Bản án số 60/2026/DS-PT ngày 11/02/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 60/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 60/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 60/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 60/2026/DS-PT ngày 11/02/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hải Phòng |
| Số hiệu: | 60/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Cụ Nguyễn Thị Nh khởi kiện tranh chấp thừa kế đối với ông Đỗ Văn B |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 60/2026/DS-PT
Ngày: 11-02- 2026
V/v: Tranh chấp chia tài sản chung
và chia thừa kế
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Lâm, ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mùi Nái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 11 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
322/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp chia tài sản chung
và chia thừa kế; do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng bị kháng cáo; theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 282/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm
2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2026/QĐ-PT ngày 19 tháng 01 năm 2026,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/01/1923, số CCCD:
030123000093; đã chết ngày 09/6/2025; địa chỉ cư trú trước khi chết: Thôn Đ, xã
N, thành phố Hải Phòng.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn đồng thời là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Đỗ Thị S, sinh ngày 22/12/1945, số CCCD: 030145007328; địa chỉ:
Thôn N, xã Y, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan bà Đỗ Thị S: Ông Phạm Văn Đ - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm
trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
+ Bà Đỗ Thị Đ1, sinh ngày 26/6/1952, số CCCD: 030152009523; địa chỉ:
Thôn T, xã B, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2
+ Bà Đỗ Thị M, sinh ngày 05/8/1956, số CCCD: 030156005432; địa chỉ:
Khu dân cư N, phường T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
+ Bà Đỗ Thị L, sinh ngày 01/01/1963, số CCCD: 030163010215; địa chỉ:
Thôn T, xã N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Bà Đỗ Thị N1, sinh ngày 24/9/1972, số CCCD: 030172019159; địa chỉ:
Khu T, phường N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ
của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị L.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn B, sinh ngày 15/8/1975, số CCCD: 030075001301;
địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Đỗ Thị H, sinh ngày 20/3/1973, số CCCD: 030173017591; địa chỉ: số
nhà Q phố V, khu đô thị H, xã T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Bà Đỗ Thị B1, sinh ngày 07/12/1981, số CCCD: 030181000753; địa chỉ:
Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị P, sinh ngày 06/02/1976, số CCCD: 030176018726; địa
chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn đồng
thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị M và Đỗ Thị L.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Nguyễn Thị N, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của
nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Đỗ Thị S,
Đỗ Thị L, Đỗ Thị M, Đỗ Thị Đ1 và chị Đỗ Thị N1 trình bày:
Cụ Nguyễn Thị N và cụ Đỗ Văn S1 chung sống với nhau từ năm 1944. Cụ
Sáng có bố đẻ là cụ Đỗ Văn H1 chết năm 1975 và mẹ đẻ là cụ Trần Thị V chết
năm 1974. Cụ N có bố đẻ là cụ Nguyễn Công L1, chết năm 1983 và mẹ là cụ
Phạm Thị D, chết năm 1991. Cụ N và cụ S1 sinh được 05 người con gồm: Bà Đỗ
Thị S, ông Đỗ Văn N2 là liệt sỹ hy sinh ngày 15/10/1973 (ông N2 có vợ là bà
Phạm Thị H2 và chỉ có một con là chị Đỗ Thị N1), bà Đỗ Thị Đ1, bà Đỗ Thị M
và bà Đỗ Thị L. Cụ N cùng cụ S1 không còn người con đẻ, con nuôi nào khác.
Ngoài ra từ năm 1975 cụ Đỗ Văn S1 còn chung sống với cụ Trần Thị X (đã chết
năm 2011) và sinh được 03 con chung gồm: Chị Đỗ Thị H; chị Đỗ Văn B và chị
Đỗ Thị Bích .
Trong thời kỳ hôn nhân, cụ Nguyễn Thị N là người đứng tên trên
GCNQSDĐ đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 diện tích 335m
2
tại thôn Đ,
xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng). Để
phù hợp với phong tục, tập quán tại địa phương do người đàn ông là chủ hộ, ngày
22/4/2008 cụ N đã lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất và tài sản trên
đất cho cụ S1, Hợp đồng có chứng thực của UBND xã Đ và đến ngày 10/10/2008
3
UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ cho cụ Đỗ Văn S1 toàn bộ thửa đất này. Do
cụ S1 chết không để lại di chúc và những người thừa kế của cụ S1 không thỏa
thuận phân chia di sản được, cụ N khởi kiện xác định quyền sử dụng thửa đất số
179 là tài sản chung của cụ N và cụ S1; yêu cầu Tòa án phân chia cho cụ N được
hưởng ½ diện tích đất và ½ công trình trên đất là phần tài sản của cụ N trong khối
tài sản chung với cụ S1 bằng hiện vật, đồng thời chia thừa kế đối với phần tài sản
là di sản do cụ S1 để lại là ½ diện tích đất và ½ công trình trên đất theo quy định
của pháp luật.
Ngày 09/6/2025 cụ N chết không để lại di chúc, những người kế thừa quyền
và nghĩa vụ của cụ N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của cụ N và đề nghị Tòa án
phân chia di sản của cụ N theo quy định của pháp luật. Bà S, bà Đ1 và chị N1 tự
nguyện tặng cho bà L phần di sản được hưởng. Bà M đề nghị được hưởng di sản
của cụ N và cụ S1 bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì ai là người
được giao sử dụng phần đất và sở hữu tài sản trên đất phải chịu trách nhiệm thanh
toán phần di sản mà bà M được hưởng bằng tiền theo đúng quy định của pháp
luật.
2. Bị đơn Đỗ Văn B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Đỗ Thị H,
Đỗ Thị B1 trình bày về diện, hàng thừa kế của cụ S1, cụ N và cụ X như phía
nguyên đơn trình bày và xác định: Trước khi chết, cụ S1 đã tuyên bố cho ông B
là con trai được sử dụng ½ đất là tài sản của cụ S1 mà hiện tại ông B đã xây tường
ngăn và vẫn đang quản lý, sử dụng. Thời điểm đó, toàn thể các thành viên trong
gia đình cũng đã có văn bản, lập hồ sơ gửi đến UBND xã Đ để làm thủ tục. Sau
khi gia đình nộp hồ sơ thì ông B đi xuất khẩu lao động tại Liên bang N, khi về
nước thì hồ sơ vẫn chưa được thực hiện do bên các con của cụ N rút hồ sơ về (ông
B, bà B1, bà H không có tài liệu nào thể hiện sự việc đã trình bày). Cụ S1 và cụ
X có quan hệ với nhau từ trước, năm 1975 sau khi sinh ông B thì cụ S1, cụ X và
cụ N cùng nhau sinh sống trên thửa đất hiện đang tranh chấp. Cụ S1 ăn chung với
mẹ con cụ X, còn cụ N ăn riêng và nuôi bà L và chị N1 là con ông Ngọc liệt S2.
Đến khi bà L và chị N1 đi lấy chồng và chị, em của ông B cũng đi lấy chồng ở
nơi khác, chỉ còn ông B là con trai ở cùng với bố mẹ và cụ N cho đến khi bố mẹ
chết. Ông B, bà H, bà B1 xác định khi cụ S1 chết, giữa tất cả các chị em con cụ N
và con cụ X cũng đã thống nhất là cho ông B được hưởng ½ diện tích đất cũng
như công trình, cây cối trên đất nên ông B đã xây tường ranh giới giữa hai thửa
đất cũng như công trình nhà kho. Ông B, bà H, bà B1 đề nghị Tòa án xem xét để
tất cả các anh chị em tôn trọng sự thỏa thuận này theo đúng hiện trạng ông B đã
xác định. Bà H, bà B1 tự nguyện tặng cho ông B toàn bộ phần di sản được hưởng
trong vụ án.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P (vợ ông B) trình
bày: Trước khi chết, cụ S1 đã có quan điểm cho ông B được sử dụng ½ diện tích
đất và ½ công trình nhà mái bằng trên đất là tài sản của cụ S1 nên vợ chồng bà P
đã xây tường ngăn cách và vẫn đang quản lý, sử dụng. Trên phần diện tích đất
này, vợ chồng bà P đã xây dựng 01 nhà kho tường lửng, vách tôn và lợp mái tôn
và trồng một số cây cối. Bà P xác định toàn bộ tài sản trên phần đất này là tài sản
chung của vợ chồng bà. Bà P đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
4
luật, đảm bảo quyền lợi của bà đối với các tài sản là công trình, cây cối trên phần
đất đó.
4. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 24/9/2025, Tòa án
nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng quyết định:
Xác định toàn bộ diện tích 338,2m
2
trong đó 300m
2
đất ở trị giá
1.458.000.000 đồng; 38,2m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá 3.056.000 đồng tại thửa
đất số 179, tờ bản đồ số 04 thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng và tài sản trên đất
gồm 01 ngôi nhà mái bằng trị giá 0 đồng, 01 cây bưởi trị giá 510.000 đồng là di
sản do cụ S1 để lại.
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn cụ N và những người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ N về phân chia di sản thừa kế đối với di sản do
cụ S1 để lại và yêu cầu của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ N về
phân chia di sản thừa kế đối với di sản do cụ N để lại.
Xác nhận di sản của cụ Nguyễn Thị N để lại do được thừa kế từ cụ S1 gồm
đất ở 52,17m
2
trị giá 253.565.217đồng, 6,64m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá
531.478 đồng, giá trị cây bưởi là 88.695 đồng; tổng trị giá làm tròn là 254.185.391
đồng và các tài sản là di sản của cụ N để lại gồm 01 nhà bếp trước cửa nhà mái
bằng lợp tôn diện tích 3,1m
2
trị giá 4.581.000 đồng; 16,9m
2
mái tôn trị giá 539.000
đồng; 70m
2
sân trạt bê tông trị giá 5.747.000 đồng; 3,7m
2
nhà tắm + vệ sinh trị
giá 797.000 đồng; 4,16m tường xây gạch ba banh phía trên rào lưới B40 xây trên
đất lấn chiếm trị giá 0 đồng; 01 cánh cổng sắt và 02 trụ cổng trị giá 0 đồng; 0,65m
tường rào giáp trụ cổng trị giá 0 đồng; tổng trị giá 11.664.000 đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị H, bà Đỗ Thị B1 cho ông Đỗ Văn
B được hưởng phần di sản được hưởng từ cụ S1 và phần công sức được hưởng từ
cụ X.
Xác nhận ông Đỗ Văn B được hưởng di sản thừa kế của cụ S1 để lại được
chia bằng hiện vật và được bà H, bà B1 cho hưởng tổng 117,39m
2
đất ở trị giá
570.521.739 đồng và 14,94m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá 1.195.826đồng tại thửa
đất số thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 tại thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng và
giá trị cây bưởi 199.565. Tổng trị giá: 571.917.000đồng.
Chấp nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị S, bà Đỗ Thị Đ1, chị Đỗ Thị N1
cho bà Đỗ Thị L được hưởng di sản là hiện vật được hưởng từ cụ S1 và cụ N.
Xác nhận bà Đỗ Thị L được hưởng di sản thừa kế của cụ S1 để lại được
chia bằng hiện vật và được bà S, bà Đ1 và bà N1 cho hưởng tổng 75,06m
2
đất ở
trị giá 364.838.726 đồng và 9,55m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá 764.709 đồng tại
thửa đất số thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 tại thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng
và giá trị cây bưởi 177.391đồng. Tổng trị giá: 365.780.826 đồng.
Xác nhận bà Đỗ Thị L được hưởng di sản thừa kế của cụ N để lại cùng di
sản cụ N được hưởng từ cụ S1 và được bà S, bà Đ1 và bà N1 cho hưởng tổng
41,73m
2
đất ở trị giá 202.852.173 đồng và 5,31m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá
425.182 đồng tại thửa đất số thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 tại thôn Đ, xã N,
5
thành phố Hải Phòng và giá trị cây bưởi 177.391 đồng và giá trị di sản là công
trình trị giá 9.331.200 đồng. Tổng trị giá: 212.608.555 đồng.
Xác nhận bà Đỗ Thị M được hưởng di sản thừa kế của cụ S1 để lại là
26,08m
2
đất ở trị giá 126.782.608 đồng, 3,32m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá
265.739đồng, giá trị cây bưởi là 44.347đồng, tổng trị giá 127.092.600 đồng và
được hưởng di sản thừa kế của cụ N để lại cùng di sản cụ N được hưởng từ cụ S1
là 10,43m
2
đất ở trị giá 50.713.043 đồng; 1,32 m
2
đất trồng cây lâu năm trị giá
106.295 đồng, giá trị cây bưởi 17.739 đồng, giá trị di sản công trình là 2.332.800
đồng; tổng trị giá 53.169.800 đồng.
Giao cho ông Đỗ Văn B được quyền sử dụng 190,1m
2
đất trong đó đất ở là
168,62m
2
và đất trồng cây lâu năm 21,47m
2
và tài sản là di sản của cụ S1 trên đất
là phần nhà mái bằng 25m
2
trị giá 0 đồng được giới hạn bởi các điểm B8-A19-
B12-B1-B2-B3 đến B8. Giao cho ông B được sở hữu tường bao ngăn cách giữa
hai phần đất tính đến phần tiếp giáp với nhà mái bằng.
Giao cho ông Đỗ Văn B và bà Nguyễn Thị P sở hữu các tài sản ông B, bà
P tạo lập trên phần đất là di sản thừa kế ông B được giao gồm: 01 nhà kho tường
lửng quây tôn, lợp tôn diện tích 90,4m
2
; 18,9m
2
sân gạch giáp phần nhà mái bằng
là di sản; 68m
2
sân trạt phía trước nhà kho; 10 cây cau và 01 cây mít.
Tạm giao cho ông Đỗ Văn B và bà Nguyễn Thị P sử dụng 01 cây cau, 5,41m
tường bao ngăn cách giữa hai phần đất giới hạn bởi các điểm B8-A18-A1; 02m
tường bao giới hạn bởi các điểm A1-A20; 01 trụ cổng; 2,11m tường bao giới hạn
bởi cái điểm B13-A8 đến A9; 4,41m tường nhà giới hạn bởi các điểm A9-A10
nằm trên phần đất do Nhà nước quản lý. Trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì ông B và bà P phải thực
hiện phối hợp giải quyết theo quy định của pháp luật để trả lại nguyên trạng.
Giao cho bà Đỗ Thị L được quyền sử dụng 148,1m
2
đất trong đó đất ở là
131,37m
2
và đất trồng cây lâu năm 16,72m
2
và tài sản là di sản của cụ S1 trên đất
là 34m
2
phần nhà mái bằng trị giá 0 đồng, 01 cây bưởi, được giới hạn bởi các
điểm B8-A19-B12-B11-A13-A14-A15-A16-B9-B6-B7 đến B8. Giao cho bà L
được sở hữu, sử dụng di sản là các công trình trên đất là di sản do cụ N để lại gồm:
5,7m
2
mái tôn trước cửa nhà mái bằng; 11,3m
2
mái tôn giáp hộ ông T; 3,1m
2
bếp;
70m
2
sân trạt; 3,7m
2
nhà tắm+vệ sinh, 02 trụ cổng+cánh cổng.
Tạm giao cho bà Đỗ Thị L sử dụng 4,16m tường bao phía trên có rào lưới
B40 được giới hạn bởi các điểm A1-A17 xây dựng trên phần đất do Nhà nước
quản lý và 5,6m
2
mái tôn dựng nhờ trên phần đất lưu không của hộ ông T. Trường
hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, hộ gia đình ông T có yêu cầu thì bà L phải thực hiện phối hợp giải quyết theo
quy định của pháp luật để trả lại nguyên trạng.
Buộc ông Đỗ Văn B phải trả cho bà Đỗ Thị S, bà Đỗ Thị Đ1, bà Đỗ Thị M,
bà Đỗ Thị L và chị Đỗ Thị N1 mỗi người là 49.906.400 đồng.
Buộc bà Đỗ Thị L phải trả cho bà Đỗ Thị M 130.356.000 đồng.
6
Buộc bà Đỗ Thị L phải trả cho ông Đỗ Văn B giá trị cây bưởi (bao gồm của
ông B và ông B được bà H, bà B1 cho) số tiền 199.500 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, chi phí tố
tụng và quyền kháng cáo.
5. Ngày 03/10/2025, bà Đỗ Thị L kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xác
định lại di sản của cụ S1 là ½ tài sản chung của cụ S1 và cụ N và phân chia theo
quy định của pháp luật. Ngày 17/10/2025, bà Đỗ Thị M kháng cáo yêu cầu được
hưởng thừa kế bằng hiện vật.
Tại phiên tòa:
Bà L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày các nội dung như đã trình
bày tại cấp sơ thẩm. Bà Đ1 trình bày ý kiến như tại cấp sơ thẩm, tự nguyện cho
bà L phần di sản được hưởng trong vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà S trình bày ý kiến như ý
kiến của bà S, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà L về việc xác
định lại di sản.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà M và bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm,
miễn án phí phúc thẩm cho đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bà M và bà L trong thời hạn luật định nên
được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Lời khai của các đương sự thống nhất về diện, hàng thừa kế nên có
căn cứ xác định: Cụ Đỗ Văn S1 kết hôn với cụ Nguyễn Thị N sinh được 05 con
gồm: Bà Đỗ Thị S, ông Đỗ Văn N2 - là liệt sỹ hy sinh ngày 15/10/1973 (ông N2
có vợ là bà Phạm Thị H2 và có một con là chị Đỗ Thị N1), bà Đỗ Thị Đ1, bà Đỗ
Thị M và bà Đỗ Thị L. Ngoài ra từ năm 1975, cụ Đỗ Văn S1 còn chung sống với
cụ Trần Thị X (chết năm 2011) và sinh được 03 con chung gồm: Chị Đỗ Thị H;
chị Đỗ Văn B và chị Đỗ Thị Bích . Cụ Sáng chết ngày 01/9/2010, cụ N chết ngày
09/6/2025 đều không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ S1 gồm: Cụ N,
bà S, bà Đ1, bà M, bà L, ông B, bà H, bà B1 và chị N1 (thừa kế thế vị của ông
N2). Hàng thừa kế thứ nhất của cụ N gồm: Bà S, bà Đ1, bà M, bà L và chị N1
(thừa kế thế vị của ông N2). Quan hệ hôn nhân giữa cụ S1 và cụ X không hợp
pháp nên cụ X không thuộc diện thừa kế di sản của cụ S1.
[2.2] Về di sản: Thửa đất số 179, tờ bản đồ số 04 diện tích 335m
2
tại thôn
Đ, xã N, thành phố Hải Phòng có nguồn gốc do Nhà nước giao cho cụ S1 và cụ N
khoảng năm 1950. Theo hồ sơ 299 và hồ sơ cấp GCNQSDĐ lần đầu năm 1995
thửa đất mang tên cụ N. Ngày 08/11/1999, UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ
mang tên cụ N. Cụ N và cụ S1 sử dụng đất này từ khi được giao, đến năm 1975
cụ X cùng về sống chung với cụ S1 trên đất này. Diện tích thực tế của thửa đất là
7
338,2m
2
trong đó 300m
2
đất ở trị giá 1.458.000.000 đồng; 38,2m
2
đất trồng cây
lâu năm trị giá 3.056.000 đồng và tài sản trên đất gồm 01 ngôi nhà mái bằng trị
giá 0 đồng, 01 cây bưởi trị giá 510.000 đồng. Do cụ S1 và cụ N có quan hệ hôn
nhân hợp pháp xác lập từ năm 1944 nên tài sản trên dù đăng ký tên cụ N nhưng
là tài sản chung của cụ N và cụ S1. Cụ X sống chung với cụ S1 từ năm 1975 trên
đất nhưng do quan hệ hôn nhân giữa cụ X và cụ S1 không hợp pháp nên cụ X
không có quyền sử dụng thửa đất trên.
Ngày 22/4/2008, cụ N lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất cho cụ S1. Hợp đồng có chữ ký, điểm chỉ của hai
cụ và chứng thực của UBND xã Đ, huyện T. Cụ N xác định việc chuyển quyền
sử dụng đất giữa cụ N và cụ Sáng lập trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa
dối nhưng mục đích chỉ để cho cụ S1 đứng tên trên GCNQSDĐ theo phong tục ở
địa phương. Tại thời điểm hai cụ lập hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, quy
định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định. Trên cơ sở hợp đồng nêu trên, ngày 10/10/2008 UBND huyện T
cấp GCNQSDĐ mang tên cụ S1. Cấp sơ thẩm xác định bằng hợp đồng ngày
22/4/2008, cụ N đã tặng cho cụ S1 toàn bộ tài sản của mình là phù hợp quy định
của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi cụ S1 chết, toàn bộ quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất là di sản của cụ S1. Kháng cáo của bà L và ý kiến của những
người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ N về nội dung này không có căn cứ chấp
nhận.
[2.3] Về phân chia di sản: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng di sản của
cụ S1, đã trích trả công sức bảo vệ, quản lý di sản cho cụ N, cụ X, ông B và chia
di sản của cụ S1 theo quy định của pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của cụ S1 là phù hợp quy định tại các Điều 609, 612, 613, 649, 650, 651,
652, 660 Bộ luật Dân sự. Do bà L được bà S, bà Đ1 và chị N1 tự nguyện tặng cho
phần di sản được hưởng; ông B được bà H, bà Bích T1 cho phần di sản được
hưởng cộng với phần công sức của ông B và cụ X; thực tế ông B đã quản lý một
nửa diện tích đất của cụ S1 từ năm 2010; các đương sự trong vụ án đều đã có nơi
ở ổn định, không có nhu cầu về chỗ ở; bà M chỉ được hưởng một xuất thừa kế của
cụ S1 và cụ N, diện tích đất bà M được hưởng không đủ điều kiện tách thửa theo
Quyết định số 158/2025/QĐ-UBND ngày 12/9/2025 của UBND thành phố H. Do
vậy, cấp sơ thẩm giao cho ông B và bà L mỗi người một phần quyền sử dụng đất
và buộc các đương sự trả giá trị di sản bà M được hưởng là phù hợp, đảm bảo việc
sử dụng đất ổn định và hiệu quả. Kháng cáo đề nghị được hưởng thừa kế bằng
hiện vật của bà M không có căn cứ chấp nhận.
Với các nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng
cáo của bà L và bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bà L và bà M kháng cáo không được chấp nhận
nhưng là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
8
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Đỗ Thị L và bà Đỗ Thị M.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng.
2. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Đỗ Thị M và bà Đỗ Thị L.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP.Hải Phòng;
- Các đương sự;
- TAND khu vực 13-Hải Phòng;
- THADS TP. Hải Phòng;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Hữu Hiệu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm