Bản án số 60/2026/DS-PT ngày 11/02/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 60/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 60/2026/DS-PT ngày 11/02/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 60/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cụ Nguyễn Thị Nh khởi kiện tranh chấp thừa kế đối với ông Đỗ Văn B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 60/2026/DS-PT
Ngày: 11-02- 2026
V/v: Tranh chấp chia tài sản chung
và chia thừa kế
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Lâm, ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư phiên toà: Triệu Mùi Nái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 11 tháng 02 năm 2026, tại trsở Toà án nhân n
thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
322/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp chia tài sản chung
chia thừa kế; do Bản án n sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng bị kháng cáo; theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s 282/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm
2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2026/-PT ngày 19 tháng 01 năm 2026,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/01/1923, số CCCD:
030123000093; đã chết ngày 09/6/2025; địa chỉ cư trú trước khi chết: Thôn Đ,
N, thành phố Hải Phòng.
Những người kế thừa quyền nghĩa vụ của nguyên đơn đồng thời người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ ĐThị S, sinh ngày 22/12/1945, số CCCD: 030145007328; địa chỉ:
Thôn N, xã Y, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
Người bảo vquyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan Đỗ Thị S: Ông Phạm Văn Đ - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm
trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
+ Đỗ Thị Đ1, sinh ngày 26/6/1952, số CCCD: 030152009523; địa chỉ:
Thôn T, xã B, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2
+ Đỗ Thị M, sinh ngày 05/8/1956, số CCCD: 030156005432; địa chỉ:
Khu dân cư N, phường T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
+ Đỗ Thị L, sinh ngày 01/01/1963, số CCCD: 030163010215; địa chỉ:
Thôn T, xã N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Đỗ Thị N1, sinh ngày 24/9/1972, số CCCD: 030172019159; địa chỉ:
Khu T, phường N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị L.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn B, sinh ngày 15/8/1975, số CCCD: 030075001301;
địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Đỗ Thị H, sinh ngày 20/3/1973, số CCCD: 030173017591; địa chỉ: s
nhà Q phố V, khu đô thị H, xã T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Đỗ Thị B1, sinh ngày 07/12/1981, số CCCD: 030181000753; đa chỉ:
Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Nguyễn Thị P, sinh ngày 06/02/1976, số CCCD: 030176018726; địa
chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Người kế thừa quyền nghĩa vụ của nguyên đơn đồng
thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị MĐỗ Thị L.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Nguyễn Thị N, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của
nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Đỗ Thị S,
Đỗ Thị L, Đỗ Thị M, Đỗ Thị Đ1 và chị Đỗ Thị N1 trình bày:
Cụ Nguyễn Thị N cụ Đỗ Văn S1 chung sống với nhau từ năm 1944. C
Sáng bố đẻ cụ Đỗ Văn H1 chết năm 1975 mẹ đẻ cụ Trần Thị V chết
năm 1974. Cụ N bố đẻ cụ Nguyễn Công L1, chết năm 1983 và mẹ cụ
Phạm Thị D, chết năm 1991. Cụ N cụ S1 sinh được 05 người con gồm: Bà Đ
Thị S, ông Đỗ Văn N2 liệt sỹ hy sinh ngày 15/10/1973 (ông N2 vợ
Phạm Thị H2 chỉ một con chị Đỗ Thị N1), Đỗ Thị Đ1, Đỗ Thị M
Đỗ Thị L. Cụ N cùng cụ S1 không còn người con đẻ, con nuôi nào khác.
Ngoài ra từ năm 1975 cụ Đỗ Văn S1 còn chung sống với cụ Trần Thị X (đã chết
năm 2011) và sinh được 03 con chung gồm: Chị Đỗ Thị H; chị Đỗ Văn B và chị
Đỗ Thị Bích .
Trong thời kỳ hôn nhân, cụ Nguyễn Thị N người đứng tên trên
GCNQSDĐ đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 diện tích 335m
2
tại thôn Đ,
Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay thôn Đ, N, thành phố Hải Phòng). Để
phù hợp với phong tục, tập quán tại địa phương do người đàn ông là chủ hộ, ngày
22/4/2008 cụ N đã lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất và tài sản trên
đất cho cụ S1, Hợp đồng chứng thực của UBND xã Đ và đến ngày 10/10/2008
3
UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ cho cụ Đỗ Văn S1 toàn bộ thửa đất này. Do
cụ S1 chết không để lại di chúc những người thừa kế của cụ S1 không thỏa
thuận phân chia di sản được, cụ N khởi kiện xác định quyền sử dụng thửa đất số
179 là tài sản chung của cụ N và cụ S1; yêu cầu Tòa án phân chia cho cụ N được
hưởng ½ diện tích đất và ½ công trình trên đất phần tài sản của cụ N trong khối
tài sản chung với cS1 bằng hiện vật, đồng thời chia thừa kế đối với phần tài sản
là di sản do cụ S1 để lại là ½ diện tích đất và ½ công trình trên đất theo quy định
của pháp luật.
Ngày 09/6/2025 cụ N chết không để lại di chúc, những người kế thừa quyền
nghĩa vụ của cụ N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của cụ N đề nghị Tòa án
phân chia di sản của cụ N theo quy định của pháp luật. Bà S, bà Đ1 và chị N1 tự
nguyện tặng cho bà L phần di sản được hưởng. Bà M đề nghị được hưởng di sản
của cụ N cụ S1 bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì ai người
được giao sử dụng phần đất và sở hữu tài sản trên đất phải chịu trách nhiệm thanh
toán phần di sản M được hưởng bằng tiền theo đúng quy định của pháp
luật.
2. Bị đơn Đỗ Văn B, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Đỗ Thị H,
Đỗ Thị B1 trình bày về diện, hàng thừa kế của cụ S1, cụ N cụ X như phía
nguyên đơn trình bày xác định: Trước khi chết, cụ S1 đã tuyên bố cho ông B
con trai được sử dụng ½ đất là tài sản của cụ S1 hiện tại ông B đã xây tường
ngăn vẫn đang quản lý, sử dụng. Thời điểm đó, toàn thể các thành viên trong
gia đình cũng đã văn bản, lập hồ gửi đến UBND Đ để làm thủ tục. Sau
khi gia đình nộp hồ thì ông B đi xuất khẩu lao động tại Liên bang N, khi về
nước thì hồ sơ vẫn chưa được thực hiện do bên các con của cN rút hồ về (ông
B, B1, H không tài liệu nào thể hiện sự việc đã trình bày). Cụ S1 cụ
X có quan hệ với nhau từ trước, năm 1975 sau khi sinh ông B thì cụ S1, cụ X
cụ N cùng nhau sinh sống trên thửa đất hiện đang tranh chấp. Cụ S1 ăn chung với
mẹ con cụ X, còn cụ N ăn riêng và nuôi bà L và chị N1con ông Ngọc liệt S2.
Đến khi L chị N1 đi lấy chồng chị, em của ông B cũng đi lấy chồng
nơi khác, chỉ còn ông B con trai ở cùng với bố mẹ cụ N cho đến khi bố mẹ
chết. Ông B, bà H, bà B1 xác định khi cụ S1 chết, giữa tất cả các chị em con c N
con cụ X cũng đã thống nhất cho ông B được hưởng ½ diện tích đất cũng
như công trình, cây cối trên đất nên ông B đã xây tường ranh giới giữa hai thửa
đất cũng như công trình nhà kho. Ông B, bà H, bà B1 đề nghị Tòa án xem xét để
tất cả các anh chị em tôn trọng sự thỏa thuận này theo đúng hiện trạng ông B đã
xác định. Bà H, bà B1 tự nguyện tặng cho ông B toàn bộ phần di sản được hưởng
trong vụ án.
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P (vông B) trình
bày: Trước khi chết, cụ S1 đã có quan điểm cho ông B được sử dụng ½ diện tích
đất và ½ công trình nhà mái bằng trên đất là tài sản của cụ S1 nên vợ chồng bà P
đã xây tường ngăn cách vẫn đang quản lý, sử dụng. Trên phần diện tích đất
này, vợ chồng bà P đã xây dựng 01 nhà kho tường lửng, vách tôn và lợp mái tôn
và trồng một số cây cối. Bà P xác định toàn bộ tài sản trên phần đất này là tài sản
chung của vợ chồng bà. P đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
4
luật, đảm bảo quyền lợi của bà đối với các tài sản là công trình, cây cối trên phần
đất đó.
4. Tại Bản án dân sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 24/9/2025, Tòa án
nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng quyết định:
Xác định toàn bộ diện tích 338,2m
2
trong đó 300m
2
đất trị giá
1.458.000.000 đồng; 38,2m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá 3.056.000 đồng tại thửa
đất số 179, tờ bản đồ số 04 thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng và tài sản trên đất
gồm 01 ngôi nhà mái bằng trị giá 0 đồng, 01 cây bưởi trị giá 510.000 đồng di
sản do cụ S1 để lại.
Chấp nhận một phần yêu cầu ca nguyên đơn cụ N và những người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ N về phân chia di sản thừa kế đối với di sản do
cụ S1 để lại và yêu cầu của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ N về
phân chia di sản thừa kế đối với di sản do cụ N để lại.
Xác nhận di sản của cụ Nguyễn Th N để lại do được thừa kế từ cụ S1 gồm
đất 52,17m
2
trị giá 253.565.217đồng, 6,64m
2
đất trồng y lâu năm trị giá
531.478 đồng, giá trị cây bưởi 88.695 đồng; tổng trị giá làm tròn là 254.185.391
đồng các tài sản di sản của cụ N để lại gồm 01 nhà bếp trước cửa nhà mái
bằng lợp tôn diện tích 3,1m
2
trị giá 4.581.000 đồng; 16,9m
2
mái tôn trị giá 539.000
đồng; 70m
2
sân trạt tông trị giá 5.747.000 đồng; 3,7m
2
nhà tắm + vệ sinh trị
giá 797.000 đồng; 4,16m tường xây gạch ba banh phía trên rào lưới B40 xây trên
đất lấn chiếm trị giá 0 đồng; 01 cánh cổng sắt và 02 trcổng trị giá 0 đồng; 0,65m
tường rào giáp trụ cổng trị giá 0 đồng; tổng trị giá 11.664.000 đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị H, bà Đỗ Thị B1 cho ông Đỗ Văn
B được hưởng phần di sản được hưởng từ cụ S1 phần công sức được hưởng từ
cụ X.
Xác nhận ông Đỗ Văn B được hưởng di sản thừa kế của cụ S1 để lại được
chia bằng hiện vật được H, bà B1 cho hưởng tổng 117,39m
2
đất trị giá
570.521.739 đồng 14,94m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá 1.195.826đồng tại thửa
đất số thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 tại thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng
giá trị cây bưởi 199.565. Tổng trị giá: 571.917.000đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của Đỗ Thị S, Đỗ Thị Đ1, chị Đỗ Thị N1
cho bà Đỗ Thị L được hưởng di sản là hiện vật được hưởng từ cụ S1 và cụ N.
Xác nhận Đỗ Thị L được hưởng di sản thừa kế của cụ S1 để lại được
chia bằng hiện vật được S, Đ1 N1 cho hưởng tổng 75,06m
2
đất
trị giá 364.838.726 đồng và 9,55m
2
đất trồng cây lâu năm trị g764.709 đồng tại
thửa đất số thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 tại thôn Đ, N, thành phố Hải Phòng
và giá trị cây bưởi 177.391đồng. Tổng trị giá: 365.780.826 đồng.
Xác nhận Đỗ Thị L được hưởng di sản thừa kế của cụ N để lại cùng di
sản cụ N được hưởng tcụ S1 được S, Đ1 N1 cho hưởng tổng
41,73m
2
đất trị giá 202.852.173 đồng 5,31m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá
425.182 đồng tại thửa đất số thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 tại thôn Đ, N,
5
thành phố Hải Phòng giá trị cây bưởi 177.391 đồng giá trị di sản công
trình trị giá 9.331.200 đồng. Tổng trị giá: 212.608.555 đồng.
Xác nhận Đỗ Thị M được hưởng di sản thừa kế của cụ S1 đlại
26,08m
2
đất trị giá 126.782.608 đồng, 3,32m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá
265.739đồng, giá trị cây bưởi 44.347đồng, tổng trị giá 127.092.600 đồng
được hưởng di sản thừa kế của cụ N để lại cùng di sản cN được hưởng từ cụ S1
10,43m
2
đất trị giá 50.713.043 đồng; 1,32 m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá
106.295 đồng, giá trị cây bưởi 17.739 đồng, giá trị di sản công trình là 2.332.800
đồng; tổng trị giá 53.169.800 đồng.
Giao cho ông Đỗ Văn B được quyền sử dụng 190,1m
2
đất trong đó đất
168,62m
2
và đất trồng cây lâu năm 21,47m
2
tài sản là di sản của c S1 trên đất
phần nhà mái bằng 25m
2
trị giá 0 đồng được giới hạn bởi các điểm B8-A19-
B12-B1-B2-B3 đến B8. Giao cho ông B được sở hữu tường bao ngăn cách giữa
hai phần đất tính đến phần tiếp giáp với nhà mái bằng.
Giao cho ông Đỗ Văn BNguyễn Thị P sở hữu các tài sản ông B,
P tạo lập trên phần đất là di sản thừa kế ông B được giao gồm: 01 nhà kho tường
lửng quây tôn, lợp tôn diện tích 90,4m
2
; 18,9m
2
sân gạch giáp phần nhà mái bằng
là di sản; 68m
2
sân trạt phía trước nhà kho; 10 cây cau và 01 cây mít.
Tạm giao cho ông Đỗ Văn B Nguyễn Thị P sử dụng 01 cây cau, 5,41m
tường bao ngăn cách giữa hai phần đất giới hạn bởi các điểm B8-A18-A1; 02m
tường bao giới hạn bởi các điểm A1-A20; 01 trụ cổng; 2,11m tường bao giới hạn
bởi cái điểm B13-A8 đến A9; 4,41m tường nhà giới hạn bởi các điểm A9-A10
nằm trên phần đất do Nhà nước quản lý. Trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì ông B và bà P phải thực
hiện phối hợp giải quyết theo quy định của pháp luật để trả lại nguyên trạng.
Giao cho Đỗ Thị L được quyền sdụng 148,1m
2
đất trong đó đất
131,37m
2
và đất trồng cây lâu năm 16,72m
2
tài sản là di sản của c S1 trên đất
34m
2
phần nhà mái bằng trị giá 0 đồng, 01 cây bưởi, được giới hạn bởi các
điểm B8-A19-B12-B11-A13-A14-A15-A16-B9-B6-B7 đến B8. Giao cho L
được shữu, sử dụng di sản các công trình trên đất di sản do cụ N để lại gồm:
5,7m
2
mái tôn trước cửa nhà mái bằng; 11,3m
2
mái tôn giáp hộ ông T; 3,1m
2
bếp;
70m
2
sân trạt; 3,7m
2
nhà tắm+vệ sinh, 02 trụ cổng+cánh cổng.
Tạm giao cho bà Đỗ Thị L sử dụng 4,16m tường bao phía trên có rào lưới
B40 được giới hạn bởi các điểm A1-A17 xây dựng trên phần đất do Nhà nước
quản và 5,6m
2
mái tôn dựng nhờ trên phần đất lưu không của hộ ông T. Trường
hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, hộ gia đình ông T có yêu cầu thì L phải thực hiện phối hợp giải quyết theo
quy định của pháp luật để trả lại nguyên trạng.
Buộc ông Đỗ Văn B phải trả cho bà Đỗ Thị S, bà Đỗ ThĐ1, Đỗ Thị M,
Đỗ Thị L và chị Đỗ Thị N1 mỗi người là 49.906.400 đồng.
Buộc bà Đỗ Thị L phải trả cho bà Đỗ Thị M 130.356.000 đồng.
6
Buộc Đỗ Thị L phải trả cho ông Đỗ Văn B giá trị cây bưởi (bao gồm của
ông B và ông B đượcH, bà B1 cho) số tiền 199.500 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, chi phí tố
tụng và quyền kháng cáo.
5. Ngày 03/10/2025, Đỗ Thị L kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xác
định lại di sản của cụ S1 là ½ tài sản chung của cụ S1 và cụ N và phân chia theo
quy định của pháp luật. Ngày 17/10/2025, bà Đỗ Thị M kháng cáo yêu cầu được
hưởng thừa kế bằng hiện vật.
Tại phiên tòa:
Bà L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trìnhy các nội dung như đã trình
bày tại cấp thẩm. Đ1 trình bày ý kiến ntại cấp sơ thẩm, tự nguyện cho
bà L phần di sản được hưởng trong vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của S trình bày ý kiến như ý
kiến của bà S, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của L về việc xác
định lại di sản.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng
xét xkhông chấp nhận kháng cáo của bà M bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm,
miễn án phí phúc thẩm cho đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của M L trong thời hạn luật định nên
được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai của các đương sự thống nhất về diện, hàng thừa kế nên
căn cứ xác định: Cụ Đỗ Văn S1 kết hôn với cụ Nguyễn Thị N sinh được 05 con
gồm: Bà Đỗ Thị S, ông Đỗ Văn N2 - là liệt sỹ hy sinh ngày 15/10/1973 (ông N2
có vợ là bà Phạm Thị H2 và có một con là chị Đỗ Thị N1), bà Đỗ Thị Đ1, Đỗ
Thị M và bà Đỗ Thị L. Ngoài ra từ năm 1975, cụ Đỗ Văn S1 còn chung sống với
cụ Trần Thị X (chết năm 2011) sinh được 03 con chung gồm: Chị Đỗ Thị H;
chị Đỗ Văn B và chị Đỗ Thị Bích . Cụ Sáng chết ngày 01/9/2010, cụ N chết ngày
09/6/2025 đều không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của cS1 gồm: Cụ N,
S, Đ1, M, L, ông B, H, B1 chị N1 (thừa kế thế vị của ông
N2). Hàng thừa kế thứ nhất của cụ N gồm: S, Đ1, M, L chị N1
(thừa kế thế vị của ông N2). Quan hệ hôn nhân giữa cụ S1 cụ X không hợp
pháp nên cụ X không thuộc diện thừa kế di sản của cụ S1.
[2.2] Về di sản: Thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 diện tích 335m
2
tại thôn
Đ, N, thành phố Hải Phòng nguồn gốc do Nhà nước giao cho cụ S1 và cụ N
khoảng năm 1950. Theo hồ sơ 299 hồ cấp GCNQSDĐ lần đầu năm 1995
thửa đất mang tên cụ N. Ngày 08/11/1999, UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ
mang tên cụ N. Cụ N cụ S1 sử dụng đất này từ khi được giao, đến năm 1975
cụ X cùng về sống chung với cụ S1 trên đất này. Diện tích thực tế của thửa đất là
7
338,2m
2
trong đó 300m
2
đất trị giá 1.458.000.000 đồng; 38,2m
2
đất trồng cây
lâu năm trị giá 3.056.000 đồng tài sản trên đất gồm 01 ngôi nmái bằng trị
giá 0 đồng, 01 cây bưởi trị giá 510.000 đồng. Do cụ S1 cụ N quan hệ hôn
nhân hợp pháp xác lập tnăm 1944 nên tài sản trên đăng ký tên cụ N nhưng
là tài sản chung của cụ N và cụ S1. Cụ X sống chung với cụ S1 từ năm 1975 trên
đất nhưng do quan hệ hôn nhân giữa cụ X cụ S1 không hợp pháp nên cụ X
không có quyền sử dụng thửa đất trên.
Ngày 22/4/2008, cụ N lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất cho cụ S1. Hợp đồng chữ ký, điểm chỉ của hai
cụ chứng thực của UBND Đ, huyện T. Cụ N xác định việc chuyển quyền
sử dụng đất giữa cụ N và cụ Sáng lập trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa
dối nhưng mục đích chỉ để cho cụ S1 đứng tên trên GCNQSDĐ theo phong tục ở
địa phương. Tại thời điểm hai cụ lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, quy
định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng đã được Luật Hôn nhân gia đình năm
2000 quy định. Trên cơ sở hợp đồng nêu trên, ngày 10/10/2008 UBND huyện T
cấp GCNQSDĐ mang tên cụ S1. Cấp thẩm xác định bằng hợp đồng ngày
22/4/2008, cụ N đã tặng cho cụ S1 toàn bộ tài sản của mình là phù hợp quy định
của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi cụ S1 chết, toàn bộ quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất là di sản của cụ S1. Kháng cáo của bà L và ý kiến của những
người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ N vnội dung này không có căn cứ chấp
nhận.
[2.3] Về phân chia di sản: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng di sản của
cụ S1, đã trích trả công sức bảo vệ, quản lý di sản cho cụ N, cụ X, ông B và chia
di sản của cụ S1 theo quy định của pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của cụ S1 phù hợp quy định tại các Điều 609, 612, 613, 649, 650, 651,
652, 660 Bộ luật Dân sự. Do bà L được bà S, Đ1 chị N1 tự nguyện tặng cho
phần di sản được hưởng; ông B được H, Bích T1 cho phần di sản được
hưởng cộng với phần công sức của ông B và cụ X; thực tế ông B đã quản lý một
nửa diện tích đất của cụ S1 từ năm 2010; các đương sự trong vụ án đều đã có nơi
ổn định, không nhu cầu về chỗ ở; M chỉ được hưởng một xuất thừa kế của
cụ S1 và cụ N, diện tích đất bà M được hưởng không đủ điều kiện tách thửa theo
Quyết định số 158/2025/QĐ-UBND ngày 12/9/2025 của UBND thành phố H. Do
vậy, cấp sơ thẩm giao cho ông B và bà L mỗi người một phần quyền sử dụng đất
buộc các đương sự trả giá trị di sản M được hưởng phù hợp, đảm bảo việc
sử dụng đất n định hiệu quả. Kháng cáo đề nghị được hưởng thừa kế bằng
hiện vật của bà M không có căn cứ chấp nhận.
Với các nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng
cáo của bà L và bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: LM kháng cáo không được chấp nhận
nhưng là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
8
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Đỗ Thị L Đỗ Thị M.
Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số 13/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng.
2. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Đỗ Thị MĐỗ Thị L.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhn:
- VKSND TP.Hi Phòng;
- Các đương sự;
- TAND khu vc 13-Hi Phòng;
- THADS TP. Hi Phòng;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TO PHIÊN T
Trn Hu Hiu
Tải về
Bản án số 60/2026/DS-PT Bản án số 60/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 60/2026/DS-PT Bản án số 60/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất