Bản án số 176/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 176/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 176/2026/HS-PT ngày 16/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 176/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trần Thanh T có mối quan hệ là bạn bè xã hội với chị Phạm Hiền Nhg (sinh năm 1996; nơi cư trú
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 176/2026/HS-PT Bản án số 176/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 176/2026/HS-PT Bản án số 176/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 176/2026/HS-PT
Ngày 16-6-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Giang;
Ông Nguyễn Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Th Na - Thư ký Toà án nhân dân thành ph Hi Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà:Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ny 16 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng,
tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sthụ số 154/2026/TLPT-HS,
ngày 07 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo Trần Thanh T; do có kháng cáo của bị cáo
Trần Thanh T đối với Bản án hình sự thẩm s76/2026/HS-ST, ngày 26 tháng 3
năm 2026, của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hải Phòng.
- B cáo: Trần Thanh T, sinh ngày 25/6/1997 ti Hải Phòng; số CCCD:
xxxxxxxxxxx, nơi cư trú: Sxx, T Đ T, phường A B, thành phố Hải Phòng; trình độ
văn hoá: Đại học; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam;
dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn Nh và bà Nguyễn Thị H; không
chồng, 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, kể từ ngày 26/8/2025; hiện tại ngoại; có mặt.
Bị hại: Chị Phạm Hiền Nhg, sinh năm 1996; nơi đăng ký thường trú: Số xxx,
Chợ H, phường L C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh T có mối quan hệ bạn bè xã hội với chị Phạm Hiền Nhg (sinh
m 1996; nơi trú: số xx, Chợ H, phường L C, thành phố Hải Phòng). Khoảng
09 gi00 phút, ngày 05/7/2025, T điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 15S1 -
028.15 đến nhà chị Nhg chơi; hai người nói chuyện ở tầng 2, sau đó cả hai rủ nhau
đi ra ngoài chơi. Chị Nhg đi xuống tầng 1 trước, còn T đi vệ sinh tầng 2. Khi thấy
phòng ngủ của chị Nhg không có ai trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp vàng
để lấy tiền chi tiêu nhân (do trước đó khoảng một tháng chị Nhg kể cho T
biết về việc cất giấu vàng trong tủ). T đi vào tủ gỗ đầu giường ngủ của ch
Nhg, dùng tay phải nâng nắp đậy của hộp màu đen in chữ Prada hình vuông,
2
kích thước (12x14x4,5)cm đ trong tủ gỗ đầu giường ngủ, lấy ra 02 (hai) miếng
kim loại màu vàng chữ SJC 9999, ch thước (50x86)mm và cất vào túi xách
đeo chéo màu đen đang đeo trên người rồi T đi xuống tầng 1 cùng chị Nhg đi chơi.
Sau đó, T đã bán 02 miếng kim loại màu vàng có chữ SJC 9999 cho chị Bùi Thu Th
(sinh năm 1980; nơi cư trú: Sxxxx, T Đ T , phường A B, thành phố Hải Phòng)
nhân viên bán hàng của Cửa hàng vàng Q H (địa chỉ: S00, đường C Đ, phường L
C, thành phố Hải Phòng) được số tiền 239.600.000 (Hai trăm ba mươi chín triệu sáu
trăm nghìn) đồng. T đã dùng số tiền này chuyển 106.000.000 (Một trăm linh sáu
triệu) đồng vào tài khoản nhân số: 0447041025895 tại Ngân hàng Bản Việt
chuyển số tiền 93.000.000 (Chín mươi ba triệu) đồng vào tài khoản số
19033256211013 tại Ngân hàng Techcombanhk; trả nợ cho mẹ đẻ (là Nguyễn
Thị H, sinh năm 1962; trú tại: Số xx, T Đ T, phường A B, thành phố Hải Phòng) số
tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng; trả nợ cho chị Tô Thị Hg (sinh năm 1997; trú tại:
Sxx, phương L 6, phường Đ i, thành phố Hải Phòng) số tiền 10.400.000 (Mười
triệu bốn trăm nghìn) đồng; số tiền còn lại T tiêu sài cá nhân. Đến ngày 08/7/2025,
chị Nhg kể cho T về việc mất trộm vàng và muốn tố giác đến quan Công an. T
lo ssự việc bị phát hiện nên đã dùng tiền trong tài khoản để mua 01 miếng vàng
loại SJC 9999 của chị Nguyễn Thùy D (sinh năm 2001; chỗ ở hiện nay: số xxx Đ
Nh, phường Đ L, thành phHải Phòng) nhân viên tại cửa ng vàng H Ph (địa
chỉ: Sxx, C Đ, phường G V, thành phố Hải Phòng) với g 120.600.000 (Một
trăm hai mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng, rồi dùng tài khoản facebook “Phạm
Linh” để nhờ người Shipper chuyển 01 miếng vàng loại SJC 9999 kèm theo 01
thư không điền tên để chuyển đến cho chị Nhg. Đến ngày 14/7/2025, chị Nhg đến
Công an phường Chân trình báo về việc mất trộm vàng giao nộp chiếc hộp
màu đen có in chữ Prada, kích thước (12x14x4,5)cm, là chiếc hộp chị Nhg đựng số
lượng vàng trước khi bị trộm cắp, để phục vụ điều tra.
Tại Kết luận định giá i sản số 50/KLĐG, ngày 08/8/2025 của Hội đồng định
giá trong Tố tụng hình sự UBND tnh phố Hải Phòng kết luận: 02 (hai) miếng kim
loại màu vàng tn mặt có chữ SJC 9999 kích thước khoảng (50x86)mm (trọng lượng
01ợng/miếng) giá 236.000.000 (hai trăm ba mươi sáu triệu) đồng.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự thẩm số 76/2026/HS-ST, ngày
26/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ đim
a khon 3 Điu 173; đim b, s khon 1, khon 2 Điu 51 Điu 38 B lut Hình
s: Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 07 (Bảy) năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời
hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Bản án còn tuyên vxử vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của
bị cáo bị hại theo quy định của pháp luật.
Ny 10/4/2026 bị cáo Trần Thanh T đơn kháng o xin giảm nhnh phạt.
Tại phiên tòa pc thm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kng o.
Đại din Viện Kiểmt phát biu quan đim giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm: Bản án thẩm xét xbị o Trần Thanh T về tội Trộm cắp i sản”, theo đim
a khon 3 Điu 173 của Bộ luật Hình sự căn cứ đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức
độ của hành vi phạm tội, đánh giá về tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự và nhân
3
thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 07 năm chính xác. Tuy nhiên tại giai đoạn
phúc thẩm cũng cần xem xét đánh giá thêm về điều kiện và hoàn cảnh của bị cáo
đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt của bị hại. vậy, đnghị Hội đồng xét xử xem
xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa Bản án sơ thẩm để giảmnh phạt cho
bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bcáo không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vtố tụng: Ny 26/3/2026a án nn n Khu vực 5 - Hải Phòng t xử
thẩm; đến ngày 10/4/2026 bị o Trần Thanh T có đơn kháng cáo vẫn trong thời
hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Tòa án cấp thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thanh T về tội
“Trộm cắp tài sản”, theo đim a khon 3 Điu 173 của Bộ luật Hình sự là đúng với
hành vi của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về tội danh
điều luật áp dụng đối với bị cáo, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ về hình phạt.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp thẩm đã căn cứ vào tính chất,
mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 07 (Bảy) năm tù.
[4] Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường xong toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại
bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Toà án cấp
thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo có Đơn đề nghị trình bày
về việc bị cáo nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo
nhiều khó khăn; là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ sinh năm 2022. Đơn đề nghị
trên của bị cáo đã được chính quyền địa phương xác nhận. Mặt khác, sau khi xét xử
thẩm, bhại (chị Phạm Hiền Nhg) đã tiếp tục nhiều lần có đơn đề nghị xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[6] Hội đồng xét xxét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự bị o không
phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình snào theo quy định tại khoản 1 Điều
52 Bộ luật Hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để áp dụng quy định
tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo cũng đủ
tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối
với hành vi phạm tội của bị cáo.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4
[8] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Thanh T không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bluật Tố tụng hình
sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T; sửa Bản án sơ thẩm.
1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 54 Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm
cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Trần Thanh T 04 (bốn) năm . Thời hạn chấp hành hình
tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lphí Tòa án; bcáo Trần Thanh
T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND Khu vực 5 - Hải Phòng;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
- PC 03 Công an thành phố Hải Phòng;
- Phòng THADS Khu vực 5 - Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- TAND Khu vực 5 - Hải Phòng;
- Phòng KTNV và THA;
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quang Kiên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 176/2026/HS-PT Bản án số 176/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 176/2026/HS-PT Bản án số 176/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất