Bản án số 92/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 92/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 92/2026/DS-PT ngày 22/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 92/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vương Thị C - Vương Thị H - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 92/2026/DS-PT Bản án số 92/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 92/2026/DS-PT Bản án số 92/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 92/2026/DS-PT
Ngày: 22-9-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất, chia tài sản thừa
kế và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dương; bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư k Ta án nhân dân
tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Ta án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 65/2026/TLPT-DS ngày 27 tháng 7 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, chia tài sản
thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 31/2026/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2026
của Ta án nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 74/2026/QĐ-PT ngày
24 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vương Thị C; CCCD số ************; địa chỉ: thôn X,
xã H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: ông Phạm Văn Q; địa chỉ
liên hệ: D L, phường N, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Bị đơn: Bà Vương Thị H; CCCD số ************; địa chỉ: Thôn T, xã
D, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Lê Viết K, sinh năm 1980;
địa chỉ: 2 khu phố G, T, phường T, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: C C,
phường T, thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q; địa chỉ: số A đường H, phường
Đ, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: đường H, xã D, tỉnh
Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Ông Vương Viết M, sinh năm 1963, CCCD số ************; địa chỉ:
thôn T, xã D, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
2
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Vương Viết M: ông Phạm Văn Q;
địa chỉ liên hệ: D L, phường N, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
+ Bà Vương Thị L, sinh năm 1960, CCCD số ************; địa chỉ: Xóm
F, xã A, tỉnh Nghệ An, ủy quyền cho bà Vương Thị C và có đơn đề nghị xử vắng
mặt. Bà C có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các ti liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như
sau:
Nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị N (1923 - 2021) và ông Vương Viết
L1 (1930 - 2014) sinh được 05 người con gồm: Vương Thị L2 (chết năm 2002,
không có con cái), Vương Thị L, Vương Viết M, Vương Thị H và Vương Thị C.
Năm 1997, bà N và ông L1 sống ly thân, các con sống với bà Nguyễn Thị N. Bà
N qua đời không để lại di chúc. Bố mẹ của bà N và ông L1 đều chết trước khi bà
N và ông L1 chết.
Sau khi bà N sống ly thân với ông L1 đã khai hoang, tạo lập được các tài
sản sau:
1. Thửa đất số 163, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.408 m². Địa chỉ thửa đất tại
xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (cũ), được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
năm 2014 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N. Nguồn gốc ở trên đất trước đất do ông
bà nội của bà C để lại. Bà Vương Thị C là người khai hoang thêm 3.395m². Các
anh chị em lần lượt lập gia đình và ở riêng. Đến thời điểm được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất chỉ có bà N là thành viên hộ gia đình duy nhất. Thửa đất
trên có trị giá: 194.735.000 đồng.
2. Thửa đất số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.125m², năm 2006 được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Nguyễn Thị N địa chỉ thửa
đất tại xứ Đồng Sốc L, thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (cũ). Nguồn gốc do
bà C, N khai hoang. Bà C cn khai hoang đất ngoài sổ đỏ là 3.506 m². Tháng 4
năm 2012, bà Vương Thị H cùng con về thăm mẹ rồi ở lại sinh sống cùng bà N
tại nhà bà N. Đây là ngôi nhà bà Vương Thị C đã tích góp xây dựng lên để mẹ ở
khi tuổi già đỡ vất vả khi bà C đi lấy chồng. Bà C nghĩ là chị em nên khi bà H từ
đảo về không có nhà ở thì anh em thống nhất cho bà H ở trong nhà cùng mẹ để dễ
bề chăm sóc.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất thổ cư gắn liền với tài sản, từ tháng
4 năm 2012 đến năm 2017 thì bà Vương Thị H đã tự  làm hồ sơ giả chữ k của
bà N trên các đơn từ, hợp đồng để được nhận tặng cho quyền sử dụng đất không
đúng quy định, trong lúc ba chị em cn lại trong nhà không biết, tại thời điểm này
bà N bị bệnh đãng trí, không nhận ra các con nên không thể k vào hợp đồng tặng
cho bà H 2 thửa đất nói trên.
Năm 2023 - Ban quản l Khu Công nghiệp tỉnh Q đã bồi thường cho bà
Vương Thị H số tiền 1.536.732.000 đồng do thu hồi thửa đất số 163, tờ bản đồ số
13, diện tích 2.408m² tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (Nhà nước thu hồi toàn
bộ giấy chứng nhận QSD đất số BQ 317822 mang tên bà Vương Thị H).
- Bà H được mua đất tái định cư thửa đất số 774, tờ bản đồ số 13, diện tích
500,1m2 tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có giấy chứng nhận quyền sử
3
dụng đất số DO 976521 do UBND huyện H cấp ngày 11/12/2024 mang tên bà
Vương Thị H) có trị giá 371.800.000 đồng trong số tiền 1.536.732.000 đồng bồi
thường nói trên.
Yêu cầu khởi kiện, đề nghị Ta án giải quyết những vấn đề sau:
1. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 22/6/2015, giữa
bà Nguyễn Thị N và bà Vương Thị H được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực
cùng ngày là vô hiệu.
2. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 14/8/2017, giữa
bà Nguyễn Thị N và bà Vương Thị H được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực
cùng ngày là vô hiệu.
3. Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 484094 mang tên
Vương Thị H, thửa số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.125m2 tại thôn T, xã H,
huyện H, tỉnh Quảng Trị.
4. Chia di sản thừa kế đối với các tài sản sau: thửa đất số 774, tờ bản đồ số
13, diện tích 500,1m2 tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DO 976521 do UBND huyện H cấp ngày 11/12/2024
mang tên bà Vương Thị H; thửa đất số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2125 m² tại
thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CK 484094 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 02/02/2018 cho bà
Vương Thị H; Số tiền 1.128.200.000 đồng cn lại từ khoản tiền bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi thửa đất số 163, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.408m² là di
sản do bà Nguyễn Thị N để lại.
Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Không nhất trí với
các yêu cầu khởi kiện phía nguyên đơn đưa ra. Nguyên đơn cho rằng bà Vương
Thị H tự  làm hồ sơ, giả chữ k của bà Nguyễn Thị N. Tuy nhiên, theo Điều 91
BLTTDS 2015, người khởi kiện có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Hồ sơ không có kết luận giám định chữ k, không có chứng cứ chứng minh giả
mạo hồ sơ, không có hồ sơ bệnh án hoặc tài liệu chứng minh bà N mất khả năng
nhận thức tại thời điểm xác lập giao dịch. Trong khi đó, các hợp đồng tặng cho
năm 2015 và 2017 đều được UBND xã H chứng thực; hồ sơ cn có đơn xác nhận
nhân thân, văn bản cam kết nhân thân và các tài liệu địa chính liên quan.
Tại các thời điểm lập hai bản hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà
Nguyễn Thị N và bà Vương Thị H thì bà Nguyễn Thị N hoàn toàn minh mẫn và
tự nguyện. Do thương bà H không có nhà cửa nhưng rất chăm lo cho mẹ nên cụ
bà Nguyễn Thị N đồng  tặng cho bà H đất để ổn định cuộc sống. Bà H và Bà N
đã cùng nhau đến UBND Xã H để lập hợp đồng. Cụ bà Nguyễn Thị N ký tên xác
nhận ngay trước mặt người chứng thực tại UBND Xã, chính tay bà N k tặng cho
quyền sử dụng đất cho Bà H nên Bà H mới đi làm thủ tục đăng k đứng tên trên
sổ.
Bà N tặng cho Bà H sau hơn 7 năm sau thì Bà N mới qua đời. Như vậy,
khẳng định Bà Nguyễn Thị N cho bà H việc lập văn bản tặng cho cũng như các
thủ tục đăng k đất đai của bà H hoàn toàn hợp pháp và đúng quy định pháp luật.
Về yêu cầu tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 484094,
thửa số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2125 m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã H,
huyện H, tỉnh Quảng Trị do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày
4
02/02/2018 cho bà Vương Thị H. Bị đơn không đồng bởi lẽ sau: Mục đích bà N
lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà H là vì mong muốn bà H có nơi
nương tựa, có tài sản để làm ăn nuôi gia đình. Hợp đồng tặng cho được lập lúc bà
N minh mẫn và vì đó là tài sản riêng của bà N tự tạo lập nên bà có quyền định
đoạt cho ai là hoàn toàn dựa trên  chí của bà N. Hợp đồng tặng cho thửa số 196,
tờ bản đồ số 12, diện tích 2125 m
2
do bà N tặng cho bà H là hợp pháp. Đó là cơ
sở pháp l để Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CK 484094, thửa số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2125 m²; địa
chỉ thửa đất: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị ngày 02/02/2018 cho bà
Vương Thị H.
Về yêu cầu chia di sản thừa kế của nguyên đơn, bị đơn không đồng  vì bà
Nguyễn Thị N đã thực hiện các thủ tục tặng cho quyền sử đất đối với bà Vương
Thị H đúng với quy định pháp luật. Sự việc xảy ra trước khi bà Nguyễn Thị N qua
đời và lúc đó tài sản đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà N nên bà N có toàn
quyền định đoạt, toàn quyền sử dụng cũng như hưởng dụng mọi hoa lợi và lợi tức
trên tài sản đó. Việc Bà Nguyễn Thị N cho tặng Bà H là hoàn toàn nằm trong
quyền của bà. Cơ quan chức năng đã xem xét kỹ lưỡng và thực hiện thủ tục cấp
sổ theo đúng quy định pháp luật cho bà Vương Thị H.
Ngoài ra, khi Bà Vương Thị H nhận được số tiền đền bù cho thửa số 163
tờ bản đồ 13 có địa chỉ Xã H, Huyện H, Tỉnh Quảng Trị với diện tích 2.408 m²,
xét thấy các anh chị em khác đã có đầy đủ nhà cửa, Bà H đã tự nguyện gửi cho bà
Vương Thị C số tiền 100.000.000 đồng nhằm giữ gìn ha khí, tình cảm trong gia
đình.
Từ những trình bày nêu trên bị đơn không đồng với các yêu cầu khởi kiện
của Nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Vương Viết M trình bày:
Năm 1993, ông Vương Viết M cùng gia đình vào quê nội thì được ông
Vương Viết L1 (ba ông M) cho miếng đất ngày trước ông bà ở làm vườn. Đến
năm 1998, bà N ở ngoài Bắc vào không có đất ở nên ông M đã dựng nhà tranh để
bà N và các em ở. Đến năm 2003, ông M làm đơn xin UBND xã xác nhận và xem
xét cấp sổ đỏ cho bà N thì đến ngày 12/3/2014 mới được cấp GCNQSDĐ tại thửa
đất số 163, tờ bản đồ số 13, diện tích 2.408m2. Năm 2015, bà Vương Thị H tự 
nhờ người quen biết để làm hồ sơ giả chữ k bà N để k toàn bộ hồ sơ chuyển
nhượng đất, trong khi các anh em khác không biết gì. Đến năm 2017, ông M đem
bà N về chăm sóc phụng dưỡng cho đến khi qua đời vào năm 2021. Do đó, ông
M cho rằng:
- Đất này là của ông bà nội để lại cho ba ông M khi cn sống, cũng là cho
ông M vì là cháu đích tôn trong gia đình. Đây là vừa quyền lợi cũng vừa là nghĩa
vụ để hương khói cho ông bà, cha mẹ về sau. Thời điểm cho trước khi bà N vào
Quảng Trị.
- Không có chữ k của các thành viên khác trong gia đình; chữ k ở hai hồ
sơ khác nhau và không phải là chữ k của bà N. Xét về đường nét và tốc độ của
chữ k rất mượt, đây là chữ k của người trẻ.
5
- Làm hồ sơ không có người thứ ba làm chứng, không có hồ sơ công chứng
và dấu vân tay. UBND xã đã xác nhận nhưng không xác thực, tìm hiểu kỹ.
Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của ông Vương Viết
M trình bày: Ông Vương Viết M thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Vương Thị C.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị L trình bày:
Bà Vương Thị L thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Vương
Thị C đưa ra. Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ những tài liệu, chứng cứ
thực tế và kết quả thu thập được, kính đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Tại Công văn số 1342/VPĐKĐĐ-PC ngày 16/12/2025 của Sở Nông nghiệp
và Môi trường tỉnh Q trình bày:
1. Quá trình cấp Giấy chứng nhận cho bà Vương Thị H tại thửa đất số 196
tờ bản đồ số 12, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã D, tỉnh Quảng Trị).
Ngày 27/10/2006, hộ bà Nguyễn Thị N được UBND huyện H cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AH 118639, số vào sổ H05907 tại
thửa đất số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2125 m² đất trồng cây hàng năm khác,
xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
Ngày 02/02/2018, Văn phng Đăng k đất đai thừa ủy quyền của Giám đốc
Sở T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất (Giấy chứng nhận) số phát hành CK 484094, số vào sổ CS00512,
thửa đất số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2125 m² đất trồng cây hàng năm khác,
xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị cho bà Vương Thị H do nhận tặng cho quyền sử
dụng đất theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số chứng thực 24 quyển số
01/2017(1)-SCT/HĐGD lập tại UBND xã H ngày 14/8/2017.
2. Ý kiến về yêu cầu khởi kiện nội dung hủy Giấy chứng nhận số phát hành
CK 484094: Văn phng Đăng k đất đai thừa ủy quyền của Giám đốc Sở T cấp
Giấy chứng nhận số CK 484094, số vào sổ CS00512, thửa đất số 196, tờ bản đồ
số 12, diện tích 2125 m² tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị cho bà Vương Thị H
là đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật.
Nay, bà Vương Thị C có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận này là không có cơ
sở. Vì vậy, đề nghị Ta án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị tuyên không chấp
nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận của nguyên đơn.
3. Ý kiến về tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và
tranh chấp di sản thừa kế:
Việc tranh chấp về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và phân chia di
sản thừa kế thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Ta án. Căn cứ kết quả xét
xử và căn cứ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao, Văn phng Đ sẽ thực
hiện các công việc tiếp theo theo quy định.
Bản án sơ thẩm số 31/2026/DS-ST ngày 11/6/2026 của TAND khu vực 6
– Quảng Trị quyết định:
Căn cứ các khoản 3, 5, 9 Điều 26; Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều
147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 116,
117, 119, 457, 459, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều
95, Điều 166; điểm a, khoản 3, Điều 167 và 188 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ
6
Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội; Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bà Vương Thị C về việc:
1. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 22/6/2015, giữa
bà Nguyễn Thị N và bà Vương Thị H được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực
cùng ngày là vô hiệu.
2. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 14/8/2017, giữa
bà Nguyễn Thị N và bà Vương Thị H được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực
cùng ngày là vô hiệu.
3. Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 484094 mang tên
Vương Thị H, thửa số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.125m2 tại thôn T, xã H,
huyện H, tỉnh Quảng Trị.
4. Đối với thửa đất số 774, tờ bản đồ số 13, diện tích 500,1m2 tại thôn T,
xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO
976521 do UBND huyện H cấp ngày 11/12/2024 mang tên bà Vương Thị H: Đề
nghị Ta án chia thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo tỷ
phần bằng nhau, mỗi người ¼, phần bà Vương Thị C được hưởng 125m2.
5. Đề nghị Ta án xác định số tiền 1.128.200.000 đồng cn lại từ khoản
tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi thửa đất số 163, tờ bản đồ số 13, diện
tích 2.408m² là di sản do bà Nguyễn Thị N để lại. Từ đó, chia thừa kế theo pháp
luật đối với số tiền này cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà
Nguyễn Thị N gồm bà Vương Thị L, ông Vương Viết M, bà Vương Thị H và bà
Vương Thị C, mỗi người được hưởng một phần bằng nhau. Theo đó, phần di sản
bà Vương Thị C được hưởng là số tiền 282.050.000 đồng.
6. Đối với thửa đất số 196, tờ bản đồ số 12, diện tích 2125 m² tại thôn T, xã
H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 484094
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 02/02/2018 cho bà Vương Thị
H: Theo Chứng thư thẩm định giá trong hồ sơ vụ án, thửa đất có giá trị
131.454.056 đồng. Trên cơ sở đó, phần di sản của mỗi người thừa kế được hưởng
tương ứng là 1/4 giá trị quyền sử dụng đất. Nguyên đơn đề nghị Ta án giao toàn
bộ quyền sử dụng thửa đất cho nguyên đơn quản l, sử dụng và buộc nguyên đơn
có nghĩa vụ hoàn trả bằng tiền giá trị tỷ phần thừa kế của các đồng thừa kế cn lại
theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm cn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 26/6/2026, nguyên đơn bà Vương Thị C có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm số 31/2026/DS-ST ngày 11/6/2026 đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm xem xét theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn
Tại phiên ta phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, kháng
cáo.
Bị đơn đề nghị Ta án không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Vương Viết M đề nghị Ta án chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu  kiến:
7
- Về thủ tục tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã
chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ
thẩm số 31/2026/DS-ST ngày 11/6/2026 của TAND khu vực 6 – Quảng Trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
ta và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên ta, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét các nội dung kháng cáo của nguyên đơn:
[1.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu hủy hai hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị N và bà Vương Thị H đối với hai thửa đất
số 196, tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (cũ) và
thửa đất số 163, tờ bản đồ 13, địa chỉ thửa đất tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị
(cũ) theo hai hợp đồng được lập ngày 22/6/2015 và hợp đồng được lập ngày
14/8/2017 với l do tại thời điểm xác lập hợp đồng, bà Nguyễn Thị N bị đãng trí,
không cn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, có hành vi giả mạo chữ k của
bà N trên các bản hợp đồng, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên ta phúc thẩm,
nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông M) đều thừa
nhận thửa đất 196,163 đều thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị N.
Do đó, bà N có quyền định đoạt hai thửa đất này theo quy định của Bộ luật Dân
sự và Luật Đất đai.
Hợp đồng tặng cho được lập thành văn bản, có chữ k của các bên. Các bên
cam đoan những thông tin về nhân thân, về thửa đất ghi trong hợp đồng là đúng
sự thật, thửa đất thuộc trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật. Việc giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa đối, không
bị ép buộc, thửa đất không bị tranh chấp và không bị kê biên thi hành án. Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 22/6/2015 và Hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất lập ngày 14/8/2017 giữa bà Nguyễn Thị N và bà Vương Thị H, được
Ủy ban nhân dân xã H chứng thực các nội dung: Bên tặng cho là Nguyễn Thị N
và bên nhận tặng cho là Vương Thị H. Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch đã
cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung của hợp đồng, giao dịch.
Tại thời điểm chứng thực, các bên tham gia hợp đồng, giao dịch minh mẫn, nhận
thức và làm chủ được hành vi của mình, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng
và đã k vào hợp đồng, giao dịch trước mặt chủ tịch.
Theo Công văn số 1342/VPĐKĐĐ-PC ngày 16/12/2025 của Sở Nông
nghiệp và Môi trường tỉnh Q xác định việc đăng k biến động và cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Thị H được thực hiện đúng trình tự, thủ
tục, đúng thẩm quyền và phù hợp quy định pháp luật.
Nguyên đơn không cung cấp được tài liệu y tế, kết luận giám định hoặc
chứng cứ hợp pháp nào chứng minh bà Nguyễn Thị N mất năng lực hành vi dân
sự hoặc không làm chủ được hành vi tại thời điểm giao kết hợp đồng. Nguyên đơn
cũng không cung cấp được các chứng cứ chứng minh giả mạo chữ k tại các hợp
đồng. Và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan không yêu cầu hủy nội dung chứng thực tại các hợp đồng tặng
8
cho quyền sử dụng đất giữa bà N và bà C. Vì vậy, nội dung chứng thực có giá trị
pháp l và không cần phải chứng minh.
[1.2] Xét nội dung kháng cáo về chia di sản thừa kế của bà N để lại, Hội
đồng xét xử thấy: Việc k, xác lập các Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được
bà Nguyễn Thị N thực hiện và hoàn tất thủ tục đăng k sang tên cho bà Vương
Thị H từ các năm 2015 và 2018. Trong khi đó, bà N chết năm 2021. Theo quy
định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản thừa kế bao gồm tài sản thuộc
sở hữu của người chết để lại tại thời điểm mở thừa kế. Do các tài sản trên không
cn thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bà Nguyễn Thị N tại thời điểm bà chết nên
không phải là di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị N để chia cho các đồng thừa kế.
Đối với khoản tiền bồi thường, hỗ trợ và lô đất tái định cư phát sinh từ việc
Nhà nước thu hồi đất đã đứng tên bà Vương Thị H, đây là quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất được Nhà nước công nhận nên không thuộc khối di
sản của bà Nguyễn Thị N.
Do đó, kháng cáo của nguyên đơn bà Vương Thị C là không có căn cứ và
không có cơ sở chấp nhận. Cần bác kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
[2]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy
định.
V các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn bà Vương Thị C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số
31/2026/DS-ST ngày 11/6/2026 của TAND khu vực 6 – Quảng Trị.
2. Về án phí: Bà Vương Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc
thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên
lai thu tiền số 0000062 ngày 03/7/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Trị.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 09/9/2026.
Nơi nhận:
- VKS ND tỉnh Quảng Trị;
- Ta án nhân dân khu vực 6 - QT;
- Phng THADS khu vực 6 - QT;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ, Ta Dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Từ Thị Hải Dương
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 92/2026/DS-PT Bản án số 92/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 92/2026/DS-PT Bản án số 92/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất