốc 15 như Nguyên đơn trình bày, tới năm
2008 khi anh H2 cất nhà thì ông mới đốn bỏ bụi tre này. Còn phần đất phía
trong Tỉnh lộ 842, phần đất này gia đình ông cũng sử dụng n định tkhi khai
phá vào năm 1984 cho tới nay, không c lấn chiếm đất của ông Ch, ông đã
đăng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2006, thuộc
thửa 161, diện tích cấp giấy 444m
2
, mục đích sử dụng đất 300m
2
, đất trồng
cây lâu năm 144m
2
. Ông Ch cho rằng ông lấn đất qua xác định ranh đất
từ mốc 18 đến mốc 36, ông không thống nhất, ông yêu cầu Tòa án xác định ranh
đất của ông từ mốc 19 đến 37. Trên phần đất tranh chấp 113,8m
2
(Vtrí số
IX) nay ông đã xây dựng nhà kiên cố lên để ở n định từ trên 20 năm nay. Trong
quá trình ông sử dụng xây dựng nhà thì không ai ngăn cản hay tranh chấp gì.
Đối với phần đất lúa phía sau nhà ông S1 diện tích là 657,9m
2
, thuộc một
phần thửa số 270, hiện do ông Ch đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
phần đất này ông tự khai phá đã sử dụng từ năm 1984 cho tới nay. Tuy nhiên
vào khoảng giữa tháng 10/2019 (âm lịch) phía gia đình ông Ch ngang nhiên bao
chiếm canh tác lúa cho tới nay, do ông thấy bên ông Ch quá hung dữ, cầm dao
dọa chém nên ông không trực tiếp tranh giành để lấy lại khởi kiện nh Tòa
12
án giải quyết. Phần đất này ông không biết do tại sao ông Ch đi đăng
được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu ông
Phạm Văn Ch trả lại diện tích đất bao chiếm là 657,9m
2
này cho ông và yêu cầu
Tòa án giải quyết hủy một phần giấy đã cấp cho ông Ch thuộc thửa 270 đối với
diện tích đất tranh chấp này để cấp lại cho ông. Hiện nay, trên phần đất này c
01 cái trũng nhỏ, quanh năm ngập nước, do trước đây ông ng lấy múc phần
đất này lên để đ nền nhà, nên ông c ngâm cây tràm bạch đằng phía dưới,
ngâm cách đây 10 năm hiện nay vẫn còn các cây này. Ông Ch bao chiếm từ
tháng 10/2019 (âm lịch) cho tới nay, nhưng diện tích đất cũng ít, thiệt hại
không lớn, nên ông S1 không yêu cầu bồi thưng thiệt hại, chỉ yêu cầu trả đất.
Đối với phần đất phía sau nhà ông Ch, hiện trạng hiện nay là nửa (1/2)
cái ao, diện tích 693,4m
2
(Vị trí XII + XIII). Nguồn gốc đất này của
Dương Thị Lũ, bán cho L2 mt nửa cái ao, còn lại một nửa cho
ông S1 vào năm 1984, vì lúc đ ông S1 mới tới còn nghèo kh cần đất canh
tác nuôi gia đình ông S1 sử dụng. Trước đ đất trồng lúa, sau này đến
khoảng năm 1990 thì ông S1 lấy đất nên đào thành ao đ nền nhà đang . Tới
năm 2004 trong quá trình sử dụng thì giữa ông S1, ông Ch L2 c trao đi
đất với nhau để cho liên canh liền dễ canh tác. L2 lấy phần đất ruộng của
ông S1 khoảng nữa công tầm cắt (Vị tXXIII), ông S1 lấy lại đất của L2
diện tích tương đương (vị trí XVII). Sau đ giữa ông S1 ông Ch đi đất với
nhau, ông Ch lấy phần đất mà ông S1 đi của L2 (Vị trí số XVII), ông S1 lấy
phần đất của ông Ch diện tích tương đương (Vị trí XVIII). Sau khi đi đất được
khoảng 02 năm tông Ch mới múc đất phần diện tích Vị tsố XVII để đ nền
nhà (trước đ Vị trí số XVII đất ruộng) nên trở thành cái ao chung với đất của
ông S1 đào đất trước đ vị tXIII. Thấy vậy anh em, diện tích đất ao
cũng không c bao nhiêu nên ông S1 đưa cho ông Ch sử dụng luôn hết cái ao
này (Vị trí XIII XVII), mục đích để mùa nước tự nhiên vào khai thác
cá. Nay ông không biết Ng nhân tại sao ông Ch cho rằng đây phần đất của
ông Ch và bao chiếm sử dụng không trả lại cho ông S1. Đồng thi ông cũng
không biết Ng nhân tại sao mà Nh (con L2) được đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, thuộc một phần thửa số 577. Nay ông yêu cầu ông Ch
trả lại phần đất này cho ông yêu cầu hủy phần giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho Nh thuộc mt phần thửa 577 để cấp lại cho ông diện tích đất
tranh chấp này.
Ông S1 canh tác Vtrí XVIII từ năm 2004 cho tới tháng 10/2019 (âm
lịch) thì gia đình ông Ch lấy lại không đi nữa đồng thi gia đình ông Ch lấn
chiếm luôn phần đất còn lại của ông (V trí XI).
13
Nay các bên thống nhất trao trả lại những gì đã đi đất vào năm 2004,
L2 cũng lấy lại đất đã đi Vị trí số XVII, trả lại đất Vị trí số XXIII cho ông,
ông cũng trả lại diện tích đất Vtrí XVIII cho ông Ch. Ông Ch, ông S1, L2
thống nhất đất của ai về ngưi đ, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các
phần đất đi này và đã giải quyết xong.
Ông thống nhất kết quả đo đạc thực tế của Tòa án giá của Hội đồng
định giá. Yêu cầu Tòa án xác định ranh đất cho các bên. Trong trưng hợp Tòa
án xác định ranh đất cho các bên thì đối với các cây trồng và tài sản trên đất nếu
thuộc đất của ai thì là của ngưi đ. Hiện nay thửa đất 161 và thửa 272 không c
thế chấp, cầm cố, tặng cho ai, ông đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ở nhà. Ngoài ra không yêu cầu hay trình bày gì thêm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan b Phạm Thị L2, đồng thời l
người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Nh trình bày:
Thửa đất 577 của L2 ông H4, do trước đây vchồng sợ vượt
hạn điền nên mới để cho con gái Nguyễn Thị Nh đứng tên trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, chứ thật sự đất của ông hiện nay ông cũng
là ngưi quản lý, sử dụng. Phần đất này bà và ông H4 mua của bà Dương Thị Lũ
ông Nguyễn Văn Phi vào năm 1995 sử dụng n định từ đ cho tới nay
(ông Phi đã chết, chồng của Lũ) nằm Vtrí số XVII XX (trong phạm vi
các mốc 38, 42, 27, 44, 53, 54, 45, 30 và 38). Nay bà không thống nhất theo yêu
cầu khởi kiện của ông Phạm Văn B3, ranh đất của thuộc thửa 577 với thửa
278 của ông B3 là từ mốc 42 đến mốc 27, không phải từ mốc 41 đến 28 như ông
B3 xác định, phần đất tranh chấp diện tích 21,2m
2
(VtXVI) này là của
đã quản lý, sử dụng từ trước. ranh đất của tính từ ranh của ông Ch
ông B3 thẳng vào. năm 1995 mua ng tầm cắt chkhông phải tầm điền.
Làm sao diện tích của đủ đã mua của vào năm 1995. Còn đối
với phần diện tích đất 658,5m
2
(Vị trí XIII) và 34,9m
2
(Vị trí XII) là của ông Ch,
không phải của ông S1, cũng không phải của Lủ. cũng không biết do
sao phần đất này được cấp giấy cho con Nguyễn Thị Nh, đất của
chỉ nằm trong phạm vcác mốc 38, 42, 27, 44, 53, 54, 45, 30 38 (Vị trí số
XVII và XX). Thống nhất sẽ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất diện tích này cho Nguyên đơn.
Trước đ, vào năm 2004 giữa bà, ông Ch ông S1 c trao đi đất với
nhau để liền canh liền cư dễ canh tác lúa, bà lấy đất của ông S1 Vị trí XXIII, ông
S1 lấy đất bà Vị trí XVII, sau đ ông Ch đi với ông S1, ông Ch lấy Vị trí XVII,
ông S1 lấy Vị trí XVIII của ông Ch, diện tích đi của các bên khoảng nửa
công tầm cắt. Nay thống nhất trả lại các phần đất đi này cho nhau, của ai về lại
14
của ngưi đ đã trao trả cho nhau rồi, không yêu cầu Tòa án giải quyết các
phần đất đi này.
Thống nhất kết quả đo đạc thực tế của Tòa án, giá của Hội đồng định đã
định. Yêu cầu Tòa án xác định ranh đất cho các bên. Trong trưng hợp Tòa án
xác định ranh đất cho các bên thì đối với các cây trồng tài sản trên đất nếu
thuộc đất của ai thì là của ngưi đ. Hiện nay thửa đất 577 không c cầm, cố thế
chấp cho ai.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan b Hồ Thị U trình bày: Thống
nhất theo li trình bày của ông Phạm Văn B3 (là chồng), không trình bày b
sung gì thêm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan b Trần Thị Đ1 trình bày:
Thống nhất theo li trình bày của ông Phạm Văn S1 (là chồng), không trình bày
b sung gì thêm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Đức L trình bày:
Thống nhất theo li trình bày của ông Phạm Văn S1 (là cha), không trình bày b
sung gì thêm.
- Người quyền li, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Kiên Long Chi
nhánh Đồng Tháp Phòng Giao dịch thnh phố Hồng Ng do ông Nguyễn Thanh
Phong đại diện trình bày:
Diện tích đất ít (chỉ c 57,4m
2
) và c giá trị nhỏ, chỉ một phần tài sản thế
chấp, nên không làm ảnh hưởng tới giá trị tài sản đảm bảo mà ông Phạm Văn B3
đã thế chấp cho khoản vay của mình. Nên Ngân hàng không c yêu cầu Tòa án
giải quyết đối với ông B3 cùng hộ ông B3 phần diện tích đất tranh chấp
trong vụ án này.
Tại Bản án dân s thẩm số: 19/2022/DS-ST ngày 04/8/2022, Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
1. Đình chmột phần yêu cầu khởi kiện của những ngưi kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn Ch về việc yêu cầu ông Phạm Văn S1 trả lại
diện tích lấn chiếm là 89,8m
2
(Vị trí số II, thuộc phạm vi các mốc 2, 3, 4, 13, 14,
15, 2), đất thuộc một phần thửa 102 103. Yêu cầu ông Phạm Văn B3 trả lại
diện tích lấn chiếm 145,7m
2
(Vị trí số IV, thuộc phạm vi các mc 5, 6, 7, 10,
11, 5), đất thuộc một phần thửa 103 và 104.
2. Không chấp nhận u cầu khởi kiện của những ngưi kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của ông Ch đối với ông B3 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng
đất (QSDĐ).
15
Ranh giới QSDĐ giữa những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
ông Ch với ông B3 được c định từ mốc 21 đến 39 đến 41; nối c mốc này tạo
thành đưng thẳng ranh giới QSgiữa những ngưi kế thừa quyền, nga vụ
tố tụng của ông Ch với ông B3.
Ranh giới QSDĐ giữa những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
ông Ch với ông S1 được c định từ mốc 19 đến 37; nối hai mốc này tạo thành
đưng thẳng là ranh giới QSDĐ giữa những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
của ông Ch với ông S1.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn B3 về tranh chấp ranh
giới QSDĐ với chị Nguyễn ThNh. Ranh giới QSDĐ giữa ông B3 với chị Nh
được xác định từ mốc 41 đến 28; nối hai mốc này tạo thành đưng thẳng ranh
giới QS giữa ông B3 với chNh.
Các bên đương sự c quyền nghĩa vụ sử dụng ranh giới quyền sử
dụng đất đã được xác định nêu trên theo chiều thẳng đứng từ lòng đất đến không
gian theo quy định của pháp luật về ranh giới quyền sử dụng đất.
c đương c nghĩa vụ di di c loại y trồng, vật kiến trúc ra khỏi ranh
giới quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn S1 đối với
những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch về tranh chấp quyền sử
dụng đất;
Buộc những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch gồm c
ông, L, B, M, T, B1, V, Đ, S, B2, Ng và Hanh giao cho ông Phạmn S1 diện
ch đất 657,9m
2
thuộc một phần thửa 270 do hộ ông Phạm n Ch đứng n trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vtrí trên sơ đồ đo đạc (XI) nằm trong phạm vi
c mốc 32, 33, 34, 35, 36, 38 về 32, đất tọa lạc tại khm 2, phưng An nh B,
thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tp.
5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn S1 đối với
những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch về tranh chấp quyền sử
dụng đất diện tích 693,4m
2
(XII + XIII) thuộc một phần thửa 577 do hchị Nguyễn
Thị Nh đang đứng n quyền sử dụng đất, vtrí tn sơ đồ đo đạc số (XII, XIII) nằm
trong phạm vi các mốc 36, 37, 39, 41, 38 về mốc 36, đất tọa lạc tại khm 2, png
An Bình B, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Kèm theo đồ đo đạc b sung hiện trạng đất tranh chấp giữa ông Phạm
Văn Ch, ông Phạm n B3 ông Phạm Văn S1 ngày 20/4/2020 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai thành phố Hồng Ngự; Biên bản xem t thẩm định tại
16
chngày 29/11/2019 Biên bản xem t thẩm định tại ch ngày 06/3/2020 ca
a án nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là Tòa án nn dân thành phố H).
c đương được quyền đến quan nhà nước c thẩm quyền kê khai, đăng
, điều chỉnh theo quy định của pháp luật đđược cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo bản án đã tuyên.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định v chi phí tố tụng, án phí dân
s sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 16/8/2022, 09 (chín) đương sự gồm các ông, Trần Thị L, Phạm
Văn Đ, Phạm Văn Xệ, Phạm Văn B, Phạm Văn M, Phạm Văn T, Phạm Văn B1,
Phạm Thị Ng Phạm Văn D (V) ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
Nguyên đơn ông Phạm Văn Ch c đơn kháng cáo (do người đại diện theo ủy
quyền Nguyễn Thị H thc hiện) yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm theo hướng công nhận diện tích đất 1.974m
2
là của gia đình Nguyên
đơn y như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp m 2001 hủy
một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Văn B3
ông Phạm Văn S1 đối với những phần diện tích đất ông B3 ông S1 đã lấn
chiếm thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình Nguyên đơn
Ngày 16/8/2022, ngưi c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị
Nh c đơn kháng cáo (do người đại diện theo ủy quyền l b Phạm Thị L2 thc
hiện) yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng công nhận
diện tích đất 21,2m
2
Tòa án cấp thẩm đã tuyên án cho ông B3 của gia
đình bà L2 (nay thuộc quyền sử dụng của bà Nh).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các đương sự c kháng cáo là những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của Nguyên đơn ông Phạm Văn Ch, c ngưi đại diện theo ủy quyền
Nguyễn Thị H tham gia phiên tòa trình bày, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ngưi c quyền lợi, nghĩa vliên quan c kháng cáo Nguyễn Thị Nh, do
Phạm Thị L2 đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa trình bày, cũng giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo (sau đây gọi tắt là các đương sự c kháng cáo).
Luật Ngô Quang Thế v Luật Phi Tùng, cùng bảo vệ quyền v
lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Phạm Văn B3 v người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Phạm Văn S1, bà Trần Thị Đ1, trình by với nội dung:
Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm xác định, ranh giới quyền sử dụng
đất giữa những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ ttụng của ông Ch với ông B3 được
c định từ mốc 21 đến 39 đến 41; nối các mốc này tạo thành đưng thẳng là ranh
giới quyền sử dụng đất giữa những ngưi kế tha quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông
17
Ch với ông B3; ranh giới quyền sử dụng đất giữa những ngưi kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của ông Ch với ông S1 được c định từ mốc 19 đến 37; nối hai
mốc y tạo thành đưng thẳng ranh giới quyền sử dụng đất giữa những ngưi
kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch với ông S1; ranh giới quyền sử dụng
đất QSDĐ giữa ông B3 với bà Nh được xác định từ mốc 41 đến 28; nối hai mốc
y tạo thành đưng thẳng ranh giới giữa ông B3 với Nh. Theo đ, a án
cấp sơ thẩm quyết định buộc những ngưi kế thừa quyền, nga vụ tố tụng của ông
Ch gồm c ông, L, B, M, T, B1, V, Đ, S, B2, Ng Hanh giao cho ông S1
diện tích đất 657,9m
2
thuộc một phần thửa 270 do hông Phạm Văn Ch đứng tên
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vị trí trên đồ đo đạc (XI) nằm trong
phạm vi c mốc 32, 33, 34, 35, 36, 38 về 32, đất tọa lạc tại khm 2, phưng An
nh B, thành phHồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; các đương sự c nghĩa vụ di di
c loại cây trồng, vật kiến trúc ra khỏi ranh giới quyền sử dụng đất, đồng thi
được quyền đến quan nhàớc c thẩm quyền khai, đăng ký, điều chỉnh theo
quy định của pháp luật để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản
án đã tuyên, phù hợp với c i liệu, chứng cứ của vụ án, đúng quy định pháp
luật về đất đai. Tại phiên tòa phúc thẩm, c đương sự kháng o nhưng không c
i liệu, chứng cứ o mới n Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ
kháng cáo của c đương snày, giữ ngun bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xđã tiến hành tố tụng giải
quyết vụ án đúng quy định pháp luật; các đương sự và ngưi đại diện hợp pháp
của đương sự đã chấp hành đúng quyền nghĩa vụ tố tụng theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về các nội dung yêu cầu kháng cáo của các đương s:
Tòa án cấp thẩm đã xét xử vụ án c căn cứ, phù hợp với các tài
liệu, chứng cứ của vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương
sự. Các đương sự kháng cáo nhưng không c tài liệu, chứng cứ nào mới nên
không sở để chấp nhận; do đ, Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
Nguyên đơn ông Phạm Văn Ch, do ngưi đại diện theo ủy quyền Nguyễn
Thị H thực hiện, đơn kháng cáo của ngưi c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị Nh (do ngưi đại diện theo ủy quyền Phạm Thị L2 thực
18
hiện) Đu nộp trong thi hạn đúng thủ tục quy định của pháp luật nên hợp lệ,
được xem xét theo thủ tc phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự ngưi đại diện hợp pháp của
các đương sự vắng mặt nhưng thuộc trưng hợp đã c đơn xin xét xử vắng mặt
hoặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không c lý
do chính đáng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành phiên tòa phúc thẩm
xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật T
tụng dân sự, như sau:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật
tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền và thủ tục theo quy định
của Bộ luật T tụng dân sự.
[2] Về nội dung yêu cầu kháng cáo của các đương s l người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn ông Phạm Văn Ch;
[2.1] Về tranh chấp quyền sử dụng đất ranh giới quyền sử dụng đất
đối với ông Phạm Văn B3; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1a] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn Ch những
ngưi kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch (sau đây gọi tắt Nguyên
đơn) cho rằng, ngày 31/10/2001 ông Ch đã được UBND huyện Hồng Ngự (nay
thành phố H) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 162, t
bản đồ số 03, diện tích là 1.974m
2
(trong đ đất th 300m
2
, đất cây lâu
năm 1.674m
2
). Đến năm 2006, ông Phạm Văn B3 (em ruột ông Ch) lợi dụng
tình hình ông Ch bị Bệnh không đi lại được nên ợn Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đi thế chấp ngân hàng, sau đ ông B3 và ông S1 tự ý làm thủ tục đi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng diện tích đất của 02 ông và cắt bớt
diện tích đất của ông Ch. Nguyên đơn xác định diện tích đất thuộc quyền sử
dụng hợp pháp hiện nay thuộc 02 thửa 162 183, theo đo đạc thực tế
1.796,4m
2
nằm trong phạm vi các mốc 18, 19, 20, 21, 22, 23, 40, 42, 41, 38, 36
18, thuộc các Vị trí số VII, VIII, IX, XII, XIII XIV của đồ đo đạc b
sung hiện trạng đất tranh chấp giữa ông Phạm Văn Ch, ông Phạm Văn B3
ông Phạm Văn S1 ngày 20/4/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
thành phố H (sau đây gọi tắt l đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp); theo
đ, Nguyên đơn xác định ranh đất của 02 thửa này, phía giáp với thửa 163 của
ông B3 từ mốc 23 đến mốc 40 và tới mốc 42, nên yêu cầu ông B3 trả lại phần
đất lấn chiếm 162,1m
2
(Vị trí số VII XIV, thuộc phạm vi các mốc 21, 22,
23, 40, 42, 41, 39 và 21 ca Sơ đ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp).
[2.1b] Tuy nhiên, nguyên đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để
chứng M cho việc ông B3 mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi thế chấp
19
ngân hàng, sau đó ông B3 và ông S1 tự ý làm thủ tục đi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, mở rộng diện tích đất của 02 ông này cắt bớt diện tích đất của
ông Ch.
[2.1c] Mặt khác, về mối quan hệ thì ông Phạm Văn Ch và ông Phạm Văn
B3 anh em ruột, hai bên c đất sử dụng giáp ranh nhau và cùng c nguồn gốc
do khai hoang từ khoảng năm 1979-1980, trong đ ông B3 đến khai hoang
trước ông Ch. Ông Phạm Văn B3 đã quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp n
định từ năm 1980 đến nay, trên đất c một phần căn nhà của Phạm Thị H3
ông Nguyễn Văn Đ1 đang c diện tích nhà 54,4m
2
. Khi xây dựng thì không
ai tranh chấp hay ngăn cản. Trong quá trình giải quyết vụ án cấp thẩm,
ngưi đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng thừa nhận, H3 ông Đ1
cất nhà năm 2009 ông Ch và các con ông Ch không ai tranh chấp, đến năm 2018
ông B3 đốn cây nên mới tranh chấp.
[2.1d] Tại Công văn số 983/UBND-HC ngày 20/7/2020 của Ủy ban nhân
dân thành phố H xác nhận: “Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần
đầu cũng như thủ tục chuyển nhượng, cấp đổi, cấp lại các thửa đất số 161, 162,
163, 183, 200, 272, 278 theo hồ sơ lưu trữ không đo đạc thc tế;”.
[2.1đ] Với các tài liệu chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác
định, ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông hộ Chìa hộ ông B3 một đưng
thẳng từ mốc 21, 39, 41 là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất thực tế giữa hai
bên. Do đ, những ngưi kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch yêu cầu
ông B3 trả lại phần đất lấn chiếm 162,1m
2
(Vị trí số VII XIV, thuộc phạm
vi các mốc 21, 22, 23, 40, 42, 41, 39 và 21 của Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh
chấp) là không c cơ sở, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là đúng.
[2.2] Về tranh chấp quyền sử dụng đất ranh giới quyền sdụng đất
đối với ông Phạm Văn S1;
[2.2a] Nguyên đơn yêu cầu ông S1 trả lại diện tích 113,8m
2
thuộc một
phần thửa 161 (Vị trí IX, thuộc phạm vi các mốc 18, 19, 37, 36 18 của đồ
đo đạc hiện trạng đất tranh chấp); Hội đng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu ông S1 trả lại diện
tích 113,8m
2
(phần đất tranh chấp) vì ông S1 đã lấn chiếm diện tích đất này của
ông Ch, nhưng nguyên đơn không c tài liệu, chứng cứ chứng M. Trong khi đ,
phần đất tranh chấp ông S1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ
năm 2006. Hồ vụ án thể hiện, ông S1 đã sử dụng phần đất tranh chấp từ năm
1984 cho tới nay, ông S1 đã xây dựng nhà n định, không ai ngăn cản hay
tranh chấp gì. Ông S1 xác định ranh đất từ mốc 19, 37 là phù hợp với hiện trạng
và quá trình sử dụng đất. Do đ, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, không chấp nhận
20
yêu cầu của những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch yêu cầu
ông S1 trả lại cho ông diện tích lấn chiếm 113,8m
2
thuộc một phần thừa 161
không chấp nhận yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất từ mốc 18
đến mốc 36, là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án, đúng quy định pháp
luật.
[2.2b] Đối với yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn S1 yêu cầu những
ngưi kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch trả lại diện tích đất bao
chiếm 657,9m
2
(Vị trí XI đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp) yêu cầu
Tòa án giải quyết hủy mt phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho
hộ ông Ch thuộc một phần thửa 270; Hội đng xét xử phúc thẩm nhận thấy;
Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn cho rằng phần đất diện
tích 657,9m
2
nêu trên do ông Ch tự khai phá sử dụng n định từ năm 1978
cho tới nay. Trước đây c một thi gian ông S1 canh tác lúa giữa ông Ch,
bà L2ông S1 có trao đi đất với nhau để liền canh, liền cư tiện canh tác. Nay
03 bên thống nhất không đi đất nữa, đất của ai về lại của ngưi đ, nên ông Ch
lấy lại phần đất này canh tác vào tháng 10/2019 (âm lịch canh tác từ đ cho
tới nay) hiện nay ông Ch ngưi được đứng tên trong Giấy chứng nhận
quyền sử đụng đất từ năm 2001. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện, đây là phần đất
lúa phía sau nhà ông S1 thuộc một phần thửa số 270, phần đất này ông S1 tự
khai phá và đã sử dụng từ năm 1984 cho tới nay. Hiện nay, trên phần đất này, c
01 cái trũng nhỏ, quanh năm ngập nước, do trước đây ông S1 cũng lấy đất để
đắp nền nhà, nên ông c ngâm cây tràm bạch đằng phía dưới, ngâm cách đây
10 năm và hiện nay vẫn còn các cây này.
Trong khi đ, ông Phạm Văn S1 cho rằng diện tích đất 657,9m
2
(Vị t
XI) nêu trên do ông S1 khai hoang sử dụng từ năm 1984 đến năm 2019 do
phát sinh tranh chấp bên ông Ch mới vào sử dụng, li trình bày này của ông S1
phù hợp với với thực tế từ năm 2019 bên ông Ch mới bắt đầu sử dụng đất.
vậy, Tòa án cấp thẩm xác định diện tích đất 657,9m
2
(Vị trí XI) thuộc quyền
sử dụng hợp pháp của ông Phạm Văn S1, nên chấp nhận yêu cầu nêu trên của
ông S1, buộc những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Nguyên đơn ông
Phạm Văn Ch phải giao cho ông S1 tích đất 657,9m
2
(Vị trí XI đồ đo đạc
hiện trạng đất tranh chấp), là đúng.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vtố
tụng của Nguyên đơn ông Phạm Văn Ch gồm các ông, bà Trần Thị L, Phạm Văn
Đ, Phạm Văn Xệ, Phạm Văn B, Phạm Văn M, Phạm Văn T, Phạm Văn B1,
Phạm Thị Ng, Phạm Văn V kháng cáo các quyết định nêu trên của Tòa án cấp
21
thẩm, nhưng không c tài liệu, chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm
không c cơ sở để chấp nhận.
[3] Về nội dung yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Nguyễn ThNh (do người đại diện theo ủy quyền l Phạm Thị L2
thc hiện); Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy;
[3.1] Trong vụ án này, ông Phạm n B3 c yêu cầu độc lập đối với
Nguyễn ThNh trả lại diện tích đất lấn chiếm diện tích 21,2m
2
(Vị trí XVI Sơ đồ
đo đạc hiện trạng đất tranh chấp) với lý do: Diện tích đất này nằm trong phần đất
ruộng ông B3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc thửa 278,
diện tích là 30.045m
2
. Tuy nhiên, bị L2 tự ý cắm ranh qua lấn chiếm, hiện
bà Nh s dụng diện tích 21,2m
2
nêu trên. Vì khi ông B3 khai phá đất thẳng
ranh từ mí kênh chạy thẳng vào đất ruộng. Như nhận định tại mục [2.1đ], Tòa án
đã xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Ch và ông B3 một đưng
thẳng từ mốc 21, 39, 41. Do đ, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ranh giới quyền sử
dụng đất giữa hộ ông B3 với Nh từ mc 41 đến mc 28 nối thành một đưng
thẳng ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên, nên chấp nhận yêu cầu độc
lập của ông B3 là c căn cứ.
[3.2] Nguyễn ThNh kháng cáo cho rằng, diện tích 21,2m
2
(Vị trí
XVI đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp) một phần diện tích đất thuộc
thửa 577 của Nh đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứ
không phải thuộc thửa 278 của ông B3, là không đủ cơ sở để chấp nhận.
[4] Từ những nhận định nêu trên xét thấy, Tòa án cấp thẩm đã xét xử
c căn cứ. Kháng cáo ca các đương sự không c s, nên Hội đồng xét
x phúc thm thng nht vi ý kiến, quan điểm Đề ngh ca Kim sát viên tham
gia phiên tòa, không chp nhn kháng cáo của các đương s; gi nguyên bn án
sơ thẩm.
[4] Quan điểm của Luật Ngô Quang Thế và Luật Phi Tùng bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Phạm Văn B3, ngưi c quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S1, Trần Thị Đ1 trình bày tại phiên tòa
phúc thẩm là phù hợp với nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử phúc
thẩm chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm;
[5.1] Đương sự kháng cáo Trần Thị L là ngưi cao tui thuộc trưng
hợp được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1
Điều 12 khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thưng v Quốc hội.
22
[5.2] Đương sự kháng cáo ông Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn Xệ, ông
Phạm Văn B, ông Phạm Văn M, ông Phạm Văn T, ông Phạm Văn B1, Phạm
Thị Ng, ông Phạm Văn D (V) Phạm Thị Nh phải nộp án pdân sphúc
thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thưng vụ Quốc hội.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không c kháng cáo, kháng
nghị đã c hiệu lực pháp luật theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 ca Bộ luật Tố tụng dân sự.
1- Không chp nhn kháng cáo ca những ngưi kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng của Nguyên đơn ông Phạm Văn Ch gồm các ông, bà: Trần Thị L,
Phạm Văn Đ, Phạm Văn Xệ, Phạm Văn B, Phạm Văn M, Phạm Văn T, Phạm
Văn B1, Phạm Thị Ng, Phạm Văn D (V) (do ngưi đại diện theo ủy quyền là bà
Nguyễn Thị H thực hiện); không chấp nhận kháng cáo của của ngưi c
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Nh (do ngưi đại diện theo ủy
quyền Phạm ThL2 thực hiện); gi nguyên Bản án dân sự thẩm số:
19/2022/DS-ST ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp:
n cứ o các Điều 26, 37, 144, 147, 157, 165 Bộ luật T tụng dân sự;
Điều 175 Bộ luật Dân s năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củay ban Tng vụ Quốc hi quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ pa án.
Tuyên xử:
1.1. Đình chmột phần yêu cầu khởi kiện của những ngưi kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn Ch về việc yêu cầu ông Phạm Văn S1 trả lại
diện tích lấn chiếm là 89,8m
2
(Vị trí số II, thuộc phạm vi các mốc 2, 3, 4, 13, 14,
15, 2), đất thuộc một phần thửa 102 103. Yêu cầu ông Phạm Văn B3 trả lại
diện tích lấn chiếm 145,7m
2
(Vị trí số IV, thuộc phạm vi các mốc 5, 6, 7, 10,
11, 5), đất thuộc một phần thửa 103 và 104.
2. Không chấp nhận u cầu khởi kiện của những ngưi kế tha quyền,
nghĩa vụ tố tụng của ông Ch đối với ông B3 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng
đất (QSDĐ).
Ranh giới QSDĐ giữa những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
ông Ch với ông B3 được c định từ mốc 21 đến 39 đến 41; nối c mốc này tạo
thành đưng thẳng ranh giới QSgiữa những ngưi kế thừa quyn, nghĩa vụ
tố tụng của ông Ch với ông B3.
23
Ranh giới QSDĐ giữa những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
ông Ch với ông S1 được c định từ mốc 19 đến 37; nối hai mốc này tạo thành
đưng thẳng là ranh giới QSDĐ giữa những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
của ông Ch với ông S1.
1.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn B3 về tranh chấp ranh
giới QS với Nguyễn ThNh. Ranh giới QSDĐ giữa ông B3 với Nh
được xác định tmốc 41 đến 28; nối hai mốc này tạo thành đưng thẳng ranh
giới QSDĐ giữa ông B3 với Nh.
Các bên đương sự c quyền nghĩa vụ sử dụng ranh giới quyền sử
dụng đất đã được xác định nêu trên theo chiều thẳng đứng từ lòng đất đến không
gian theo quy định của pháp luật về ranh giới quyền sử dụng đất.
c đương c nghĩa vụ di di c loại y trồng, vật kiến trúc ra khỏi ranh
giới quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên.
1.4. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Phạm n S1 đối với
những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch vtranh chấp QSDĐ;
Buộc những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch gồm c
ông, : L, B, M, T, B1, V, Đ, S, B2, Ng Hanh giao cho ông Phạm n S1
diện tích đất 657,9m
2
thuộc một phần thửa 270 do hông Phạm Văn Ch đứng tên
trong giấy chứng nhận QS, vị trí trên đồ đo đạc (XI) nằm trong phạm vi c
mốc 32, 33, 34, 35, 36, 38 về 32, đất tọa lạc tại khm 2, phưng An Bình B, thành
phHồng Ngự, tỉnh Đồng Tp.
1.5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn S1 đối với
những ngưi kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ch v tranh chấp QSDĐ diện
ch 693,4m
2
(XII + XIII) thuộc một phần thửa 577 do hộ Nguyễn Thị Nh đang
đứng tên QSDĐ, vị trí tn sơ đồ đo đạc số (XII, XIII) nằm trong phạm vi các mốc
36, 37, 39, 41, 38 về mốc 36, đất tọa lạc tại khm 2, phưng An Bình B, thành phố
Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tp.
m theo Sơ đđo đạc bổ sung hiện trạng đất tranh chấp giữa ông Phạm
Văn Ch, ông Phạm n B3 v ông Phạm n S1 ngày 20/4/2020 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai thnh phố Hồng Ng (BL 225);
c đương được quyền đến quan nhà nước c thẩm quyền kê khai, đăng
, điều chỉnh theo quy định của pháp luật đđược cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo bản án đã tuyên.
1.6. Vchi ptố tụng;
+ Những ngưi kế thừa quyền, nghĩa v tố tụng của ông Ch phi chu
5.312.000 đồng; đã np chi xong.
24
+ Ông Phạmn S1 phải chịu 2.656.00ồng. Do ông Ch cngưi đại diện
theo ủy quyền là bà Hng đã nộp tạmng trước và chi xong nên ông S1 c nghĩa vụ
trả lại cho những ni kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Ch 2.656.000
đồng.
Kể từ ngy đơn yêu cầu thi hnh án của người được thi hnh án cho
đến khi thi hnh án xong tất cả các khoản tiền, hng tháng bên phải thi hnh án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hnh án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015.
1.7. Về án pdân s sơ thẩm;
+ Ni kế tha quyền nghĩa vụ ttụng của ông Phạm n Ca, gồm
các ông : Phạm Văn B, Phạm Văn M, Phạm Văn T, Phạm Văn B1, Phạm Văn
V (D), Phạm Thị Đ, Phạm Văn S, Phạm Thị Ng, Phạm Thị B2 Thái Văn H1
phải liên đới chịu 4.530.000 (bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn) đồng (trong đ
mỗi đương sự phải chịu 1/10 của số tiền này)
+ Trần Thị L và ông Phm Văn S1 được miễn nộp án p dân s
thẩm.
+ Bà Nguyễn Th Nh phi chịu 300.000 đồng án p n sự sơ thẩm.
2- Về án phí dân sự phúc thẩm:
+ Bà Trần Thị L được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
+ Ông Phạm Văn B phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014001 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp; ông B đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
+ Ông Phạm Văn M phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014002 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
n sự tỉnh Đồng Tháp; ông M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
+ Ông Phạm Văn T phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014003 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp; ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
+ Ông Phạm Văn B1 phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014004 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp; ông B1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
25
+ Ông Phạm Văn V phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014005 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp, ông V đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
+ Phạm Thị Đ phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014006 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp, bà Đ đã np đủ án phí dân sự phúc thẩm.
+ Ông Phạm Văn S phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014007 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp; ông S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
+ Bà Nguyễn Thị Ng phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Nguyễn Thị H
nộp thay) theo Biên lai thu số: 0014008 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp; bà Ng đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
+ Nguyễn Thị Nh phải nộp 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp (do Phạm Thị L2 nộp
thay) theo Biên lai thu số: 0014009 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Đồng Tháp; bà Nh đã nộp đ án phí dân sự phúc thẩm.
Trong trưng hợp bản án được thi nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
nh án dân sự thì ni được thi hành ánn s, ngưi phải thinh án dân sự c
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi nh án
hoặc bị ng chế thi nh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b 9 Luật Thi
nh án dân sự; thi hiệu thi nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi nh án dân sự.
Bn án phúc thm hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án ngày 07
tháng 3 năm 2023./.
Nơi nhận:
Tòa án nhân dân tối cao;
VKS1DCC tại Thành phố Hồ Chí M;
TAND tỉnh Đồng Tháp;
VKS1D tỉnh Đồng Tháp;
Cục THADS tỉnh Đồng Tháp;
Các đương sự;
Lưu: hồ sơ (1),VP (6) PTHH.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Đình Thanh
26
Tải về
Bản án số 97/2023/DS-PT Bản án số 97/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất