Bản án số 91/2025/DS-ST ngày 16/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 91/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 91/2025/DS-ST ngày 16/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 91/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T về việc yêu cầu buộc ông Võ Văn Lịch S cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Trương Thị P, ông Võ Chí C, bà Võ Thị T1 và bà Võ Thị Kiều D trả lại phần đất lấn chiếm có tổng diện tích 1.115,9m2, tọa lạc tại Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ (có đính kèm sơ đồ bản vẽ).
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
Bản án số: 91/2025/DS-ST
Ngày: 16-9-2025
V/v: Tranh chấp đòi lại quyền
sử dụng đất bị lấn chiếm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hồng
2. Ông Bùi Văn Thắng
- Thư phiên tòa: Thạch Thị Diễm Trinh Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân Khu vực 7 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 Cần Thơ tham gia phiên Tòa:
Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực
7 Cần Thơ t xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 221/2024/TLST-DS,
ngày 08 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”,
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm
2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1956; địa chỉ: Ấp A, xã V, thành phố
Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn: Ông Văn Lịch S; sinh năm 1977; địa chỉ: p A, xã V, thành phố
Cần Thơ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Trương Thị P, sinh năm: 1951; địa chỉ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ
(có mặt ngày 12/9/2025, vắng mặt ngày 16/9/2025).
2/ Ông Võ Chí C, sinh năm: 1975; địa chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ (có
mặt).
3/ Bà Võ Thị T1, sinh năm: 1979; địa chỉ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ (có
mặt ngày 12/9/2025, vắng mặt ngày 16/9/2025).
4/ Bà Thị Kiều D, sinh năm: 1981; địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ
(có mặt ngày 12/9/2025, vắng mặt ngày 16/9/2025).
2
5/ Ông Ngô Văn C1, sinh năm: 1984; địa chỉ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ
(có mặt ngày 12/9/2025, vắng mặt ngày 16/9/2025).
6/ Anh Phát Đ, sinh năm: 1997; địa chỉ: Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ
(có mặt).
- Người làm chứng: Ông Văn V, sinh năm: 1927; địa chỉ: Ấp A, V, thành
phố Cần Thơ (có mặt ngày 12/9/2025, vắng mặt ngày 16/9/2025).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 01-11-2024, đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện
ngày 07-8-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Văn T trình
bày:
Ông T phần đất ruộng diện tích 13.560m
2
, thuộc Thửa đất 259 400m
2
thuộc Thửa đất 259A, cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Ấp A, V, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng (nay là Ấp A, V, thành phố Cần Thơ) đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất vào năm 1994, nguồn gốc đất được cha mẹ cho tặng; giáp ranh thửa
đất của ông Võ Minh T2 (là anh ruột của ông T) cũng đất của cha, mcho tặng.
Năm 2008, ông T2 hỏi đào đường nước qua đất của ông T ngang khoảng 2,5m, dài
36m nên ông T đồng ý cho đi nhờ. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông T đi lao động
ở Bình Dương để kiếm thu nhập từ năm 2013 cho đến năm 2021 trở về thì phát hiện
ông T2 đã ban bờ ranh đất lấn sang phần đất của ông T ngang đầu trên 0,5m, ngang
đầu dưới khoảng 2,5m, chiều dài 414,5m. Ông T đã yêu cầu chính quyền địa phương
hòa giải để ông T2 trả đất lấn chiếm nhưng không thành. Tháng 5-2024, ông T2 chết
thì phần đất ruộng do ông Văn Lịch S là con ông T2 tiếp tục canh tác, ông T đã
trực tiếp thỏa thuận với ông S, đồng thời yêu cầu Ủy ban nhân dân xã H để ông S trả
đất lấn chiếm nhưng vẫn không thành.
Do vậy, ông Võ Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Võ Văn
Lịch S cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Trương Thị P, ông
Võ Chí C, bà Võ Thị T1Võ Thị Kiều D trả lại phần đất lấn chiếm theo đo đạc
thực tế tổng diện tích 1.115,9m
2
tọa lạc tại Ấp A, V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng
(nay là Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ).
* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 19-5-2025 trong quá trình giải quyết vụ án,
bị đơn ông Võ Văn Lịch S trình bày:
Phần đất ông S đang sử dụng của ông Minh T2 được ông Võ Văn V tặng
cho. Tại thời điểm cho đất, cụ V cho ông Văn T phần đất ngang 12 tầm (loại
tầm 3m), phần đất còn lại giáp K thủy lợi thì cụ V cho ông T2, các bên đã đo đạc và
đăng ký quyền sử dụng n định. Sau khi ông T2 chết, ông S đại diện cho gia đình tiếp
tục sử dụng ổn định. Việc tranh chấp ranh đất đã được Ban nhân dân ấp hòa giải và
ông T cũng thống nhất là phần đất ngang 12 tầm (tương đương 36m), nhưng khi tiến
hành đo đạc cặm ranh thì ông T lại cho rằng còn thiếu 0,5m nên hai bên tiếp tục tranh
chấp yêu cầu y ban nhân dân H nhưng không thành. Do vậy, đối với yêu
cầu khởi kiện của ông T thì ông Võ Văn Lịch S không đồng ý.
3
* Tại các Biên bản ghi lời khai cùng ngày 27-8-2025 trong quá trình giải
quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị P, ông
Chí C, bà Võ Thị T1, ông Ngô Văn C1 và anh Võ Phát Đ trình bày:
Về nguồn gốc đất giữa hai bên của cVăn V cho ông Minh T2
ông Võ Văn T từ trước năm 1990. Khi đó, cụ V cho ông T phần đất ngang là 12 tầm
(tương đương 36m), phần đất còn lại giáp K thủy lợi là cho ông T2, các bên đã đo đạc
đăng quyền sử dụng ổn định. Khi ông T2 chết, phần đất để lại cho vợ các
con gồm Trương Thị P, ông Chí C, Thị T1, Thị Kiều D ông
Võ Văn Lịch S thừa kế nhưng do ông Võ Văn Lịch S đại diện gia đình sử dụng. Việc
tranh chấp ranh đất đã được Ban nhân dân ấp hòa giải và ông T cũng thống nhất phần
đất ngang 12 tầm (tương đương 36m), nhưng khi tiến hành đo đạc cặm ranh thì ông
T cho rằng còn thiếu 0,5m nên hai bên tiếp tục tranh chấp cho đến nay. Do vậy, những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với ý kiến của bị đơn ông Võ Văn
Lịch S là không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T trình bày: Toàn bộ phần đất của nguyên đơn
và phần đất của bị đơn đều là do cụ V tặng cho, mặc dù đất của của bên đã được cấp
quyền sử dụng nhưng diện tích thực tế sử dụng của cả hai đều lớn hơn diện tích được
cấp. Trong quá trình sử dụng, nguyên đơn có cho cha của bị đơn là ông Võ Minh T2
đào đường mương ớc ngang khoảng 1,5m dài khoảng 36m, nhưng ông T2 đã lợi
dụng việc ông T không địa phương để tự ý ban bờ ranh lấn chiếm đất. Từ đó,
ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Văn Lịch S cùng những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Trương Thị P, ông Võ Chí C, bà Thị T1
Thị Kiều D trả lại phần đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế tổng diện tích
1.115,9m
2
, tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ấp A, xã V, thành
phố Cần Thơ).
Bị đơn ông S trình bày: Phần đất trước đây cụ V đã cho nguyên đơn ngang mỗi
đầu 12 tầm (tương đương 36m) và khi hòa giải cơ sở ông T cũng thống nhất; nếu tại
phiên tòa ông T đồng ý phần đất ngang mỗi đầu 12 tầm (tương đương 36m) thì bị đơn
thống nhất đo đạc đủ mi đầu 36m cho ông T để ổn định ranh đất về sau; ngược lại
ông T không thống nhất mỗi đầu 12 tầm (tương đương 36m) thì ông S không đồng ý
toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C trình B: Phần đất các bên đều
được cụ V cho và tại phiên tòa cụ V cũng đã xác định cho ông T phần đất ngang mỗi
đầu 12 tầm (tương đương 36m); ngược lại ông T trình bày không biết diện tích đất
cũng không biết cụ V cho bao nhiêu mà cho rằng ông T2 lấn ranh là không có cơ sở.
Do đó, ông thống nhất ý kiến của ông S là nếu ông T đồng ý phần đất ngang mỗi đầu
12 tầm (tương đương 36m) tthống nhất đo đạc đđủ mỗi đầu 36m cho ông T để ổn
định ranh đất, ngược lại thì không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị P, bà Võ Thị T1,
Thị Kiều D, ông NVăn C1 anh Võ Phát Đ trình bày thống nhất với ý kiến
của ông S nếu ông T đồng ý phần đất ngang mỗi đầu 12 tầm (tương đương 36m)
thì thống nhất đo đạc đủ mỗi đầu 36m cho ông T để ổn định ranh đất, ngược lại thì
không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện..
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký từ khi thụ vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng,
đầy đủ theo quy định pháp luật tố tụng. Các đương sự kể tkhi thụ vụ án chấp hành
nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét về nguồn gốc đất của các bên, tại phiên
tòa các đương sự đều thống nhất nguồn gốc đất của các bên là do cụ Văn V khai
phá và tặng cho từ năm 1990, sau đó đăng ký và được cấp quyền sử dụng ổn định kể
từ thời điểm cho đất đến nay mà không có thỏa thuận cặm ranh cụ thể. Nguyên đơn
ông T cho rằng cha của ông S ông Minh T2 khi còn sống lợi dụng việc ông T
không ở địa phương đã ban bờ ranh để lấn chiếm phần đất có tổng diện tích thực
đo 1.115,9m
2
. Đối chiếu quyền sử dụng đất của ông T được cấp tại các Thửa đất 259
259A, tổng diện tích 13.960m
2
, ông T2 được cấp quyền sử dụng đất tại các
Thửa đất 260 261 tổng diện tích 15.035m
2
so với diện ch đất các bên đang
quản sử dụng theo đo đạc thực tế thì phần đất do ông T đang sử dụng là thừa
943.50m
2
; phần đất ông S đại diện cho các hàng thừa kế của ông T2 đang sử dụng là
thừa 433,50m
2
. Tại phiên tòa ông T trình bày không xác định được cụ V cho diện tích
đất bao nhiêu, nhưng cụ V xác định cho ông T phần đất ngang 12 tầm (tương đương
36m). Mặt khác, theo kết quả xác minh đối với bà Thị N xác định việc ông V trình
bày cho đất đúng sự thật, bà N cũng là người sử dụng đất giáp ranh với đất ông T
ông T2 nên biết bờ ruộng làm ranh giữa đất ông T ông S vẫn giữ nguyên hiện
trạng cũ, quá trình sử dụng đất ông T2 không ban bờ lấn đất; theo kết quả xác minh
đối với ông Võ Văn T3 con ở chung nhà và cùng ông T sử dụng phần đất của ông
T từ lúc 15 tuổi cho đến khi ông T đi thành phố thì ông T3 là người trực tiếp sử dụng
đất của ông T, trong thời gian ông T3 canh tác đất thì các bên đều thống nhất sử dụng
đúng ranh đất theo bờ ranh do ông T ông T2 xác định từ trước, ông T2 và ông S
không có lấn chiếm đất. Ngoài ra, tại phiên tòa ông T cho rằng có cho ông T2 ợn
phần đất ngang 1,5m đào làm đường nước sau đó ban bờ mương để chiếm đất nhưng
ông T không có chứng cứ chứng minh. Từ đó, nguyên đơn ông T yêu cầu bị đơn ông
S những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan P, bà T1, ông C bà D trả lại
phần đất lấn chiếm 1.115,9m
2
là chưa có cơ sở. Căn cứ vào Điếu 26 và Điều 236 của
Luật Đất đai năm 2024; Điều 166 của Bộ luật Dân snăm 2015 đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về chi phí tố tụng
ông T phải chịu do yêu cầu không được chấp nhận; về án phí sơ thẩm bị đơn ông S
không phải chịu, nguyên đơn ông T được miễn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng, nguyên đơn ông T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông S cùng
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồmP, ông C, bà T1 và bà D trả lại
quyền sử dụng đất bị lấn chiếm nên quan hệ pháp luật xác định tranh chấp đòi lại
5
quyền sử dụng đất lấn chiếm. Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ
thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn ông S đề nghị bổ
sung người làm chứng cVõ Văn V tham gia phiên tòa cụ V người đã cho đất
các bên nên biết rõ phần đất tranh chấp. Xét thấy, cụ V mặt tại phiên tòa và đồng
ý tham gia với cách người làm chứng nên việc bị đơn yêu cầu bổ sung người làm
chứng tham gia tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[2] Xét phạm vi yêu cầu khởi kiện: Theo đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 06-
6-2025, các đương sự tự chỉ ranh đất để cán bộ Chi nhánh Văn phòng Đ1 (Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai huyện T cũ) thực hiện đo vẽ phần đất tranh chấp tổng diện
tích 1.115,9m
2
, đất tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ấp A, xã
V, thành phố Cần Thơ), có tứ cận: Hướng Đông giáp với phần đất do Võ Văn Lịch S
đang quản lý sử dụng không tranh chấp; Hướng Tây giáp phần đất do Văn T
đang quản s dụng không tranh chấp; Hướng Nam giáp phần đất do Văn
Lịch S đang quản sử dụng không tranh chấp. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T
chỉ yêu cầu buộc bị đơn ông S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải
trả phần đất lấn chiếm tổng diện tích 1.115,9m
2
, đất tọa lạc tại Ấp A, xã V, huyện
T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ). Do vậy, Hội đồng xét xử
chỉ xem xét trong phạm vi phần đất tranh chấp tổng diện tích 1.115,9m
2
, tọa lạc tại
Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ).
[3] Xét về nguồn gốc đất của các bên, cũng nphần đất tranh chấp: Trong quá
trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các đương sự đều thống nhất nguồn gốc đất của
các bên là do cụ Văn V khai phá tặng cho từ năm 1990, sau đó đăng được
cấp quyền sử dụng ổn định kể từ thời điểm cho đất đến nay mà không thỏa thuận
cặm ranh cụ thể, đồng thời, thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ do các
bên tự chỉ ranh xác định phần đất tranh chấp tổng diện tích thực đo 1.115,9m
2
. Đây
là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Ttụng
dân sự.
[4] Về nội dung vụ án, ông T cho rằng cha của ông S ông Minh T2 khi
còn sống lợi dụng việc ông T không có ở địa phương đã ban bờ mương nước mà ông
T cho ông T2 mượn bờ ranh để lấn chiếm phần đất tổng diện tích thực đo
1.115,9m
2
; ngược lại ông S những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng
từ khi được cho đất và cấp quyền sử dụng thì ông T2 và ông S đều sử dụng đất đúng
ranh theo đo đạc thực tế không có lấn chiếm đất của ông T. Xét thấy, ông Võ Văn T
được cấp quyền sdụng đất tại các Thửa đất 259 259A, tổng diện tích
13.960m
2
, mc đích sử dụng 2L; đối với ông Minh T2 được cấp quyền sử dụng
đất tại các Thửa đất 260 261 có tổng diện tích 15.035m
2
, mục đích sdụng T
2L. Đối chiếu với diện tích đất các bên đang quản lý sử dụng theo đo đạc thực tế thì
phần đất do ông T đang sử dụng không tranh chấp tổng diện tích 14.903,50m
2
là thừa 943.50m
2
; phần đất do ông S đại diện cho các hàng thừa kế của ông Võ Minh
T2 đang sử dụng không tranh chấp tổng diện tích 15.468,50m
2
thừa
433,50m
2
. Như vậy, phần đất thực tế do các bên quản sử dụng đều thừa so với phần
diện tích đất được cấp, nguyên nhân do thời điểm cấp quyền sử dụng chỉ căn cứ trên
6
khung ảnh, không đo đạc thực tế hiện trạng sdụng đất của các n bao gồm
một phần bờ đê bị lắp.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của ông T, sau khi xem xét nguồn gốc quá trình
sử dụng đất của các bên đều thừa nhận đất được cụ Văn V tặng cho, nhưng tại
phiên tòa ông T trình bày không xác định được cụ V cho diện tích đất bao nhiêu, trong
khi đó bị đơn ông S xác định được là cụ V cho ông T phần đất ngang 12 tầm (tương
đương 36m) và cụ V cũng xác định cho ông T phần đất ngang 12 tầm (tương đương
36m), đồng thời, trong quá trình hòa giải tranh chấp tại sở cũng như trong quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn ông T cũng thừa nhận việc cụ V cho đất được ông T2
đo đạc phần đất cho số đo chiều ngang 12 tầm (tương đương 36m) ông không
có ý kiến. Từ đó có cơ sở xác định phần đất của ông T được cụ V cho có số đo chiều
ngang là 12 tầm (tương đương 36m) và khi cho đất thì các bên đã thống nhất đo đạc
đắp bờ ruộng để làm ranh.
[6] Đối chiếu hiện trạng phần đất không tranh chấp của ông T với số đo chiều
ngang được cho tại cạnh Hướng N số đo 34,76m là thiếu 1,24m, nhưng tại cạnh
hướng Bắc có số đo là 7,72 + 21,13 + 8,11 = 36,96 là thừa 0,96m. Mặt khác, Tòa án
đã tiến hành xác minh đối với Võ Thị N xác định việc ông V trình bày cho đất là
đúng sự thật, đồng thời bà cũng là người sử dụng đất giáp ranh với đất ông T và ông
T2 nên bà thấy bờ ruộng làm ranh giữa đất ông T và ông S vẫn giữ nguyên hiện trạng
cũ, quá trình sử dụng đất ông T2 không ban bờ lấn đất, sau khi ông T2 chết thì ông
S tiếp tục sử dụng như hiện trạng không có ban bờ; đồng thời, tiến hành xác minh đối
với ông Võ Văn T3 xác định là con ở chung nhà và cùng ông T sử dụng phần đất của
ông T từ lúc 15 tuổi cho đến khi ông T đi thành phố thì ông là người trực tiếp sử dụng
đất của ông T, trong thời gian ông T3 canh tác đất thì các bên đều thống nhất sử dụng
đúng ranh đất theo bờ ranh do ông T ông T2 xác định từ trước, ông T2 và ông S
không có lấn chiếm đất nên giữa các bên không có tranh chấp. Như vậy, quá trình sử
dụng đất các bên chỉ quản lý sử dụng đất theo thực tế khi cho đất ban đầu mà không
thực hiện đo đạc diện tích để cặm ranh cụ thể giữa các thửa đất. Trong quá trình giải
quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa ông T cho rằng cho ông T2 mượn phần đất
ngang 1,5m đào làm đường nước, nhưng phía bị đơn ông S những người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan P, T1, ông C và D đều không thừa nhận việc mượn
đất, đồng thời, ông T cũng không có chứng cứ nào khác để chứng minh việc ông T2
ban bờ mương và bờ ranh để lấn chiếm đất. Từ đó, nguyên đơn ông T yêu cầu bị đơn
Sử những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan P, T1, ông C và bà D trả
lại phần đất lấn chiếm 1.115,9m
2
là chưa sở nên Hội đồng xét xử không chấp
nhận.
[7] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án đã chi trả cho việc xem
xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản tổng số tiền 26.249.515 đồng. Do yêu cầu
khởi kiện của ông T không được chấp nhận. Căn cứ vào Điều 157 Điều 165 của
Bộ luật Ttụng dân sự, ông T phải chịu toàn bộ chi pxem xét, thẩm định tại ch
định giá tài sản trong quá trình giải quyết vụ án.
[8] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông T không được chấp nhận
nên ông T phải chịu án phí thẩm, nhưng ông T người cao tuổi đơn xin
7
miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí tòa
án, ông T được miễn án phí sơ thẩm.
[9] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7
Cần Thơ phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T là có căn cứ nên Hội đồng xét xchấp
nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39;
Điều 92; Điều 157, Điều 165; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ vào Điều 26 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ các Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12
của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Văn T về việc yêu
cầu buộc ông Văn Lịch S cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm
Trương Thị P, ông Võ Chí C, bà Thị T1 và bà Thị Kiều D trả lại phần đất
lấn chiếm tổng diện tích 1.115,9m
2
, tọa lạc tại Ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ (có
đính kèm sơ đồ bản vẽ).
2. Về chi phí tố tụng: Ông Văn T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ và định giá tài sản 26.249.515 đồng (Hai mươi sáu triệu, hai trăm bốn mươi chín
nghìn, năm trăm mười lăm đồng), nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo
các Phiếu thu số 018 GD ngày 24-02-2025 và 084 GĐ ngày 17-6-2025, ông n
T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
3. Về án phí sơ thẩm: Ông Văn Lịch S không phải chịu án phí dân sự
thẩm; ông Võ Văn T được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn những người có quyền lợi, nghĩa vliên quan mặt
tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên
án; nhng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản
án trong thời 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ktừ ngày bản án được tống
đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND Khu vực 7 – Cần Thơ;
- TAND thành phố Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Lưu: HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Minh Luân
8
Tải về
Bản án số 91/2025/DS-ST Bản án số 91/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 91/2025/DS-ST Bản án số 91/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất