Bản án số 96/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 96/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 96/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 96/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 96/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 96/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T; sửa Bản án sơ thẩm. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 96/2024/DS-PT
Ngày: 09/7/2024
V/v: “Tranh chấp nợ họ, hụi”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Đức
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên toà: Ông Mai Tất Thái – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thu Hà–
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024
về tranh chấp: “Nợ họ, hụi”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của
Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 213/2024/QĐ-PT ngày 24
tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Trịnh Tâm A, sinh năm: 1976; cư trú tại số A, thôn
Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T, sinh năm: 1974; cư trú tại số G, thôn Q,
xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Cao T1, sinh năm: 1972;
địa chỉ liên hệ: số A, đường N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Luật sư
của Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh L; có mặt.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 29/5/2023, lời trình bày tại các bản tự
khai và trong quá trình tham gia tố tụng của bà Nguyễn Trịnh Tâm A thì: Bà có
2
tham gia 02 dây họ do bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T làm chủ cái vào năm 2021 và
2022. Cụ thể:
+ Ngày 25/01/2021 bà áp dây họ 5.000.000đ gồm 35 thành viên. Bà tham gia
góp 06 phần, kỳ áp cái đầu tiên bà góp 30.000.000đ, kỳ sổ họ tiếp theo, ai bỏ số
tiền lãi cao được hốt. Dây họ này bà đã hốt hết 06 phần họ, bà còn phải đóng 09 kỳ
họ với số tiền mỗi tháng là 30.000.000đ x 9 kỳ = 270.000.000đ.
+ Ngày 05/02/2022, áp cái dây họ 5.000.000đ, dây họ này bà tham gia góp 05
phần. Kỳ góp họ đầu tiên tất cả các thành viên đều phải góp đủ số tiền 5.000.000đ,
bà 05 phần thì góp 25.000.000đ. Kỳ đầu tiên các thành viên góp và chủ cái là
người mượn số tiền này và hàng tháng chủ cái là người phải trả lại cho các thành
viên số tiền 5.000.000đ cho đến khi mãn dây họ và có trách nhiệm tổ chức việc sổ
họ, bà A đã góp được 13 kỳ và chưa hốt phần họ nào.
Dây họ chơi đến kỳ thứ 13 thì giữa bà và bà T phát sinh mâu thuẫn và bà T đề
nghị thối họ cấn trừ tiền họ chết và họ sống để không cho bà tiếp tục tham gia các
dây họ do bà T làm chủ cái. Bà đồng ý việc cấn trừ họ và bà T đã cấn trừ số tiền bà
góp 13 kỳ họ còn sống vào 09 kỳ họ chết bà phải đóng hàng tháng cho bà T với
tổng số tiền là 270.000.000đ. Việc cấn trừ số tiền họ chết này, bà đồng ý. Tuy
nhiên việc bà T chỉ thối lại cho bà số tiền của 13 kỳ góp họ với số tiền thực tế bà
đóng hàng tháng của 13 kỳ sổ họ với số tiền là 277.550.000đ là không đúng với
bản chất của việc chơi họ có lãi. Việc tham gia chơi họ mục đích cũng để các thành
viên kiếm chút tiền lời từ những thành viên bỏ số tiền để hốt họ. Vì các dây họ
trên, các bên khi tham gia chơi có thỏa thuận có lãi, đến kỳ sổ họ ai bỏ số tiền cao
thì được hốt, các thành viên không tham gia hốt sẽ được hưởng lợi số tiền thành
viên bỏ họ hốt, bà đã tham gia 13 kỳ thì phải thối lại cho bà số tiền 325.000.000đ,
bà T chỉ mới thối lại số tiền 277.550.000đ, còn thiếu 47.450.000đ. Vì vậy bà khởi
kiện yêu cầu bà T phải trả số tiền thối họ còn thiếu.
- Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T thì: Bà xác nhận việc bà
Tâm A có tham gia góp 02 dây họ do bà làm chủ cái như lời trình bày của bà Tâm
A là đúng. Dây họ ngày 25/01/2021, gồm 35 thành viên, bà Tâm A tham gia góp
06 phần và đã hốt hết 06 phần. Bà Tâm A còn phải đóng họ chết của dây họ này 09
kỳ với số tiền nợ họ là 270.000.000đ. Việc đóng họ là đóng hàng tháng, tuy nhiên
khi có tranh chấp phát sinh, bà Tâm A cũng đồng ý cho bà cấn trừ nên bà đã cấn
trừ 270.000.000đ tiền họ chết của dây họ này vào số tiền họ bà phải thối lại cho bà
Tâm A trong dây họ ngày 05/02/2022 (âm lịch).
Dây họ ngày 05/02/2022 (âm lịch) gồm 31 phần (bao gồm cả chủ cái). Áp cái
lần đầu vào ngày 05/02/2022 (âm lịch). Mỗi thành viên tham gia góp kỳ đầu tiên
mỗi phần 5.000.000đ x 31 phần = 155.000.000đ. Số tiền này, kỳ đầu tiên chủ cái
họ sẽ nhận số tiền này mà không phải tham gia bỏ họ và hàng tháng bà có trách
nhiệm tổ chức cho các thành viên tham gia bỏ họ, có trách nhiệm thu tiền họ và
chồng họ cho thành viên tham gia hốt họ. Hàng tháng bà còn có nghĩa vụ trả
3
5.000.000đ cho thành viên hốt họ cho đến khi mãn dây họ. Dây họ này sẽ mãn họ
vào ngày 05/6/2024 (Âm lịch). Bà Tâm A tham gia góp 05 phần trong dây họ này
và tham gia góp đến kỳ thứ 13 được tổng số tiền 277.550.000đ thì giữa các bên
phát sinh mâu thuẫn nên đã có việc cấn trừ họ như bà Trâm A1 trình bày. Cụ thể
việc tham gia góp họ và sổ họ như sau:
Lần 1: Ngày 05/02/2022 áp cái 05 phần x 5.000.000đ = 25.000.000đ; lần 2:
Ngày 05/3/2022 bỏ họ 810.000đ = 4.190.000đ x 5 phần = 20.950.000đ; lần 3:
Ngày 05/4/2022 bỏ họ 860.000đ = 4.140.000đ x 5 phần = 20.700.000đ; lần 4:
Ngày 05/5/2022 bỏ họ 870.000đ = 4.130.000đ x 5 phần = 20.650.000đ; lần 5:
Ngày 05/6/2022 bỏ họ 800.000đ = 4.200.000đ x 5 phần = 21.000.000đ; lần 6:
Ngày 05/7/2022 bỏ họ 620.000đ = 4.338.000đ x 5 phần = 21.900.000đ; lần 7:
Ngày 05/8/2022 bỏ họ 700.000đ = 4.300.000đ x 5 phần = 21.500.000đ; lần 8:
Ngày 05/9/2022 bỏ họ 720.000đ = 4.280.000đ x 5 phần = 21.400.000đ; lần 9:
Ngày 05/10/2022 bỏ họ 730.000đ = 4.270.000đ x 5 phần = 21.400.000đ; lần 10:
Ngày 05/11/2022 bỏ họ 750.000đ = 4.250.000đ x 5 phần = 21.250.000đ; lần 11:
Ngày 05/12/2022 bỏ họ 850.000đ = 4.150.000đ x 5 phần = 20.750.000đ; lần 12:
Ngày 05/01/2023 bỏ họ 920.000đ = 4.080.000đ x 5 phần = 20.400.000đ; lần 13:
Ngày 05/02/2023 bỏ họ 860.000đ = 4.140.000đ x 5 phần = 20.700.000đ.
Tổng số tiền 277.550.000đ bà Tâm A tham gia góp họ của 13 kỳ sổ họ trừ
tổng số tiền 270.000.000đ bà Tâm A còn nợ của dây họ ngày 25/01/2021 (âm lịch),
còn lại số tiền 7.550.000đ bà đã chuyển khoản trả đầy đủ cho bà Tâm A. Do đó, để
đảm bảo an toàn cho dây họ sổ ngày 25/01/2021 do bà Tâm A đã hốt nên bà không
thối tiền lời họ của dây họ sổ ngày 05/02/2022. Bà không đồng ý trả cho bà Tâm A
số tiền lời họ 47.450.000đ.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 17/4/2024; Tòa án nhân dân huyện Đơn
Dương, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Trịnh Tâm A. Buộc
bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Trịnh Tâm A số
tiền 47.450.000đ.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, án phí và trách nhiệm thi
hành án của các đương sự.
Ngày 25/4/2024 bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T vẫn giữ nguyên kháng cáo.
4
Bà Nguyễn Trịnh Tâm A, không đồng ý với kháng cáo của bà T, đề nghị giải
quyết như Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của bà T, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà Tâm A về việc buộc bà T trả số tiền lãi họ 47.450.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo
đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T, thủ
tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 273, 278 Bộ
luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Qua xem xét thì thấy rằng:
[2.1] Theo hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận bị đơn là
chủ cái 02 dây họ ngày 25/01/2021 và dây họ ngày 05/02/2022 (âm lịch), mỗi phần
góp 5.000.000đ. Bà Tâm A đã tham gia góp 06 phần vào dây họ ngày 25/01/2021
và đã hốt hết 06 phần, còn phải đóng 09 kỳ họ chết của dây họ này với số tiền là
270.000.000đ. Đối với dây họ ngày 05/02/2022, bà Tâm A đã tham gia góp 05
phần và đã tham gia số họ đến kỳ sổ họ thứ 13, sau đó các bên phát sinh mâu
thuẫn. Hai bên thống nhất việc thối họ và cấn trừ hai dây họ.
[2.2] Xét thấy, việc các bên thỏa thuận góp họ và sổ họ trong dây họ ngày
05/02/2022 thuộc trường hợp dây họ có lãi theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Nghị
định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019. Quá trình giải quyết vụ án bản thân bà
T cũng thừa nhận hiện nay 05 phần họ do nguyên đơn tham gia góp trong dây họ
này thì bà tiếp tục kế thừa và hưởng lãi của dây họ này đối với 05 phần họ tình từ
kỳ sổ họ thứ 14.
Bên cạnh đó, việc nguyên đơn rút khỏi dây họ là theo đề nghị của bà T (chủ
dây họ), do đó bà Tâm A có quyền được nhận lại các phần họ đã góp theo thỏa
thuận mỗi phần 5.000.000đ trong đó bà Tâm A đã góp 05 phần 25.000.000đ x 13
kỳ = 325.000.000đ là có cơ sở chấp nhận. Quá trình tham gia chơi thì bản thân bà
Tâm A cũng không vi phạm nghĩa vụ về đóng tiền huê.
Như vậy, tại kỳ sổ họ thứ 13 việc bà T chỉ thối lại 05 phần cho bà Tâm A với
số tiền thực đóng hàng tháng là 277.550.000đ, số tiền lời họ bà T không thối đủ
cho bà Tâm A là không đúng với việc tham gia chơi hụi, họ có lãi. Việc bà T
không hoàn trả số tiền lời họ cho bà Tâm A là vi phạm nghĩa vụ của chủ dây họ
được quy định tại Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ – CP ngày 19/02/2019. Do
5
đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T phải thanh toán cho bà Tâm A số tiền lãi là có
căn cứ.
Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định tiền lãi từ số tiền 325.000.000đ
– 277.550.000đ (số tiền thực đóng) = 47.450.000đ là chưa chính xác. Do đó, cần
tính toán lại số tiền lãi họ mà nguyên đơn được nhận cụ thể như sau:
Lần 2: 20.950.000đ x 1,66% x 12 tháng = 4.173.240đ; lần 3: 20.700.000đ x
1,66% x 11 tháng = 3.779.820đ; lần 4: 20.650.000đ x 1,66% x 10 tháng =
3.427.000đ; lần 5: 21.000.000đ x 1,66% x 09 tháng = 3.137.400đ; lần 6:
21.900.000đ x 1,66% x 08 tháng = 2.908.320đ; lần 7: 21.500.000đ x 1,66% x 07
tháng = 2.498.300đ; lần 8: 21.400.000đ x 1,66% x 06 tháng = 2.131.440đ; lần 9:
21.350.000đ x 1,66% x 05 tháng = 1.772.050đ; lần 10: 21.250.000đ x 1,66% x 04
tháng = 1.411.000đ; lần 11: 20.750.000đ x 1,66% x 03 tháng = 1.033.350đ; lần 12:
20.400.000đ x 1,66% x 02 tháng = 677.280đ; lần 13: 20.700.000đ x 1,66% x 01
tháng = 343.620đ.
Tổng cộng: 27.284.380đ.
[3] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bà
Nguyễn Thị Xuân Lệ T để sửa Bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định là có căn
cứ.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm
trên số tiền phải thanh toán cho bà Tâm A là 27.284.380đ x 5% = 1.364.219đ. Bà
Nguyễn Trịnh Tâm A không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T không phải chịu
án phí Dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T; sửa Bản án sơ
thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Trịnh Tâm A về
việc: “Tranh chấp nợ họ, hụi” với bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T.
6
Buộc bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Trịnh Tâm
A số tiền 27.284.380đ (hai mươi bảy triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn ba trăm
tám mươi đồng).
2. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Trịnh Tâm A không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm; bà Tâm A
được nhận lại số tiền 1.811.000đ tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009409 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi
hành án Dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T phải chịu 1.364.219đ án phí Dân sự sơ thẩm, được
trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu
tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002494 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Bà T còn phải nộp 1.064.219đ.
- Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Xuân Lệ T không phải chịu án phí Dân
sự phúc thẩm.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng KT-NV & THA (01);
- TAND huyện Đơn Dương (01);
- Chi cục THADS huyện Đơn Dương
(01);
- Các đương sự (02);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Bản án số 118/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm