Bản án số 902/2026/HS-PT ngày 25/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 902/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 902/2026/HS-PT ngày 25/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 902/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Võ Tấn L - tội Trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 902/2026/HS-PT Bản án số 902/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 902/2026/HS-PT Bản án số 902/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 902/2026/HS-PT
Ngày 25-9-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức ;
Ông Nguyễn Hữu Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:
804/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Võ Tấn L do có
kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 230/2026/HS-ST ngày
07 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí
Minh.
Bị cáo có kháng cáo: Võ Tấn L sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí
Minh; nơi cư trú: Khu phố A, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:
không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L1 và bà Trần Thị S; bị cáo chưa
có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 02 tháng 02 năm
2026 cho đến nay, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 bị hại; 03 nguời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án
không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
2
Võ Tấn L là đối tượng không có việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài nên
nảy sinh ý định trộm cắp tài sản từ ngày 22/01/2026 đến ngày 23/01/2026, L đã
thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản cụ thể như sau:
Vụ 1: Khoảng 16 giờ ngày 22/01/2026, L đặt ứng dụng G đi từ phường C
đến khu vực chợ T1, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản trộm cắp. Đến khu
vực thuộc Khu phố U, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, L phát hiện 01 xe
mô tô biển số 71B2 -826.20 nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn đỏ đen của ông
Trần Thế V (sinh năm 1976; HKTT: Khu phố U, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh) đang dựng trên vỉa hè có cắm sẵn chìa khóa. Lợi dụng không có ai trông
coi, L bật chìa khóa điều khiển xe mô tô đến khu vực vòng xoay K thuộc
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này, L liên hệ zalo với Phạm L2 (chưa
rõ nhân thân lai lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội để bán xe mô tô trên với giá
8.000.000 đồng. L2 đồng ý và hẹn giao xe mô tô tại đường B thuộc tổ B, khu
phố K, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh thanh toán bằng tiền mặt. Số tiền
trên Lượng tiêu xài hết. Sau khi phát hiện mất xe mô tô, ông V đến Công an
phường trình báo sự việc.
Vụ 2: Khoảng 18 giờ cùng ngày, L đặt ứng dụng G1 đi từ chợ T2 thuộc
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đến chợ A thuộc phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Hồng H (sinh
năm 1979; HKTT: ấp P, xã C, tỉnh An Giang) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu
Honda Vision biển số 67H1-321.09 chở bạn từ nhà trọ B thuộc tổ G, khu phố K,
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh đến tiệm C thuộc khu phố T, phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh để chuyển tiền. Khi đến nơi, chị H dựng xe trên vỉa hè
sát mép đường phía trước tiệm C, trên xe cắm sẵn chìa khóa và đi vào trong thực
hiện giao dịch. Lúc này, L phát hiện xe mô tô có cắm sẵn chìa khóa, không có
người trông coi nên đến nổ máy và điều khiển xe mô tô đi đến gần khu vực P thì
kiểm tra bên trong cốp xe có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy mua bán
xe. Lượng sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 Promax gắn sim 0832996994
chụp và đăng bán xe mô tô trên trong hội nhóm trên Facebook “Mua bán xe máy
cũ T, Bình Dương” với giá 12.000.000 đồng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Bùi
Minh H1 (sinh năm 1993; HKTT: TDP C, phường H, Thành phố Hải Phòng)
thấy thông tin đăng bán xe nên kết bạn zalo và thỏa thuận mua xe với giá
8.900.000 đồng và hẹn giao xe tại cửa hàng xe máy Hằng N (địa chỉ: DA10
KDC V, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Khoảng 22 giờ cùng ngày, L điều
khiển xe mô tô đến điểm hẹn và nói với H1 là xe của dì L đứng tên. H1 thấy có
giấy chứng nhận đăng ký và giấy mua bán xe nên đồng ý mua với giá 8.900.000
đồng và lập hợp đồng mua bán xe với L. L nhận tiền và đón G về nhà tại
3
phường C để ngủ và tiêu xài hết số tiền trên. H1 tiếp tục bán xe trên cho ông
Phạm Trọng H2 (sinh năm 1970; HKTT: Tổ 41 Cụm G, phường G, thành phố
Hải Phòng) là cậu ruột vợ của H1 với giá 12.000.000 đồng. Đến ngày
01/02/2026, chị H đến công an phường L trình báo sự việc.
Vụ 3: Khoảng 16 giờ ngày 23/01/2026, L tiếp tục đặt ứng dụng G đi từ
phường C đến khu vực phường T để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến quán C1 trên
đường V thuộc khu phố K, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Lượng phát
hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vairo biển số 61E1-684.80 của ông Lương
Nguyễn Ngọc H3 (sinh năm 1993; HKTT: Khu phố T, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh) đang dựng trên vỉa hè, trước quán C1 có cắm sẵn chìa khóa. Lợi dụng
không có ai trông coi, L bật chìa khóa điều khiển xe mô tô đến khu vực vòng
xoay K và kiểm tra bên trong xe có giấy tờ đầy đủ. Lúc này, L liên hệ với Đoàn
T (chưa rõ nhân thân lai lịch) để bán xe mô tô trên với giá 17.500.000 đồng. T
đồng ý và hẹn giao xe tại khu vực chợ A, phường L, tuy nhiên ngày 25/01/2026,
T liên hệ với L trả lại xe mô tô trên do không bán được. Lúc này, L liên hệ zalo
với Phạm L2 (chưa rõ nhân thân lai lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội để bán xe
mô tô trên với giá 11.000.000 đồng. L2 đồng ý và hẹn giao xe mô tô tại khu vực
đoạn đường số 23 thuộc khu công nghiệp S thuộc phường D, Thành phố Hồ Chí
Minh thanh toán bằng tiền mặt. Số tiền trên Lượng tiêu xài hết. Sau khi phát
hiện mất xe mô tô, ông H3 đến Công an phường trình báo sự việc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 230/2026/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết
định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2025), xử phạt bị cáo Võ Tấn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm
cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/02/2026.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ
nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 14/8/2026, bị cáo Võ Tấn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt; kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật
định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của
pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự nào mới; nhận thấy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm
4
áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số:
230/2026/HS-ST ngày 07/8/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 18 - Thành phố
Hồ Chí Minh.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm được trở về chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên
đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại và các chứng cứ tài
liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của kiểm sát viên, có cơ sở xác định
như sau: trong khoảng thời gian từ ngày 22/01/2026 đến ngày 23/01/2026 tại các
phường T, phường T và phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Tấn L có hành
vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 71B2 -826.20 nhãn hiệu Honda số loại
Airblade màu sơn đỏ đen của ông Trần Thế V; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision,
màu sơn vàng biển số 67H1-321.09 của bà Nguyễn Thị Hồng H; 01 xe mô tô
hiệu Honda, số loại Vairo 150 biển số xe 61E1-684.80, màu sơn trắng đen của
ông Lương Nguyễn Ngọc H3 để bán kiếm tiền tiêu xài.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2026 của Hội
đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân
phường T, kết luận: 01 xe mô tô biển số 71B2 -826.20 nhãn hiệu Honda số loại
Airblade màu sơn đỏ đen mua vào năm 2016 trị giá 14.130.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 05/02/2026 của Hội
đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân phường L, kết luận: 01 xe
mô tô hiệu Honda Vision, màu sơn vàng biển số 67H1-321.09 đã qua sử dụng trị
giá 16.666.666 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2026 của Hội
đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân phường T, kết luận: 01 xe
mô tô hiệu Honda, số loại Vairo 150, biển số xe 61E1-684.80, màu sơn trắng
đen trị giá 54.667.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là
85.463.666 (tám mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm sáu mươi
sáu) đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo L về tội “Trộm cắp tài sản”;
theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung
5
năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của
pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền
sở hữu hợp pháp về tài sản của người dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật
tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách
nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật. Về
nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ
tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt; tại cấp
phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
nào mới; Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; Tòa án cấp sơ
thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo;
căn cứ giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và áp dụng mức hình phạt 02 (hai)
năm 03 (ba) tháng tù đối với bị cáo là không nặng. Do đó, kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt là không có cơ sở để xem xét.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo không được
chấp nhận nên bị cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015;
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Võ Tấn L, giữ nguyên Bản án
hình sự sơ thẩm số: 230/2026/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2025) xử phạt bị cáo Võ Tấn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm
cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/02/2026.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Võ Tấn L phải chịu 200.000 (hai
trăm nghìn) đồng.
6
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1);
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
- Tòa án nhân dân khu vực 18 – Thành phố
Hồ Chí Minh (03);
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 – Thành
phố Hồ Chí Minh;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18 -
Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng PV06 – Công an TP. Hồ Chí Minh;
- Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, 20.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Văn Lộc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 902/2026/HS-PT Bản án số 902/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 902/2026/HS-PT Bản án số 902/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất